Tác động của Biến đổi khí hậu đến mối quan hệ cây trồng sinh vật gây hại và một số đề xuất điều chỉnh chiến lược Bảo vệ thực vật tại Việt nam để thích ứng

Tác động của Biến đổi khí hậu đến mối quan hệ cây trồng -sinh vật gây hại và một số đề xuất điều chỉnh chiến lược Bảo vệ thực vật tại Việt nam để thích ứng
BBT: Biến đổi khí hậu (BĐKH) làm thay đổi các điều kiện ngoại cảnh trong đó mối quan hệ cây trồng- sinh vật gây hại diễn ra, dẫn đến việc thay đổi mức độ tác hại của từng loài sinh vật hại cụ thể. BĐKH tác động đến toàn bộ hệ sinh thái nông nghiệp, trong đó có các thành phần chính là cây trồng, các sinh vật hại cây trồng, thiên địch của sinh vật hại, các vi sinh vật trong đất…. để hiểu thêm vấn đề này, BBT xin giới thiệu bài viết "Tác động của Biến đổi khí hậu đến mối quan hệ cây trồng -sinh vật gây hại và một số đề xuất điều chỉnh chiến lược Bảo vệ thực vật tại Việt nam để thích ứng"của PGS.TS Nguyễn Xuân Hồng- Phó Chủ tịch HLV VN để bạn đọc tham khảo

Biến đổi khí hậu ( BĐKH) là vấn đề toàn cầu đang đặt ra những thách thức to lớn đối với tất cả các quốc gia trên Thế giới, nhất là đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế, Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu.

BĐKH là sự thay đổi của khí hậu trong một khoảng thời gian dài do tác động của các điều kiện tự nhiên và hoạt động của con người. Biến đổi khí hậu hiện nay biểu hiện bởi sự nóng lên toàn cầu, mực nước biển dâng và gia tăng các hiện tượng khí tượng thủy văn cực đoan.

Trong khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình ở nước ta đã tăng khoảng 2,3oC và mực nước biển đã dâng thêm khoảng 20cm. Ước tính, đến cuối thế kỷ 21, so với thời kỳ 1980-1999, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng thêm trên 3oC, lượng mưa hàng năm tăng khoảng 10- 15% và mực nước biển có thể dâng thêm 73cm cùng với các hiện tượng thời tiết cực đoan như mưa bão, ngập úng, hạn hán kéo dài… (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016).

Đặc điểm nổi bật của sản xuất nông nghiệp là phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên. Các biểu hiện của BĐKH như nhiệt độ trung bình tăng, nước biển dâng, lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, thời tiết cực đoan... đang hiện hữu ngày càng nhiều hơn, rõ rệt hơn, gây thiệt hại nghiêm trọng cho sản xuất nông nghiệp ở nhiều địa phương, đặc biệt là ngành trồng trọt. Việc chủ động đánh giá và dự báo tác động của BĐKH để kịp thời có những giải pháp ứng phó hiệu quả là rất cần thiết để đảm bảo an ninh lương thực và phát triển nông nghiệp bền vững.

Theo số liệu của Tổ chức Nông Lương Liên hiệp quốc (FAO, 2020), sâu bệnh, cỏ dại là nguyên nhân có thể làm giảm tới 40% năng suất cây trồng của Thế giới . Giảm thiểu tổn thất mùa màng do sinh vật hại gây ra đang được coi là một chiến lược quan trọng nhằm tăng năng suất, sản lượng cây trồng, đảm bảo an ninh lương thực và phát triển nông nghiệp bền vững trong điều kiện biến đổi khí hậu. Các hoạt động bảo vệ thực vật (BVTV) không chỉ góp phần bảo vệ năng suất, chất lượng cây trồng, đảm bảo thu nhập cho nông dân, mà còn góp phần đáng kể giảm phát thải khí nhà kính- một trong những nguyên nhân đang làm trầm trọng hơn hiện tượng BĐKH. Làm tốt công tác BVTV cũng thiết thực góp phần giảm thiểu tác động của BĐKH. Vì vậy, công tác bảo vệ thực vật đang ngày càng thể hiện đậm nét hơn vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực, phát triển nông nghiệp bền vững, thích ứng với BĐKH đối với Thế giới và mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Đó là lý do Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã quyết định lấy năm 2020 là Năm Quốc tế về sức khỏe cây trồng ( International year of plant health) để nâng cao nhận thức của cả Thế giới về vai trò của các hoạt động BVTV.

