GIẢI PHÁP PHỤC HỒI, PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÂY CÓ MÚI - 12. Quản lý bệnh vàng là Greening trên cây có múi ở phía Nam - Hội Làm vườn Việt Nam

GIẢI PHÁP PHỤC HỒI, PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÂY CÓ MÚI 12. Quản lý bệnh vàng là Greening trên cây có múi ở phía Nam

BBT: Quản lý dịch hại, đặc biệt đối với bệnh vàng lá Greening là yếu tố quan trọng và có ý nghĩa quyết định tính bền vững sản xuất cây múi ở nước ta. Thông qua các dự án hợp tác quốc tế với CIRAD-FLHOR, ACIAR, FFTC, JIRCAS và JICA, cùng sự hỗ trợ, giúp đỡ của các chuyên gia, Viện Cây ăn quả miền Nam cùng các đối tác đã thực hiện nhiều nghiên cứu và kết quả mang lại nhiều kỹ thuật mới, có tính đột phá về phương pháp chuẩn đoán bệnh, quy luật phát sinh, phát triển của rầy chổng cánh, thời vụ trồng, cây ký chủ cũng như áp dụng các biện pháp quản lý tổng hợp (sử dụng cây giống sạch bệnh, trồng ổi xen trong vườn cây có múi, quản lý tán hợp lý, sử dụng thuốc trừ sâu lưu dẫn và chương trình phun xịt phù hợp,…) đã góp phần quản lý hiệu quả đối tượng dịch hại này, góp phần phát triển bền vững ngành hàng cây có múi ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.  

QUẢN LÝ BỆNH VÀNG LÁ GREENING CÂY CÓ MÚI Ở CÁC TỈNH PHÍA NAM

Viện Cây ăn quả miền Nam

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Cây có múi là một trong những chủng loại cây ăn quả được ưa chuộng và được trồng ở nhiều nước trên thế giới. Hiện nay, diện tích cây có múi (cam, chanh, quýt, bưởi) cả nước ước khoảng hơn 200 ngàn ha (Cục Trồng trọt, 2022), trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long ước khoảng hơn 70 ngàn ha và được trồng tập trung ở các tỉnh: Tiền Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Bến Tre, Sóc Trăng, Trà Vinh,... Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau, diện tích trồng cây có múi (CCM) có xu hướng giảm (giảm khoảng 10 ngàn ha so với năm 2010) trong những năm gần đây. Một trong những nguyên nhân có thể kể đến đó là do dịch bệnh vàng lá Greening (VLG), bệnh gây hại ở mọi lứa tuổi làm giảm sản lượng và phẩm chất quả, mặc dù những tiến bộ kỹ thuật không ngừng phát triển nhưng hiện nay việc điều trị bệnh VLG vẫn không suy giảm và đang phát triển ngày càng trầm trọng hơn (Nguyễn Minh Châu và cs, 2001; Nguyen Van Hoa et al., 2004).

Bệnh vàng lá Greening (VLG) là bệnh mang tính hủy diệt cao trên cây có múi trên thế giới, bệnh này tấn công và gây hại trên phần lớn các vùng trồng cây có múi ở vùng á nhiệt đới và nhiệt đới của thế giới. Ở Châu Á, bệnh được phát hiện từ rất lâu ở Ấn Độ, Trung Quốc, Pakistan, Đài Loan, v.v. Tại Việt Nam, bệnh được ghi nhận từ những thập niên 1960, bệnh do vi khuẩn Candidatus Liberibacter asiaticus gây ra và được lan truyền qua rầy chổng cánh Diaphorina citri và cây giống không sạch bệnh và rất khó phòng trị (Da Graca, 1991; Lê Thị Thu Hồng, 2000).

Trong gần 20 năm qua, thông qua các Dự án hợp tác quốc tế (CIRAD-FLHOR, ACIAR, FFTC, JIRCAS và JICA), Viện Cây ăn quả miền Nam cùng các đối tác đã thực hiện nhiều nghiên cứu về phương pháp chuẩn đoán bệnh, quy luật phát sinh, phát triển của rầy chổng cánh, thời vụ trồng cũng như các biện pháp quản lý tổng hợp hiệu quả dịch hại này, góp phần phát triển ngành hàng cây có múi bền vững.  

II. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÁC BIỆN PHÁP KỸ THUẬT MỚI TRONG QUẢN LÝ BỆNH VLG

1. Về nghiên cứu cơ bản:

Sản xuất và sử dụng cây giống sạch bệnh: Việc sử dụng cây giống sạch bệnh được áp dụng ở nhiều nước trồng cây có múi. Ở Việt Nam, đặc biệt là ở các tỉnh phía Nam việc sản xuất cây giống sạch bệnh qua vi ghép đỉnh sinh trưởng kết hợp với lưu giữ trong nhà lưới hai cửa được thực hiện từ năm 1996 tại Viện Cây ăn quả miền Nam, cung cấp cây mẹ S1 cho các Trung tâm giống các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, v.v. để phục vụ nhân giống cây có múi sạch bệnh trên 26 giống. Ở Việt Nam, việc ứng dụng trong việc sản xuất và quản lý cây giống cây có múi sạch bệnh chưa được thực hiện triệt để, do vậy việc sản xuất cây giống cây có múi trôi nổi vẫn còn tràn lan, chưa thể quản lý được.

Ứng dụng kỹ thuật LAMP, PCR và phát triển bộ kit Iodine giám định nhanh bệnh vàng lá Greening phối hợp với triệu chứng điển hình của bệnh, cho hiệu quả khá cao, đơn giản, rẻ tiền, có thể áp dụng mọi lúc, mọi nơi, phục vụ rộng rải cho bà con nông dân trồng cây có múi và cán bộ kỹ thuật ở các tỉnh phía Nam (Lê Thị Thu Hồng và cs, 2004).

Xây dựng cơ sở dữ liệu về đa dạng di truyền tính chống chịu bệnh vàng lá Greening của 130 giống/loài thu thập, bao gồm: đặc điểm sinh học, đặc tính chống chịu (kháng/nhiễm bệnh), chỉ thị phân tử - có 32 primer (tổng số 54 primer) được thiết kế thể hiện sự đa dạng di truyền tính chống chịu bệnh Greening.

Ngoài ra, trong thời gian gần đây Viện cũng đã tập trung nghiên cứu chọn tạo ra một số giống/dòng gốc ghép CCM có khả năng thích ứng tốt với điều kiện biến đổi khí hậu được công nhận là TBKT mới và được chuyển giao cho sản xuất: hạn mặn, ngập úng, phèn, thối rễ.

+ Gốc ghép chống chịu mặn: Đã chọn được 08 dòng/giống cây có múi và con lai gồm: Tắc (quất), Sảnh, Bòng, bưởi Bung, bưởi Hồng Đường (Cần Thơ), bưởi Đường Hồng (Bình Dương), và 2 con lai (Tắc x Bưởi Lông Cổ Cò) và (Tắc x Bưởi Da Xanh) được đánh giá chống chịu mặn tốt ở nồng độ mặn NaCl 8‰ vào 56 ngày sau khi xử lý mặn. Ở điều kiện khảo nghiệm ngoài đồng, 5 dòng/giống cây múi chịu mặn: Sảnh, Bòng, bưởi Bung, bưởi Hồng Đường, bưởi Đường Hồng đã tiếp hợp tốt với các giống bưởi Da Xanh và cho quả có phẩm chất tương đương với quả thu hoạch từ cây chiết cành. 

+ Tổ hợp ghép chịu hạn: Tổ hợp cây ghép cam sành/trúc sinh trưởng và chịu hạn tốt, cho chất lượng quả tốt (Khối lượng quả: 317g, tỷ lệ nước quả: 41,24%, độ dày vỏ: 4,48 mm, màu sắc con tép vàng cam đậm, hương vị nước quả vị ngọt chua). Thích nghi tốt đối với vùng bán khô hạn, thiếu nước tưới vào mùa nắng, vùng đất núi tại Tịnh Biên và Tri Tôn, An Giang và các vùng khác có điều kiện sinh thái tương tự.

+ Tổ hợp ghép chịu phèn: Cam Mật không hạt trên gốc ghép cam Mật, tổ hợp này được Cục Trồng trọt công nhận là tiến bộ kỹ thuật. Thích nghi tốt đối với vùng đất phèn nặng (3<pH<4) thuộc khu vực Đồng Tháp Mười và các vùng có điều kiện sinh thái tương tự.

+ Gốc ghép chống chịu ngập úng: đối với cây có múi, các giống Bòng (Huế), bưởi Hồng Đường (Cần Thơ), bưởi Đường Hồng (Bình Dương) có khả năng chống chịu ngập sau 30 ngày xử lý trong điều kiện nhà lưới và có thể được sử dụng làm gốc ghép cho giống bưởi Da Xanh và bưởi Năm Roi.

