Bài 5. EVFTA – HÀNH ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP, HTX, NÔNG DÂN

Bài 5. EVFTA – HÀNH ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP, HTX, NÔNG DÂN
BBT: EVFTA rõ ràng mở ra cơ hội lớn, tuy nhiên có khai thác được lợi thế hay không bên cạnh vai trò quản lý, hỗ trợ của nhà nước thì hành động của doanh nghiệp, HTX, nông dân, trong đó có các hội viên tổ chức, hội viên cá nhân của Hội Làm vườn Việt Nam - VACVINA có vai trò quyết định.

Bài 5. EVFTA – HÀNH ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP, HTX, NÔNG DÂN

 

1. Chủ động nâng cao trình độ và năng lực cho cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, người sản xuất

- Tìm hiểu kỹ các quy định của EU và VN về thuế, thủ tục, hồ sơ khi xuất khẩu vào EU, đặc biệt liên quan vấn đề xuất xứ, an toàn thực phẩm, kiểm dịch động thực vật...

- Cần thay đổi tư duy kinh doanh trong bối cảnh mới, lấy sức ép về cạnh tranh là động lực để đổi mới và phát triển.

- Cần phải trang bị cho mình kiến thức căn bản về quản trị, quản lý và thị trường như các quy định tại Hiệp định EVFTA;

- Thường xuyên cập nhập các thông tin về các quy định khắt khe về nhập khẩu hàng hóa của EU;

- Hoàn thiện các kỹ năng làm việc, giao dịch và các nguyên tắc xã giao trong môi trường làm việc quốc tế.

- Tham gia các lớp tập huấn ngành nghề; tham gia các tổ chức, hiệp hội có liên quan nhằm học hỏi kinh nghiệm và nâng cao trình độ quản lý DN.

   2. Tổ chức lại sản xuất theo hướng liên kết nông dân- HTX- doanh nghiệp trong chuỗi giá trị, trong đó doanh nghiệp là hạt nhận, đầu tầu

   2.1. Lý do phải liên kết

   ĐỐI VỚI NÔNG DÂN:

- Diện tích sản xuất nhỏ, lẻ, tự phát, theo đám đông (Sản phẩm ít, phân tán, không từ yêu cầu thị trường ); điệp khúc “được mùa – mất giá” ; “giải cứu”

- Mỗi hộ sản xuất một loại sản phẩm, giống, quy trình khác nhau ( không đồng đều về năng suất, chất lượng, ATTP…)

- Không tiếp cận được thị trường lớn (tiêu thụ tại chợ làng, chợ huyện hoặc bán qua thương lái bị ép giá…)

- Khó tiếp cận tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới

- Chi phí sản xuất cao ( làm tất cả các khâu sản xuất…)

- Tâm lý muốn giữ đất dù hiệu quả sản xuất thấp ( không muốn bán hoặc cho thuê…)

   ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP

- Khó khăn trong tiếp cận đất đai, không có vùng nguyên liệu hàng hóa đủ lớn; việc mua, thuê hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất gặp khó khăn do nông dân chưa động thuận.

- Không chủ động về số lượng, chất lượng hàng hóa theo yêu cầu của thị trường do không chủ động nguồn nguyên liệu, thu gom từ nhiều nguồn qua thương lái

- Tình trạng xuất lô sản phẩm đầu thì tốt, các lô sau không đáp ứng đúng tiến độ hoặc chất lượng, ATTP…

    2.2. Nội hàm của liên kết

a) Liên kết nông dân - nông dân trong HTX, Tổ nhóm sản xuất

- Hình thành được các vùng sản xuất lớn tập trung ( cánh đồng lớn; các vùng, ao nuôi được cấp mã số nhận diện,… )

- Sản xuất cùng giống, cùng quy trình chuẩn do doanh nghiệp xây dựng theo yêu cầu của thị trường;

- Hỗ trợ nhau sản xuất thông qua các dịch vụ chung: theo dõi, cảnh báo, phòng trừ sâu bệnh; mua phân bón, thuốc BVTV tập trung từ địa chỉ uy tín, giá cả hợp lý; dịch vụ thủy lợi, phơi sấy…)

- Giám sát nhau đảm bảo sản phẩm chất lượng, ATTP theo hợp đồng với doanh nghiệp.

b) Liên kết doanh nghiệp – nông dân thông qua HTX ( doanh nghiệp đầu tầu, dẫn dắt)

- DN tìm kiếm thị trường trong và ngoài nước, hợp đồng bao tiêu sản phẩm cho nông dân ( hội chợ trong nước và quốc tế, thương vụ sứ quán, internet,...)

- DN cùng HTX tổ chức lại sản xuất theo yêu cầu của thị trường ( xắc định sản phẩm chủ lực, quy mô, lộ trình sản xuất; xây dựng quy trình sản xuất, chứng nhận sản phẩm đảm bảo chất lượng, ATTP theo yêu cầu của thị trường…)

- DN hỗ trợ vốn, vật tư đầu vào cho vùng sản xuất; đầu tư sơ chế, chế biến, bảo quản.