Để công tác BVTV phát huy tốt vai trò nói trên, cần phải phân tích tình hình, dự báo được xu thế tác động của BĐKH đến cây trồng, sinh vật gây hại và mối quan hệ của chúng dưới tác động của điều kiện môi trường đang thay đổi, từ đó chủ động điều chỉnh chiến lược phòng, chống sinh vật hại cây trồng nhằm thích ứng với tình hình mới.

  1. Khó khăn chính trong nghiên cứu dự báo và đánh giá tác động của BĐKH đến mối quan hệ cây trồng- sinh vật gây hại

Trong những năm gần đây, các trận dịch hại như Sâu keo mùa thu, Châu chấu sa mạc, rệp sáp hồng hại sắn, bệnh chết héo chuối… đã xảy ra tại nhiều quốc gia với quy mô và tác hại lớn, lây lan nhanh. Đây là những bằng chứng thực tế để khi nói về tác động của BĐKH đối với sản xuất nông nghiệp đa số tác giả các bài viết đều nhận định là dịch hại cây trồng có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp. Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học  cũng  tìm được những bằng chứng về việc giảm mức độ tác hại của một số loài sinh vật hại.

Vậy, BĐKH sẽ tác động theo chiều hướng nào đến mối quan hệ  giữa cây trồng- sinh vật gây hại và công tác bảo vệ thực vật cần phải điều chỉnh chiến lược như thế nào để thích ứng với BBĐKH?. Đây không chỉ là vấn đề mới mà còn là vấn đề khó, rất phức tạp do BĐKH tác động đến toàn bộ hệ sinh thái nông nghiệp, trong đó không chỉ có cây trồng và sinh vật gây hại mà còn có nhiều thành phần khác với  mối quan hệ đa chiều. Cây trồng, sinh vật hại cây trồng và mối quan hệ ký sinh- ký chủ rất nhạy cảm đối với sự thay đổi trong hệ sinh thái, dù thay đổi đó là rất nhỏ. Các cán bộ BVTV đều có thể nhận thấy điều này khi trên cùng một ruộng, một vườn cây hoặc một luống cây với cùng một giống, một quy trình chăm sóc như nhau nhưng mức độ bị hại của từng cá thể cây không giống nhau. Có những cây bị bệnh khá nặng trong khi cây ở ngay bên cạnh lại bị bệnh rất ít, thậm chí không bị bệnh. Trên cùng một cây ăn quả, cành, lá, quả ở các hướng khác nhau cũng bị sâu bệnh hại với các mức độ khác nhau.

 BĐKH làm thay đổi các điều kiện ngoại cảnh trong đó mối quan hệ cây trồng- sinh vật gây hại diễn ra, dẫn đến việc thay đổi mức độ tác hại của từng loài sinh vật hại cụ thể. BĐKH tác động đến toàn bộ hệ sinh thái nông nghiệp, trong đó có các thành phần chính là cây trồng, các sinh vật hại cây trồng, thiên địch của sinh vật hại, các vi sinh vật trong đất…. Các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu của con người như chuyển đổi cơ cấu giống, cơ cấu cây trồng, mùa vụ, quản lý hệ sinh thái… cũng tác động đến cây trồng, sinh vật hại, thiên địch và mối quan hệ giữa chúng. Do đó, nếu nghiên cứu về tác động của BĐKH ( ví dụ: Nhiệt độ và độ ẩm tăng) đến một loài sinh vật gây hại nào đó bằng các phương pháp nghiên cứu trong phòng cô lập, tách biệt cây trồng và sinh vật hại khỏi hệ sinh thái đồng ruộng thì trong nhiều trường hợp không cho kết quả dự báo giống với những gì sẽ xảy ra trong thực tế đổng ruộng. Thiếu phương pháp nghiên cứu đang là một trong những trở ngại chính để đưa ra dự báo về tác động của BĐKH đến mối quan hệ  cây trồng - sinh vật gây hại (Lars N., 2010)

Không những thế, sinh vật hại cây trồng lại có khả năng tiến hóa để thích nghi với điều kiện môi trường thay đổi như thay đổi cấu trúc quần thể, hình thành nên các chủng, nòi, biotype mới với những đặc điểm mới như độc tính cao hơn, khả năng sống sót trong các điều kiện bất thuận tốt hơn…. Do có ưu thế là cấu tạo đơn giản, số lượng nhiều, khả năng sinh sản nhanh, các cơ chế sống sót và lây lan trong các môi trường khắc nghiệt đa dạng, sinh vật hại có khả năng thích ứng nhanh hơn so với cây trồng trong điều kiện BĐKH và cũng nhanh hơn so với khả năng nhận biết và nhận thức của con người.

