Bài 4. EVFTA YÊU CẦU TỪ KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI NÔNG SẢN XUẤT KHẨU VÀO EU

Bài 4. EVFTA - YÊU CẦU TỪ KHÁCH HÀNG  ĐỐI VỚI NÔNG SẢN XUẤT KHẨU VÀO EU
BBT: Xu hướng tiêu dùng của EU, nhất là các nước Bắc Âu, Tây Âu là người tiêu dùng yêu cầu ngày càng cao về ATTP, bảo vệ môi trường, thương mại công bằng, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, phát triển bền vững….( xem Bài 2). Vì vậy, các nhà nhập khẩu, hệ thống siêu thị, tổ chức phi chính phủ, hội người tiêu dùng… xây dựng hoặc chấp nhận các tiêu chuẩn quốc tế có yêu cầu cao hơn về dư lượng thuốc BVTV hoặc các bộ tiêu chí chặt chẽ hơn trong quá trình sản xuất, sơ chế, chế biến, kinh doanh để sản phẩm không chỉ chất lượng, ATTP mà còn đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, công bằng cho người lao động, bảo vệ trẻ em…vừa phù hợp các quy định chung của EU, vừa thỏa mãn nhu cầu của nhóm người tiêu dùng có yêu cầu cao hơn mặt bằng chung và cũng sẵn sàng trả giá cao hơn. Nên trong nhiều trường hợp, nhà nhập khẩu yêu cầu sản phẩm phải được chứng nhận phù hợp với 1 hoặc một số tiêu chuẩn đó. Như vậy, mặc dù EU cũng như trong EVFTA không quy định phải sản xuất theo tiêu chuẩn nào, nhưng ở đây nhà nhập khẩu mới là người quyết định. (Ví như tại Việt Nam, nhiều siêu thị yêu cầu rau, quả phải có chứng nhận VietGAP, mặc dù nhà nước không bắt buộc mà chỉ khuyến khích sản xuất theo VietGAP). 

Bài 4. EVFTA - YÊU CẦU TỪ KHÁCH HÀNG

ĐỐI VỚI NÔNG SẢN XUẤT KHẨU VÀO EU

 

           Tại Bài thứ 3 - Các quy định của khi xuất khẩu nông sản vào EU, chúng tôi đã tóm tắt các quy định, quy chuẩn do Ủy ban châu Âu ban hành liên quan đến thực phẩm nói chung, trong đó có nông sản nhập khẩu vào EU. Đó là các mặt bằng chung, tối thiểu áp dụng cho toàn EU. Tuy nhiên, EU gồm 27 quốc gia, 500 triệu người, mức độ phát triển, đời sống, thu nhập không đồng đều. Tại bài số 2, chúng tôi cũng nêu xu hướng tiêu dùng rau quả, chè, mật ong tại EU, cho thấy xu hướng đang nổi lên là yêu cầu sản phẩm có dư lượng thuốc BVTV thấp, sản phẩm phải được chứng nhận bền vững, thương mại công bằng, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp… Xu hướng tiêu dùng đó ngày càng tăng lên, đặc biệt ở các nước Bắc Âu, Tây Âu. Vì vậy, các nhà nhập khẩu, hệ thống siêu thị, tổ chức phi chính phủ, hội người tiêu dùng… xây dựng các tiêu chuẩn quy định về dư lượng thuốc BVTV hoặc các tiêu chí liên quan đến quá trình sản xuất, sơ chế, chế biến để sản phẩm không chỉ chất lượng, ATTP mà còn đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững như bảo vệ môi trường, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp,  công bằng cho người lao động, bảo vệ lao động trẻ em…Hiện có hàng chục tiêu chuẩn dạng như thế được ban hành, mỗi tiêu chuẩn có mục tiêu ưu tiên và số lượng tiêu chí ( bắt buộc hoặc khuyến cáo áp dụng) khác nhau. Trong nhiều trường hợp, nhà nhập khẩu yêu cầu sản phẩm phải được chứng nhận phù hợp với 1 hoặc một số tiêu chuẩn đó họ mới ký hợp đồng mua. Như vậy, mặc dù EU cũng như trong EVFTA không quy định sản phẩm phải được sản xuất theo tiêu chuẩn nào, nhưng ở đây nhà nhập khẩu là người quyết định để đáp ứng xu hướng tiêu dùng từ khách hàng của họ. Ví như tại Việt Nam, nhiều siêu thị yêu cầu rau, quả phải có chứng nhận VietGAP, mặc dù nhà nước không bắt buộc chỉ khuyến khích sản xuất theo VietGAP.

           Yêu cầu nghiêm ngặt hơn về dư lượng thuốc BVTV

     Khách hàng ở một số nước như Anh, Đức, Hà Lan, Áo sử dụng các MRL chặt chẽ hơn các MRL được EU quy định. Các chuỗi siêu thị thương yêu cầu nghiêm ngặt nhất ở mức tồn dư tối đa 33% đến 70% MRL theo luật EU.