2. Nghiên cứu các biện pháp quản lý tổng hợp bệnh vàng lá Greening

2.1. Diễn biến mật số rầy chổng cánh trong năm và sự lây lan

Kết quả điều tra diễn biến mật số rầy chổng cánh (RCC) tại 4 xã, bao gồm: xã Tân Phú Tây, huyện Mỏ Cày tỉnh Bến Tre (Hình 1A); xã Hòa Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long (Hình 1B); xã Mỹ Lương huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang (Hình 1C); xã Mỹ Đức Tây huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang (Hình 1D) cho thấy mật số RCC trung bình (trên 30 cây điều tra) tăng hay giảm đều tỷ lệ thuận với số lượng đọt non trên vườn cây cam sành. Khi so sánh diễn biến mật số RCC hiện diện trên vườn cam sành ở Tiền Giang, Bến Tre và Vĩnh Long ghi nhận mật số RCC thấp vào các tháng 9, 10, 11, 12 và cao nhất vào tháng 4, 6, 7 (Hình 2) (Đỗ Hồng Tuấn, 2011).

Thí nghiệm đánh giá khả năng bệnh VLG lây lan từ vườn nhiễm bệnh sang vườn khoẻ ghi nhận khoảng cách càng ngắn thì khả năng lây càng nhanh và ngược lại. Điển hình, vườn bưởi Năm Roi được trồng tại Châu Thành - Tiền Giang từ nguồn cây giống sạch bệnh có tỷ lệ cây nhiễm bệnh là 26,79% sau 5 năm trồng khi trồng cách ly nguồn bệnh (vườn bệnh) 30-40m, ngược lại đối với những vườn được trồng cách ly nguồn bệnh 500-700m có tỷ lệ nhiễm bệnh VLG rất thấp (6,12%) hoặc không nhiễm bệnh và có năng suất cao (năng suất 15 tấn/ha/năm; vườn 5 năm tuổi) (Tô Thị Hồng Yến và cs, 2010).

 

2.2. Thay đổi thời vụ trồng

Thông thường, nông dân ở các tỉnh vùng ĐBSCL trồng cây có múi vào thời điểm bắt đầu mùa mưa (từ tháng 5-7), tuy nhiên trong nghiên cứu cho thấy mật số rầy chổng cánh thường rất cao trong giai đoạn này, nhưng mật số lại thấp trong giai đoạn từ tháng 9 đến tháng 12. Một số công trình nghiên cứu khi trồng thử nghiệm cây có múi vào giai đoạn tháng 9, 10, 12 ghi nhận có tỷ lệ nhiễm bệnh VLG thấp đáng kể so với trồng vào giai đoạn tháng 5-7 (Ichinose và cs, 2010; Đỗ Hồng Tuấn, 2011).

2.3. Hạn chế mật số rầy chổng cánh bằng biện pháp trồng xen ổi

Từ năm 2003, Viện đã phối hợp với Đại Học Tây Sydney triển khai thí nghiệm sử dụng dầu khoáng nông nghiệp để quản lý rầy chổng cánh trên cây có múi tại Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Tuy nhiên, trong khi thực hiện thí nghiệm này, nhóm nghiên cứu đã phát hiện ra điều lý thú là trên vườn cam sành được trồng xen với cây ổi Xá lỵ nghệ có tỷ bệnh nhiễm rất nhẹ và mật số rầy chổng cành rất ít.

Tiếp theo, Viện tiến hành thí nghiệm đánh giá khả năng hạn chế mật số RCC thông qua việc trồng xen ổi Xá lỵ trong vườn cam sành. Kết quả ghi nhận, đối với mô hình trồng thuần (đối chứng), tỷ lệ nhiễm bệnh VLG (giám định PCR) ở thời điểm 6 tháng sau khi trồng là 2,31%, nhưng chỉ sau 06 tháng tiếp theo (cây 12 tháng) có tỷ lệ nhiễm bệnh VLG rất cao 61,7% và tỷ lệ nhiễm đạt 98,5% sau 24 tháng sau trồng. Ngược lại, mô hình cam sành trồng xen ổi (tỷ lệ 1:1) có tỷ lệ nhiễm bệnh VLG rất thấp (2,5 %) (Bảng 1) (Đỗ Hồng Tuấn và cs, 2005).