Tóm lại, dự báo xu thế tác động của BĐKH đối với một loài sinh vật hại trên một cây trồng cụ thể đã là một việc khó; dự báo xu thế tác động của BĐKH đến sinh vật hại cây trồng nói chung lại càng khó hơn nhiều. Ngoài các yếu tố tự nhiên, hoạt động của con người cũng luôn thay đổi và tác động đến hệ sinh thái nông nghiệp cũng như mối quan hệ cây trồng- sinh vật gây hại- thiên địch.  Chính vì vậy, hiện nay các kết quả nghiên cứu về vấn đề này còn rất hạn chế.

  1. Một số nhận định và dự báo về xu hướng tác động của BĐKH đến sinh vật hại cây trồng

 Cho đến nay, đa số các nhà khoa học  trên Thế giới đều thống nhất một số nhận định chính về xu thế ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sinh vật hại cây trồng và công tác bảo vệ thực vật như sau:

  1. Các biểu hiện của biến đổi khí hậu có ảnh hưởng đáng kể nhất đến sinh vật hại cây trồng thu hút sự chú ý của đa số các nhà khoa học là: Sự nóng lên toàn cầu; nồng độ CO2 tăng trong khí quyển; cường độ thoát hơi nước và độ ẩm không khí. BĐKH có thể tác động đến cây trồng, sinh vật hại cây trồng và mối quan hệ giữa chúng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Nghiên cứu, dự báo về ảnh hưởng của BĐKH đến mức độ tác hại của sâu bệnh trên cây trồng là một việc không dễ dàng. Mặc dù vậy, BĐKH chắc chắn đã, đang và sẽ có tác động đáng kể đến nông nghiệp nói chung và công tác bảo vệ thực vật nói riêng.
  2. Nhiệt độ toàn cầu nóng lên sẽ làm tăng phạm vi phân bố và tác hại của các loài sinh vật hại ưa khí hậu nóng, ấm từ vùng vĩ độ thấp di chuyển lên các vùng vĩ độ cao hơn (từ vùng nhiệt đới sang vùng ôn đới). Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, từ năm 1960, sinh vật hại cây trồng có xuất xứ ở vùng nhiệt đới đã có mức độ phân bố ngày càng rộng hơn với bán kính bình quân xa hơn 3 km/ năm về phía 2 cực của trái đất. Nhiều bệnh hại trên ngô đã lây lan từ châu Mỹ La tinh sang vùng bắc Mỹ, kể cả các vùng núi cao của Mehico. Trong điều kiện ấm lên tại các nước châu Âu và bắc Mỹ, bệnh gỉ sắt thân lúa mì cũng trở nên nguy hiểm hơn do ký sinh sản sinh bào tử nhiều hơn và có khả năng hình thành các nòi nấm mới thích ứng với nhiệt độ cao nhanh hơn so với trước đây. Nhiều loài sâu hại sẽ có khả năng sống sót qua mùa đông lạnh cao hơn, số lứa sâu/ năm nhiều hơn với số lượng cá thể và khả năng gây hại cao hơn.  Trong khi đó, tác hại của những loài sâu bệnh ưa khí hậu mát mẻ sẽ có xu hướng giảm (Alison Doody, 2020).
  3. Độ ẩm không khí do sự thoát hơi nước tăng lên tại nhiều vùng trên trái đất sẽ làm gia tăng mức độ hại của nhiều loài sâu bệnh, đặc biệt là sẽ thuận lợi cho nhiều loài nấm và vi khuẩn ưa nóng ẩm nhân nhanh, lây lan và gây hại. Các loại sâu bệnh hại trong đất có khả năng ít bị ảnh hưởng hơn.