- Đầu tư khoa học công nghệ, xây dựng mô hình, tập huấn nâng cao năng lực của nông dân.

3. Tăng cường đầu tư cho chế biến, nhất là chế biến sâu

- Đa số nông sản thô như cà phê, hạt điều, hạt tiêu... vào EU đã được hưởng thuế rất thấp hoặc bằng 0%, nhưng sản phẩm chế biến đang chịu thuế rất cao: cà phê hòa tan đang ở mức 20-40%, tiêu chế biến từ 5 - 9%...sẽ về mức 0% từ 1/8/2020.

- Chế biến sẽ đa dạng hóa sản phẩm, giá trị gia tăng cao hơn 3-4 lần: cà phê thô giá 1.700 USD/tấn, cà phê rang xay trên 2.000 USD/tấn, cà phê hòa tan trên 5.000 USD/tấn. Tiêu đen ( thô) khoảng 2,5 USD/kg, tiêu xanh sấy lạnh từ 14-18 USD/kg, gấp 6 bình quân lần.

- Đối với rau quả: chế biến tạo ra nhiều sản phẩm như đông lạnh, nước ép, trái cây sấy khô, sấy dẻo, nước trái cây cô đặc…nhu cầu đang ngày càng tăng.

- Khắc phục hạn chế công nghệ bảo quản hiện nay đảm bảo được 30-40 ngày, nếu đi đường biển sang EU mất 30 ngày, thời gian làm thủ tục và lưu hành trên thị trường chỉ còn 10 ngày, không thể chuyển tiếp đến thị trường xa cảng nhập…

- DN chế biến có thể thu mua tất cả sản phẩm: sơ chế, đóng gói trái cây loại 1 để xuất khẩu trái tươi; Loại 2 đưa vào đông lạnh, loại 3 sấy, loại 4 ép nước.

- Nhiều nhà máy chế biến mới được đầu tư: Công ty Lavifood – Tây Ninh, Công ty Vina T&T – Bến Tre, Công ty DOVECO – Gia Lai, Sơn La…

4. Thực hành sản xuất bền vững

- Áp dụng HACCP trong quản lý chất lượng, ATTP; xây dựng thói quen ghi chép, lưu giữ hồ sơ từ - đầu vào đến sản xuất, chế biến, xuất khẩu; truy xuất nguồn gốc, xuất xứ…

- Lựa chọn các tiêu chuẩn sản xuất bền vững theo yêu cầu của khách hàng:

+ Rau quả: GlobalGap ( hoặc bước đầu tham gia Local GAP, VietGAP, sau nâng lên GlobalGAP…)

  • GLOBAL (230 x 125) (172 x 94)

+ Chè, cà phê, hạt tiêu: UTZ, R.A, nhãn hiệu thương mại công bằng (Faitrade Labelling)…

+ Nuôi trồng thủy sản: GlobalGap, ASC, BAP…

+ Chứng chỉ rừng bền vững VFSC: VN là thành viên của FSC quốc tế, năm 2020 có 300 ngàn ha rừng sẽ được cấp chứng chỉ VFSC…

+ Hoặc tiêu chuẩn thực phẩm IFS, Thực phẩm chất lượng an toàn (SQF), FSSC22000 hoặc chứng nhận CSR (Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp)…

- Sản xuất hữu cơ theo Tiêu chuẩn EU nếu có đơn đặt hàng hoặc triển vọng tiêu thụ…

Theo Ủy ban châu Âu về sản phẩm hữu cơ (ECOP) trong thập kỷ qua, thị trường hữu cơ EU đã tăng thêm 60%, hiện nay cung đang không đủ cầu,  như tại Thụy Điển nhu cầu tăng hơn 20% mỗi năm. Theo Dự án EU-MUTRAP, 2016 tại hầu hết các nước EU, tỉ lệ tăng trưởng cao nhất đối với nông sản hữu cơ thuộc về ngành hàng rau quả, tiếp theo là thịt và các sản phẩm từ sữa. Trong ngắn hạn và trung hạn, nhu cầu được dự báo là rất lớn và tốc độ tăng trưởng vẫn tiếp tục được duy trì.

Lưu ý, thị trường EU chỉ chấp nhận sản phẩm hữu cơ được sản xuất theo tiêu chuẩn của EU và tất cả sản phẩm phải được gắn nhãn do EU ban hành như dưới đây.

HC EU

 

 

TS. Phạm Đồng Quảng - VACVINA

Gửi ý kiến của bạn


Quảng cáo phải vị trí 1

Video Clip

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá như thế nào về hoạt động của Hội Làm vườn Việt Nam
Hoạt động có hiệu quả
Hoạt động không hiệu quả
Không có ý kiến
 

Thông tin tiện ích

Quảng cáo phải 2 Trang Thông tin điện tử Bộ NN&PTNT
Danh bạ điện thoại Hỏi đáp Văn bản Liên hệ

FaceBook

Thống kê truy cập

  • Trực tuyến: 7
  • Lượt xem theo ngày: 3603
  • Tổng truy cập: 2386577