                Yêu cầu sản phẩm được chứng nhận sản xuất bền vững

     Dưới đây là một số chứng nhận khá phổ biến ở thị trường EU

     - GlobalGAP (Thực hành nông nghiệp tốt toàn cầu) là một tiêu chuẩn khá  phổ biến ở EU và thế giới do Hội những người bán lẻ và nhóm các siêu thị  tại EU xây dựng từ năm 1997, có 36 tiêu chí bắt buộc phải tuân thủ 100%, 127 tiêu chí có thể tuân thủ đến mức 95% và có 89 kiến nghị khuyến cáo nên thực hiện. Nhiều nhà nhập khẩu EU yêu cầu sản phẩm xuất khẩu phải có chứng nhận GlobalGAP, đặc biệt đối với rau quả, thủy sản nuôi trồng...

     - Tiêu chuẩn BRC (British Retail Consortium - Hiệp Hội Nhà Bán Lẻ Anh quốc) là tiêu chuẩn bắt buộc phải có khi cung cấp rau quả tươi vào các siêu   thị tại Anh.

     - Cà phê UTZ (theo tiếng Maya, UTZ Kapeh có nghĩa là “cà phê ngon”) bao gồm bộ tiêu chí về quản lý và thực hành canh tác cà phê, điều kiện xã hội và đời sống nông dân, bảo vệ môi trường. Chứng nhận UTZ ( UTZ certified) biểu hiện nhà rang xay có cà phê nguyên liệu đầu vào được trồng và thu hoạch một cách có trách nhiệm.

che-thai-nguyen-utz (415 x 232)

     - Cà phê 4C ( the Common code for the coffee Community). Hiệp hội 4C  (Common Code for the Coffee Community Association) có trụ sở lại Bonn –Đức. Các thành viên của Hiệp hội 4C bao gồm nông dân trồng cà     phê, nhà nhập khẩu,  nhà xuất khẩu, nhà buôn, nhà rang xay và nhà bán lẻ cũng như các tổ chức xã   hội dân sự ( tổ chức phi chính phủ, các tổ chức lập ra các tiêu chuẩn   và hiệp hội thương mại, tổ chức nghiên cứu và cá nhân) cam kết thực hiện  theo mục tiêu của Hiệp hội.

chung-nhan-4c-2

                Đến 2017 tại Việt Nam với sự hỗ trợ của các địa phương, doanh nghiệp đã có 161.000 ha cà phê, 79576 hộ hộ sản xuất cà  phê sản xuất theo Tiêu chuẩn 4C và 44.000 ha, 30.800  hộ sản xuấ cà  phê theo Tiêu chuẩn UTZ. Tuy nhiên, vấn đề là chỉ một phần trong số đó  bán được với giá cao hơn so với cà phê không chứng nhận do liên kết giữa sản xuất và xuất khẩu chưa tốt.

        - Rainforest Alliance (RA) là một tổ chức phi chính phủ (NGO) làm việc nhằm bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững. Bộ tiêu chí  thực hành bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển vững RA bao gồm có 5 nhóm: Hệ thống quản lý và lập kế hoạch hiệu quả; Bảo tồn đa dạng sinh học; Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên; Cải thiện sinh kế và phúc lợi của con người và Sản xuất gia súc bền vững (chỉ áp dụng cho phạm vi chứng nhận gia súc)  

       Một ví dụ thành công tại Việt Nam Công ty Phú Bền - Phú Thọ được chứng nhận toàn bộ 1.600 ha chè của Rain Forest do lãnh đạo Công ty tập trung đầu tư, chỉ đạo và có đầu ra ổn định.

     - Nhãn hiệu thương mại công bằng (Faitrade Labelling) do Tổ chức  thương mại công bằng quốc tế (The  Fair Trade Labelling  Organization  International – FLO) điều phối. Thương mại công bằng (TMCB) là một  phong trào quốc tế áp dụng nguyên tắc bình đẳng trong sản xuất và kinh doanh, tôn trọng môi trường sống bền vững. Mặc dù, TMCB đã tồn tại trên thế giới gần 70 năm nhưng vẫn còn tương đối mới mẻ và chưa được biết nhiều ở Việt Nam. Hiện nay, tại Việt Nam số lượng đơn vị đạt chứng nhận  TMCB còn ít, mới chỉ có 5 DN thủ công mỹ nghệ, 11 DN cà phê, 3 DN chè. Bên cạnh đó, chúng ta cũng chưa có sự liên kết giữa các DN Việt Nam đạt chứng  nhận TMCB, chưa có mạng lưới quốc gia liên kết các TMCB Việt Nam.

     - Tiêu chuẩn CSR-Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Respnsibility –  CSR) là cam đoan của doanh nghiệp đối với đạo đức bán hàng và đóng góp vào sự phát triển kinh tế, cộng đồng và môi trường của họ.

TS. Phạm Đồng Quảng - VACVINA

Gửi ý kiến của bạn


Quảng cáo phải vị trí 1

Video Clip

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá như thế nào về hoạt động của Hội Làm vườn Việt Nam
Hoạt động có hiệu quả
Hoạt động không hiệu quả
Không có ý kiến
 

Thông tin tiện ích

Quảng cáo phải 2 Trang Thông tin điện tử Bộ NN&PTNT
Danh bạ điện thoại Hỏi đáp Văn bản Liên hệ

FaceBook

Thống kê truy cập

  • Trực tuyến: 14
  • Lượt xem theo ngày: 31
  • Tổng truy cập: 2386611