  4. Nồng độ CO2 trong không khí tăng có xu hướng làm giảm hàm lượng protein trong các bộ phận của cây trồng. Để bù đắp sự thiếu hụt này, theo ý kiến nhiều chuyên gia, nhiều loài sâu hại sẽ tăng sức ăn và mức độ hại cũng có xu hướng tăng theo. Mặc dù vậy, một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tăng nồng độ CO2 ở một mức độ nhất định lại có xu hướng giúp tăng năng suất cây trồng.
  5. Trong điều kiện BĐKH cỏ dại sẽ có lợi thế hơn so với cây trồng do khả năng thích ứng cao hơn. Tăng nồng độ CO2 trong khí quyển cũng có xu thế thuận lợi hơn cho sự phát triển và tăng lượng sinh khối của cỏ dại có thể dẫn tới việc cỏ dại lấn át cây trồng. Cùng với việc gia tăng hiện tượng kháng thuốc trừ cỏ và lây lan qua nhiều con đường khác nhau, kể cả thông qua hoạt động thương mại, du lịch của con người cỏ dại sẽ là một thách thức lớn đối với công tác bảo vệ thực vật.
  6. Hiệu lực sinh học của nhiều hoạt chất thuốc BVTV giảm khi nhiệt độ tăng do sự bay hơi nhanh và hiện tượng thuốc bị phân hủy nhanh dưới tác động của nhiệt độ cao, ánh sáng cường độ mạnh cùng với hiện tượng rửa trôi khi mưa nhiều. Nhiều chuyên gia dự báo trong những năm tới lượng thuốc BVTV được sử dụng trong trồng trọt trên Thế giới nói chung vẫn sẽ tăng, kéo theo sự gia tăng tính kháng thuốc của nhiều loài sinh vật hại cây trồng.
  7. Các hiện tượng thời tiết cực đoan như ngập úng, hạn hán kéo dài, giông bão và thời tiết bất thuận thất thường làm cho các cơ chế đề kháng của cây trồng yếu đi, giảm khả năng chống chịu đối với nhiều loài sinh vật hại, đồng thời có thể tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loài sinh vật hại xâm nhập, lây lan nhanh từ nơi này sang nơi khác.
  8. BĐKH ảnh hưởng rất đáng kể và rõ rệt đến công đoạn sau thu hoạch của chuỗi giá trị cây trồng (Martin J. Chegere, 2018). Điều kiện nóng, ẩm, các hiện tượng thời tiết cực đoan xen kẽ như hạn hán, ngập úng có xu hướng ngày càng tăng gây khó khăn cho việc thu hoạch, vận chuyển, phơi sấy và bảo quản nông sản. Các loại sâu hại trong kho, nấm mốc hại nông sản trong quá trình bảo quản sẽ phát triển mạnh, gây tổn thất lớn. Ngoài nông sản thực phẩm, nhiều bệnh hạt giống cũng phát triển mạnh hơn trong quá trình bảo quản và là nguồn lây lan ban đầu trên đồng ruộng cho vụ sau.
  9. BĐKH chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến hệ sinh vật có ích trong tự nhiên theo các chiều hướng khác nhau, tương tự như ảnh hưởng của BĐKH đến các loài sinh vật hại. Đến lượt mình, các loài thiên địch sẽ ảnh hưởng đến mật độ của các loài sinh vật hại. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng với kịch bản nhiệt độ tăng do BĐKH trong 50 năm tới thì một số loài thiên địch bắt mồi phát huy lợi thế và hiệu quả cao hơn (Hanna& Cobb, 2007). Nhiều loài nấm có ích trong tự nhiên ưa nhiệt độ ấm áp và độ ẩm cao có thể phát triển, phát tán và xâm nhiễm vào côn trùng gây hại thuận lợi hơn và góp phần giảm mật độ nhiều loài sâu hại ( Lars N., 2010). Khai thác thiên địch tự nhiên trong công tác BVTV được các nhà khoa học đánh giá là một biện pháp có hiệu quả cao trong điều kiện BĐKH.