Bảng 1. Tỷ lệ nhiễm bệnh vàng lá Greening trên cam sành

tại xã Long Định, huyện Châu Thành, Tiền Giang (SOFRI, 2005)

Vườn

Tỷ lệ nhiễm bệnh (%)

6 tháng sau trồng

12 tháng sau trồng

24 tháng sau trồng

Trồng xen ổi

-

-

2,5

Đối chứng

2,31

61,7

98,5

Diễn biến mật số RCC trên hai lô cam sành trồng xen ổi Không hạt và ổi Xá lỵ (tháng 11/2010 đến tháng 12/2012) cao nhất vào tháng 7, cụ thể: Trên lô cam sành trồng/ổi Không hạt, mật số RCC tăng cao vào tháng 7 là 27 con/20 cây cam sành, trong khi đó, mật số RCC trên lô cam sành/ ổi Xá lỵ là 5 con/20 cây cam sành; Mật số RCC trên lô cam sành/ ổi Xá lỵ vào các tháng 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 đều thấp hơn mật số RCC trên lô cam sành/ổi Không hạt (Hình 3). Từ kết quả này có thể khẳng định rằng, khả năng xua đuổi RCC của cây ổi Xá lỵ là tốt hơn cây ổi Không hạt khi trồng xen với cây cam sành (Đỗ Hồng Tuấn, 2013).

Kết quả ghi nhận trên hai lô cam sành được áp dụng biện pháp trồng xen với hai giống ổi khác nhau nhưng áp dụng các giải pháp kỹ thuật như nhau: trồng xen ổi và trồng cây giống cam sành sạch bệnh vào thời điểm có mật số RCC thấp trong năm, bón phân hợp lý kết hợp với biện pháp tạo tán cây cam sành ở các giai đoạn khác nhau, quản lý đọt non theo hướng tập trung và áp dụng tưới thuốc lưu dẫn xung quanh cách gốc cam sành (10 cm),…có tỷ lệ bệnh VLG trên lô cam sành/ổi Không hạt là 7,94% (5 cây nhiễm/63 cây quan sát) và lô cam sành/ ổi Xá lỵ là 3,17% (2 cây nhiễm/63 cây quan sát) ở thời điểm 26 tháng sau trồng (Bảng 2) (Đỗ Hồng Tuấn, 2013).

Bảng 2. Tỷ lệ cây cam sành bị nhiễm bệnh VLG (SOFRI, 2013)

Tháng sau khi trồng

Tỷ lệ nhiễm bệnh VLG (%)

CS/ ổi Không hạt

CS/ ổi Xá lỵ

6 tháng

0,00

0,00

15 tháng

0,00

0,00

21 tháng

7,94

3,17

26 tháng

7,94

3,17

38 tháng

35,38

26,56

 

2.4. Xử lý thuốc trừ sâu lưu dẫn trên cây giống sạch bệnh trước và sau khi đem trồng

Hiệu quả lưu dẫn của các loại thuốc trừ sâu nhóm Neonicotinoid có thể kéo dài khoảng 1 tháng hoặc thậm chí có khi gần 6 tháng (Hayashikawa et al., 2006; Yasuda et al., 2007; Boina et al., 2009). Kết quả nghiên cứu của dự án JIRCAS-SOFRI ghi nhận khi xử lý cây giống cây có múi với thuốc trừ sâu lưu dẫn Imidacloprid hoặc Thiamethoxam hoặc Clothianidin trước khi mang đi trồng khoảng 10 ngày cho thấy thuốc Imidacloprid/ Thiamethoxam/Clothianidin có khả năng bảo vệ cây giống thông qua có hiệu lực quản lý côn trùng đến thời điểm 60 ngày sau khi trồng (Ichinose, 2010). Tuy nhiên, các loại thuốc BVTV nhóm này chỉ phát huy hiệu lực diệt chết rầy chổng cánh sau sử dụng từ 5-10 ngày (Ichinose et al., 2010). Đồng thời, khi kết hợp xử lý thuốc nhóm Neonicotinoid trước và sau khi trồng và trồng vào thời điểm có mật số rầy thấp có tỷ lệ nhiễm bệnh VLG thấp và ngược lại (Hình 4) (Ichinose et al., 2010).