  10. Biến đổi khí hậu có tác động lớn đến cây trồng, sinh vật hại cây trồng và mối quan hệ giữa chúng. Tuy nhiên, so với cây trồng thì sinh vật hại có khả năng thích ứng cao hơn đối với BĐKH, vì vậy dịch hại cây trồng được dự báo sẽ xảy ra với tần suất cao hơn, diễn biến phức tạp, khó lường hơn. Nhiều loài sinh vật hại trước đây từng được coi là “thứ yếu” có thể trở thành “ chủ yếu”. Tại các nước thuộc vùng nhiệt đới, tình hình dịch hại cây trồng sẽ có xu hướng nặng nề hơn so với các nước thuộc vùng ôn đới. Công tác bảo vệ thực vật sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức mới.
  11. Tuy nhiên, con người có thể quản lý và điều khiển hệ sinh thái nông nghiệp theo hướng có lợi cho cây trồng và hạn chế tổn thất do sinh vật hại gây ra. Các hoạt động của con người như thay đổi cơ cấu giống, cơ cấu cây trồng, mùa vụ, bảo vệ và tăng cường hệ sinh vật có ích, quản lý nhà nước, ứng dụng các TBKT mới thân thiện môi trường và nâng cao nhận thức, hiểu biết của người sản xuất … nhằm thích ứng với BĐKH có thể sẽ tác động nhanh hơn và rõ rệt hơn đến cây trồng so với tác động của biến đổi khí hậu. Công tác kiểm dịch thực vật nếu được thực hiện nghiêm ngặt sẽ góp phần quan trọng ngăn chặn sự lây lan của các loài sinh vật hại nguy hiểm. Công nghệ thông tin và các kỹ thuật hiện đại có thể giúp cho việc phát hiện sớm dịch hại, chia sẻ thông tin nhanh, phòng chống sâu bệnh hại kịp thời.  Vì vậy, con người hoàn toàn có khả năng chủ động giảm thiểu tác động bất lợi của BĐKH.
  12. Thực hiện các nguyên tắc IPM vẫn sẽ là chiến lược cơ bản trong công tác BVTV, nhưng IPM cần phải được điều chỉnh để thích ứng với tình hình mới và được nhiều nhà khoa học gọi là CSPM (Climate Smart Pest Management) (Tạm dịch là: Quản lý dịch hại thích ứng thông minh với BĐKH). CSPM nhấn mạnh sự cần thiết đưa IPM vào thực tiễn một cách hiệu quả, mang tính cộng đồng cao với sự vào cuộc của nhiều đối tác, bao gồm người sản xuất, các nhà khoa học, các tổ chức khuyến nông, các cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương. CSPM đặc biệt coi trọng các biện pháp dự tính dự báo, cảnh báo sớm sâu bệnh, thông tin nhanh và nâng cao nhận thức, hiểu biết của người dân, áp dụng các biện pháp chủ động phòng ngừa dịch hại với phương châm “ phòng là chính”, bảo vệ đất trồng trọt,  bảo vệ thiên địch tự nhiên và đa dạng sinh học, áp dụng các biện pháp kỹ thuật giúp cây trồng chống chịu các điều kiện bất thuận và rất hạn chế sử dụng thuốc BVTV hóa học. Khuyến cáo khi thật sự cần thiết nên lựa chọn các thuốc có tính chọn lọc để bảo vệ thiên địch trên đồng ruộng.
  • Một số đề xuất về điều chỉnh chiến lược BVTV thích ứng với BĐKH tại Việt Nam

Việt Nam là một nước nông nghiệp nhiệt đới chịu tác động nặng nề của BĐKH. Tình hình dịch sâu bệnh sẽ có xu hướng tăng về tần suất, quy mô, tác hại và diễn biến phức tạp, khó lường. Cũng như ở nhiều quốc gia đang phát triển khác trên Thế giới, tại Việt Nam BĐKH sẽ có tác động cùng lúc tới cả cây trồng và sinh vật hại. Tuy nhiên, như đã đề cập đến ở phần trên, cho dù BĐKH tác động theo chiều hướng nào đi chăng nữa thì sinh vật gây hại cũng sẽ có khả năng thích ứng cao hơn và giành lợi thế cạnh tranh cao hơn so với cây trồng nếu không có sự can thiệp kịp thời và khôn ngoan của con người.

Thực tiễn 10-15 năm qua trong công tác BVTV cho thấy tình hình dịch hại cây trồng ở nước ta có xu hướng diễn biến rất phức tạp. Các loại sâu bệnh hại truyền thống như Đạo ôn, Bạc lá, Sâu cuốn lá, Rầy nâu, Rầy lưng trắng hại lúa, chết nhanh, chết chậm trên cà phê và hồ tiêu có xu hướng gia tăng mức độ hại và luôn có nguy cơ bùng phát dịch tại nhiều địa phương trong cả nước. Nhiều loài sinh vật hại “mới nổi” và khó phòng trừ đã xuất hiện gây tổn thất đáng kể cho sản xuất như Vàng lùn- lùn xoăn lá và Lùn sọc đen trên lúa, Chổi rồng nhãn, Rệp sáp bột hồng, bệnh chổi rồng và bệnh khảm lá sắn hại sắn, Trắng lá mía, Sâu đục thân mía 4 vạch đầu nâu, Đốm nâu thanh long, Sâu đục quả bưởi, bệnh chết héo chuối…Nhờ sự vào cuộc của các cấp, các ngành, các địa phương và nông dân, đặc biệt là sự sâu sát của hệ thống bảo vệ thực vật, công tác phòng chống dịch hại cây trồng ở nước ta đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, một trong những điểm yếu cơ bản nhất của công tác BVTV ở nước ta là việc lạm dụng thuốc BVTV hóa học dẫn đến nguy cơ mất an toàn thực phẩm, ô nhiễm môi trường, hiện tượng kháng thuốc của sinh vật hại, tăng chi phí sản xuất, giảm khả năng cạnh tranh của nông sản trên thị trường và nguy cơ cao không bền vững. Các biện pháp sinh học chưa được coi trọng do thiếu chính sách tạo động lực, nhận thức, hiểu biết còn hạn chế và đồng ruộng manh mún. Nghiên cứu chọn tạo và sử dụng giống cây trồng chống chịu sâu bệnh đã từng phát huy hiệu quả trong quá khứ nhưng hiện nay ít được quan tâm. Trong sản xuất hầu hết chỉ có các giống ngắn ngày, năng suất, chất lượng cao chịu thâm canh nhưng nhiễm sâu bệnh. Nghiên cứu áp dụng các phương pháp hiện đại trong dự tính dự báo sâu bệnh chưa được chú ý và tụt hậu xa so với Thế giới. Bảo vệ thực vật tập trung chủ yếu trên đồng ruộng, công đoạn sau thu hoạch ít được quan tâm. Công tác truyền thông nâng cao nhận thức và thu hút sự tham gia của các đối tác và cộng đồng vào công tác bảo vệ thực vật chưa được quan tâm đúng mức. Nếu các nhược điểm này không được nhanh chóng khắc phục thì công tác BVTV ở nước ta sẽ gặp nhiều khó khăn trong thời gian tới và nguy cơ bùng phát nhiều loại dịch hại kéo theo việc phải sử dụng nhiều thuốc hóa học hơn trong thời gian tới là điều khó tránh khỏi.

Để  phát huy tốt vai trò của mình và thích ứng với điều kiện BĐKH, công tác BVTV ở nước ta cần phải có một sô điều chỉnh về chiến lược như sau:

  1. Công tác nghiên cứu khoa học bảo vệ thực vật cần được ưu tiên hàng đầu. Các nhà khoa học cần chủ động đi tiên phong trong nghiên cứu, dự báo tình hình dịch hại, phát triển các TBKT phục vụ sản xuất và quản lý ngành, thích ứng với BĐKH.

 Một số hướng nghiên cứu chính cần được ưu tiên trong thời gian tới như sau:

+ Điều tra cơ bản, cập nhật danh lục và xây dựng cơ sở dữ liệu về sinh vật hại cây trồng ở Việt Nam;

+ Nghiên cứu phát triển các chế phẩm/ thuốc BVTV sinh học và các biện pháp sinh học nói chung;

+ Nghiên cứu ứng dụng các phương pháp hiện đại trong dự tính, dự báo sâu bệnh hại chính tại Việt Nam;

+ Nghiên cứu chọn tạo các giống cây trồng chống chịu sâu bệnh và các điều kiện bất thuận, có khả năng thích ứng rộng, sử dụng các nguồn gen địa phương cổ truyền với các đặc tính quý một cách hiệu quả;

+ Nghiên cứu các biện pháp  nâng cao tính chống chịu sâu bệnh của cây trồng;

+ Nghiên cứu bảo vệ thực vật hữu cơ;

+ Nghiên cứu các biện pháp bảo quản nông sản để giảm thiệt hại do sâu bệnh gây ra giai đoạn sau thu hoạch trong điều kiện BĐKH. 

+ Nghiên cứu quản lý sinh vật hại rừng, đặc biệt là các biện pháp sinh học.

+ Nghiên cứu cải tiến, áp dụng các công nghệ, dụng cụ phun rải để nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng các loại thuốc BVTV.

  1. Công tác truyền thông, khuyến nông, đào tạo, tập huấn về BVTV cần được đổi mới về nội dung và phương pháp để đạt chất lượng, hiệu quả cao hơn.

+ Tăng cường công tác truyền thông nâng cao nhận thức của cộng đồng và toàn xã hội về công tác BVTV với phương châm “ Bảo vệ thực vật là bảo vệ sự sống của chúng ta” để thu hút sự tham gia có trách nhiệm của tất cả các đối tác và người dân.