2.5. Phục hồi bệnh VLG bằng biện pháp tiêm kháng sinh

Trên thế giới, những nghiên cứu về sử dụng kháng sinh Tetracyline trong việc khôi phục vườn CCM nhiễm bệnh vàng lá Greening (VLG) có từ lâu và đã mang lại hiệu quả nhất định trong quản lý bệnh VLG (Moll và van Vuuren, 1977; Moll et al., 1980; Bové, 1986; Schwarz và van Vuuren, 1970; Capoor và Thirumalachar, 1973; Shashi et al., 1996; Su và Chu, 1984; Su và Chang, 1986; Su, 2009). Ở Đài Loan, kỹ thuật tiêm kháng sinh vào CCM nhiễm bệnh VLG cũng đã được áp dụng tương đối phổ biến trong nghiên cứu và cả trong sản xuất (Su, 2009). Riêng ở khu vực Đông Nam Á, hai nước Thái Lan và Malaisia cũng đạt được một số thành công nhất định trong việc làm giảm sự thiệt hại do bệnh VLG gây ra thông qua ứng dụng kỹ thuật tiêm kháng sinh cho vườn CCM nhiễm bệnh (Bhavakum et al., 1979; Lily, 2009).

Năm 2009, nhóm nghiên cứu Viện Cây ăn quả miền Nam đã tiến hành nghiên cứu thử nghiệm sử dụng kháng sinh để hồi phục vườn bưởi Da xanh 5 năm tuổi. Kết quả ghi nhận: Tiêm Tetraclycline có khả năng giúp vườn cây bưởi da xanh phục hồi và hiệu quả quản lý bệnh VLG tốt hơn so với Penicillin. Khi kết hợp 2 kháng sinh này lại tiêm vào cây cho thấy 100% mẫu chồi test đều âm tính với bệnh vàng lá Greening (4 tháng sau tiêm). Tetracycline (Achromycin) và Penicillin đã có tác động tốt đến chiều dài chồi khi sử dụng đơn hay kết hợp để tiêm vào cây. Tetracyline cũng có tác động tốt đến sự gia tăng diện tích lá lớn hơn so với Penicillin. Ngoài ra, việc sử dụng kháng sinh phù hợp không gây dư lượng (test mẫu lá) ở thời điểm 8 tháng sau khi tiêm (Nguyễn Thành Hiếu và cs, 2011).

2.6. Các giải pháp khác

Loại bỏ triệt để cây bệnh: Hiệu quả của việc loại bỏ cây bệnh là rất cao, giúp loại bỏ mầm bệnh nguy hiểm trên vườn, tuy nhiên như trên đã phân tích, mầm bệnh không chỉ hiện diện trên cây biểu hiện triệu chứng mà còn hiện diện ở những cây chưa thể hiện triệu chứng hay mới chớm thể hiện, cho nên việc xác định cây nào nên loại bỏ và ngưỡng nào nên được áp dụng là vấn đề lớn cần được nghiên cứu xác định. Thêm vào đó là do cây vẫn tiếp tục cho quả nên việc loại bỏ cây bệnh là vấn đề rất khó khăn.

Giải pháp trồng thưa: Theo kiểu trồng truyền thống, khoảng cách giữa các cây cam sành là 2,5 m hoặc nhỏ hơn. Tuy nhiên, các mô hình trình diễn trong dự án SOFRI - JIRCAS cho thấy sự thành công về khoảng cách trồng cây cam sành với khoảng cách 3-4 m/cây kết hợp với việc tỉa cành, tạo tán rộng mang lại hiệu quả quản lý vườn tốt hơn, giảm được số lượng cây giống trên một đơn vị diện tích.

Ngoài ra, việc tăng cường chăm sóc cây đầy đủ: bón phân hữu cơ, dinh dưỡng đa trung vi lượng, tưới nước,…cũng như áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại theo hướng sinh học: sử dụng thiên địch (nuôi kiến vàng, ong ký sinh), nấm đối kháng (Paecilomyces, Trichoderma, Streptomyces,…) sẽ giúp kéo dài tuổi thọ và cải thiện năng suất, chất lượng quả vườn cây có múi.  

2.7. Xây dựng mô hình canh tác tổng hợp theo kỹ thuật mới của Nhật Bản trong quản lý bệnh VLG

Kế thừa các nghiên cứu nêu trên, đặc biệt từ dự án ACIAR, JIRCAS, tập hợp các giải pháp quản lý tổng hợp rầy chổng cánh - bệnh vàng lá Greening được dự án JICA tài trợ (2008-2014) và thông qua cải thiện hệ thống khuyến nông 5 tỉnh ĐBSCL là Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh và Sóc Trăng đã thực hiện trên 134 mô hình với diện tích trên 80 ha, mang lại hiệu quả cao trong việc quản lý bệnh HLB, kéo dài tuổi thọ cây cam sành và tăng nguồn thu nhập cho người dân trồng cam sành vùng triển khai dự án ở 5 tỉnh kể trên (JICA, 2014).