+ Đẩy mạnh công tác đào tạo, tập huấn  khuyến nông theo hình thức ToT để nhiều người được biết về quản lý dịch hại tổng hợp IPM và  CSPM. Cần quan tâm hướng dẫn các phương pháp điều tra đồng ruộng, các biện pháp chủ động phòng ngừa dịch hại như giống chống chịu, luân canh, kỹ thuật canh tác, bảo vệ thiên địch và các biện pháp sinh học, giảm thiểu việc sử dụng thuốc hóa học. Nguyên tắc “ 4 đúng” trong sử dụng thuốc cần phải được hiểu thấu đáo, nếu không dễ dẫn đến việc hiểu nhầm và dựa vào thuốc BVTV là chính trong phòng chống sinh vật hại cây trồng, thậm chí bị lợi dụng trong quảng cáo thuốc BVTV.

+ Nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong việc tuyên truyền, phổ biến kiến thức  để các cán bộ BVTV, khuyến nông và nông dân dễ tra cứu về sâu bệnh hại cây trồng và các biện pháp phòng chống .

+ Đa dạng hóa các hình thức tư vấn, hướng dẫn về phòng chống sâu bệnh hại cây trồng kể cả trực tiếp trên đồng ruộng và on- line. Trong quá trình tư vấn, hướng dẫn nông dân cần ưu tiên nhấn mạnh các biện pháp chủ động phòng ngừa, chỉ sử dụng thuốc BVTV khi thật sự cần thiết.

  1. Công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực BVTV cần chủ động xác định, khắc phục những điểm yếu, nâng cao chất lượng, hiệu quả với sự phối hợp, tham gia của tất cả các đối tác có liên quan và cộng đồng. Một số công việc sau cần đặc biệt quan tâm:

+ Siết chặt công tác kiểm dịch thực vật để ngăn chặn nguy cơ xâm nhập của các đối tượng sinh vật hại mới, nguy hiểm vào Việt Nam.

+ Xây dựng cơ chế để toàn dân nâng cao nhận thức và có thể tham gia một cách hiệu quả vào công tác bảo vệ và KDTV theo khuyến cáo của FAO  và nhiều nước đã áp dụng như: Mọi người dân khi phát hiện thấy sinh vật gây hại  lạ, các hiện tượng cây trồng  bất thường  có thể báo cho cơ quan BVTV theo đường dây nóng. Tuyên truyền để mọi người dân được biết về quy định KDTV của Việt Nam, không mang cây cảnh, hạt giống, hom giống cây từ nước ngoài về Việt Nam mà không khai báo KDTV, đồng thời tăng cường kiểm tra KDTV tại các biên giới, cửa khẩu, bến cảng, sân bay…

+ Tăng cường năng lực về cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn nhân lực, áp dụng các phương pháp hiện đại trong điều tra, giám sát, giám định, dự tính dự báo, cảnh báo sớm dịch hại cây trồng trong toàn quốc.

+ Xây dựng và khai thác tốt cơ sở dữ liệu về sinh vật hại cây trồng tại Việt Nam;

+ Cập nhật các kết quả nghiên cứu và TBKT để xây dựng, ban hành quy trình quản lý tổng hợp sinh vật hại ( IPM) trên các cây trồng chính tại Việt Nam theo hướng mỗi cây trồng có một quy trình.

+ Có chính sách cụ thể, khả thi và mạnh mẽ hơn để khuyến khích nghiên cứu, phát triển, cung ứng và áp dụng các chế phẩm/ thuốc sinh học và các biện pháp sinh học nói chung trong BVTV. Nhà nước nên sử dụng ngân sách đặt hàng sản xuất một số chế phẩm sinh học, côn trùng có ích để thả bổ sung trên đồng ruộng. Đây là một biện pháp rất hiệu quả được nhiều nước thực hiện.

+ Đánh giá và loại bỏ các loại thuốc BVTV hiệu lực thấp đối với các loài sinh vật hại. Cần quan tâm hướng dẫn người sản xuất áp dụng các biện pháp hạn chế tính kháng thuốc của sinh vật hại.

+ Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ và KDTV để kịp thời nắm bắt thông tin, chia sẻ kinh nghiệm phòng chống dịch hại cây trồng thích ứng  BĐKH với các nước trong khu vực và trên Thế giới.