Bảng 3. Hiện trạng thực hiện mô hình mẫu ở 5 tỉnh (đến tháng 3 năm 2014)

Tỉnh

Số

nông dân

Diện tích

(ha)

Thiết lập (tháng, năm)

Tui cây

(năm)

Tỷ lệ nhiễm bệnh VLG (PCR) (tính đến tháng 3/2014)

Mô hình mẫu (PMF)

Tiền Giang

2

2

T7/2010

3,3

X

Bến Tre

3

1,7

T6/2010

3,3

Vĩnh Long (2009)

2

2

T12/2009

4,1

X

Sóc Trăng

2

1,62

T6/2010

3,3

X

Trà Vinh

2

1,4

T6/2010

3,3

--

Tổng

11

8,72

 

 

Mô hình năm thứ 2 thiết lập 2011(SMF1)

Tiền Giang  (2011)

12

10,75

T10/2011

2,2

X

Bến Tre       (2011)

10

5,4

T8/2011

2,2

Vĩnh Long (2010)

18

9,86

T7/2010

3,3

X

Sóc Trăng  (2011)

8

7,2

T9/2011

2,2

Trà Vinh    (2011)

20

9,7

T9/2011

2,2

X

Tổng

68

42,91

 

 

Mô hình năm thứ 2 thiết lập 2012 (SMF2)

Tiền Giang  (2012)

12

6,85

T10/2012

1,2

X

Bến Tre       (2012)

11

5,5

T10/2012

1,2

Vĩnh Long  (2011)

16

8,04

T10/2011

2,2

X

Sóc Trăng   (2012)

6

4,3

T10/2012

1,2

Trà Vinh     (2012)

12

5,57

T10/2012

1,2

Tổng

57

30,26

 

 

TNG CNG

136

81,89

 

 

Ghi chú: (1) PMF:  Mô hình năm thứ nhất (2009-2010); (2) SMF1: Mô hình năm thứ hai giai đoạn 2011; (3) SMF2: Mô hình năm thứ hai giai đoạn 2012; (4) ◎: Tỷ lệ bệnh Greening dưới 5%; (5)○: Tỷ lệ bệnh Greening từ 5 ~20%; (6) △: Tỷ lệ bệnh Greening từ 20~50%; (7) X: Tỷ lệ bệnh Greening trên 50%; (8) ○△: Một số vườn nhiễm khá cao; (9) ○△X: Nhiều vườn bị nhiễm khá cao.

III. KẾT LUẬN

Tóm lại, để quản lý hiệu quả bệnh vàng lá Greening cần áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp vào sản xuất, bao gồm: tiêu huỷ cây bệnh trên vườn và sử dụng cây giống sạch bệnh; dựa vào quy luật diễn biến mật số rầy chổng cánh và bố trí thời vụ trồng phù hợp; trồng xen ổi vào vườn cây có múi; sử dụng thuốc trừ sâu lưu dẫn và chương trình phun xịt để kiểm soát rầy chổng cánh; sử dụng thiên địch/nấm ký sinh, quản lý cây ký chủ của RCC,…; Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức và cập nhật kiến thức, thông tin KHKT, liên kết sản xuất, nâng cao chuỗi giá trị, quản lý các dịch hại quan trọng khác (bệnh thối rễ, sâu đục quả,…) cũng như có những chính sách phù hợp để khuyến khích sản xuất CCM bền vững hơn trong thời gian tới.  

 Xem file kèm theo: Quản lý bệnh vàng lá trên cây có múi ở phía Nam

Gửi ý kiến của bạn


Tin cũ hơn

Liên kết website

Video Clip

Thông tin tiện ích

CÔNG TY TNHH NÔNG NGHIỆP XANH VIỆT NAM Công ty phượng hoàng

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá như thế nào về hoạt động của Hội Làm vườn Việt Nam
Hoạt động có hiệu quả
Hoạt động không hiệu quả
Không có ý kiến
 
Danh bạ điện thoại Hỏi đáp Văn bản Liên hệ

FaceBook

Thống kê truy cập

  • Trực tuyến: 60
  • Lượt xem theo ngày: 5853
  • Tổng truy cập: 3786725