+ Tổ chức sơ kết, đánh giá kết quả thực hiện Đề án IPM của Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành giai đoạn 2016- 2020 và phương hướng, giải pháp tăng cường thực hiện đề án IPM thích ứng với BĐKH giai đoạn 2020- 2025 và những năm tiếp theo làm cơ sở điều chỉnh chiến lược BVTV thích ứng với BĐKH tại Việt Nam.

  1. Kết luận:

BĐKH chắc chắn sẽ có tác động đáng kể đến mối quan hệ cây trồng- sinh vật hại và công tác BVTV. Là một nước nông nghiệp nhiệt đới đang phát triển, công tác BVTV tại Việt nam được dự báo sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức do BĐKH. Điều đó đã đến, đang đến và sẽ đến, vì vậy chúng ta không được chủ quan mà cần phải có các hành động để thích ứng càng sớm càng tốt. Làm tốt công tác BVTV là một giải pháp hiệu quả để góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và phát triển nông nghiệp bền vững, thích ứng với BĐKH. Giải pháp quan trọng để giảm thiểu tác hại của sinh vật hại đến năng suất, chất lượng cây trồng là thực hiện các biện pháp kỹ thuật thân thiện môi trường và bền vững với phương châm “ phòng là chính”.  Sử dụng giống cây trồng chống chịu sâu bệnh, các biện pháp canh tác kỹ thuật, bảo vệ đất, bảo vệ đa dạng sinh học và thiên địch, giảm thiểu tối đa việc sử dụng thuốc hóa học là những biện pháp cần quan tâm hàng đầu. Quản lý dịch hại thích ứng với BĐKH (CSPM) với sự vào cuộc của các đối tác liên quan ( nông dân, nhà khoa học, nhà quản lý và cộng đồng) cần được coi trọng để thực hiện trên quy mô rộng lớn và duy trì thường xuyên. Công tác nghiên cứu khoa học BVTV nhằm phát triển các phương pháp dự tính, dự báo sớm và các biện pháp CSPM cần phải được đẩy mạnh . Công tác truyền thông và khuyến nông cần đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả theo hướng tập trung nâng cao nhận thức của cộng đồng đối với công tác BVTV, kỹ năng và hiểu biết của người sản xuất về IPM thích ứng BĐKH. Đặc biệt, công tác quản lý nhà nước cần chủ động và kịp thời điều chỉnh chiến lược thích ứng với BĐKH và triển khai thực hiện trên diện rộng trong thực tiễn. Đây là việc làm thiết thực để công tác BVTV nước ta thực hiện tốt vai trò của mình và đáp ứng yêu cầu của tình hình mới./.

Tài liệu tham khảo chính

  1. Bộ Tài nguyên và Môi trường. Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam. Nhà xuất bản Tài nguyên môi trường và bản đồ Việt nam, 2016.
  2. Dự án ACP-ACTAE. Bảo vệ thực vật theo hướng nông nghiệp sinh thái ở Đông Nam Á, 2018.
  3. Alison Doody. Pests and diseases and climate change: Is there a connection. CIMMYT. https://www.cimmyt . February 27, 2020.
  4. Ilse Delcour, Pieter Spanoghe, Mieke Uyttendaele. Literature review: Impact of Climate change on pesticide use. Food Research International, 68, 2015.
  5. International Year of plant health. iyph@fao.org., 2020
  6. Hanna C.J., Cobb V.A. Critical thermal maximum of the green lynx spider, Peucetia viridans ( Araneae, Oxyopidae). The Jounal of Arachnology, 35(1), 2007.
  7. Lars Neumeister. Climate change and crop protection: Anything can happen. https://www.researchgate.net. January 2010.
  8. Luca Heeb, Emma Jenner, Mathew J.W.Cock. Climate- smart pest management: Building resilience of farms and landscapes to changing pest threats. Jounal of Pest science, 92, 2019.
  9. Chegere. Climate change and post- harvest agriculture. https://www.researchgate.net. March 2010.

 

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn


Quảng cáo phải vị trí 1

Video Clip

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá như thế nào về hoạt động của Hội Làm vườn Việt Nam
Hoạt động có hiệu quả
Hoạt động không hiệu quả
Không có ý kiến
 

Thông tin tiện ích

Quảng cáo phải 2 Sito Viet Nam Quảng cáo phải 3 Khoa hoc Phong Thuy
Danh bạ điện thoại Hỏi đáp Văn bản Liên hệ

FaceBook

Thống kê truy cập

  • Trực tuyến: 19
  • Lượt xem theo ngày: 1192
  • Tổng truy cập: 2635986