GIẢI PHÁP PHỤC HỒI, PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÂY CÓ MÚI - 2. Hiện trạng sản xuất cam, bưởi, quýt và chanh ở nước ta - Hội Làm vườn Việt Nam

GIẢI PHÁP PHỤC HỒI, PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÂY CÓ MÚI 2. Hiện trạng sản xuất cam, bưởi, quýt và chanh ở nước ta

BBT: Cam, bưởi, quýt và chanh là 4 loại cây ăn quả có múi quan trọng, có diện tích lớn nhất ở nước ta...

Hiện trạng sản xuất cam, bưởi, quýt và chanh ở nước ta

TS. Lê Văn Đức , Nguyên Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt

 

1. Tình hình sản xuất cam

Đến hết năm 2022, diện tích cam cả nước đạt 90,7 nghìn ha, trồng mới 6,8 nghìn ha, năng suất 24,1 tạ/ha, sản lượng 1.804,7 nghìn tấn, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích lớn nhất 36,6 nghìn ha. Các tỉnh sản xuất chủ yếu gồm: Hà Giang, Tuyên Quang, Hòa Bình, Bắc Giang, Hà Nội, Hải Dương, Nghệ An, Hà Tĩnh.

Một số thuận lợi: Điều kiện sinh thái nước ta thuận lợi cho phát triển cây cam, tạo nên các vùng cam đặc sản thơm ngon như cam Cao Phong (Hòa Bình); cam sành (Tiền Giang, Hà Giang, Tuyên Quang); cam canh (Hà Nội, Hưng Yên), cam xoàn (Lai Vung Đồng Tháp). Cam là cây ăn quả có nhu cầu tiêu thụ ăn tươi và nước ép liên tục tăng; có thể tham gia thị trường xuất khẩu với các sản phẩm cam ép.

Một số khó khăn: Bộ giống cam nước ta chủ yếu là những giống nhập nội từ lâu hoặc tuyển chọn từ sản xuất có năng suất, chất lượng chưa cao đặc biệt nhiều hạt, khả năng cạnh tranh chưa cao, giá trị xuất khẩu thấp.

Nhiều diện tích trồng chưa đảm bảo thiết kế nương đồi, giống chưa sạch bệnh, kỹ thuật trồng, chăm sóc hạn chế… dẫn đến vườn cam nhanh bị suy thoái, rút ngắn chu kỳ cho thu hoạch; công nghệ bảo quản chưa tốt, chưa có nhiều nhà máy chế biến, hiệu quả sản xuất chưa cao.

Một số lưu ý phát triển cam thời gian tới:

- Chọn cơ cấu giống theo hướng rải vụ thu hoạch: Giống sớm, giống chính vụ, giống muộn, rải vụ thu hoạch theo vùng sinh thái và sử dụng các biện pháp xử lý trái vụ. Đồng thời căn cứ thị trường cũng cần định hướng giống phục vụ nội tiêu, xuất khẩu, ăn tươi, vắt nước cho phù hợp và hiệu quả.

- Từng bước có giải pháp trồng tái canh vùng cam đang bị suy thoái, già cỗi hiệu quả sản xuất không cao, trên cơ sở luân canh cải tạo đất, trồng đúng kỹ thuật và sử dụng giống đảm bảo chất lượng, rõ nguồn gốc và sạch bệnh.

2. Tình hình sản xuất bưởi

Đến năm 2022, diện tích bưởi đạt 110,2 nghìn ha, trồng mới 6,2 nghìn ha, năng suất 13,4 tạ/ha, sản lượng 1.140,4 nghìn tấn, trong đó 2 vùng có diện tích lớn nhất là Trung du miền núi phía Bắc 32,1 nghìn ha, Đồng bằng sông Cửu Long: 30,9 nghìn ha.

Các tỉnh sản xuất chủ yếu gồm: Phú Thọ, Bắc Giang, Hòa Bình, Tuyên Quang, Hà Nội, Bến Tre, Vĩnh Long, Đồng Nai...

Tiềm năng, lợi thế 

Việt Nam là quốc gia lớn về diện tích, sản lượng bưởi, sau Trung Quốc (4,9 triệu tấn).

Có nhiều giống bưởi đặc sản quý có giá trị hàng hóa, chất lượng cao. Tuy nhiên ngoại trừ giống bưởi Da xanh, Năm Roi (phổ biến tại phía Nam), giống bưởi phía Bắc thường có nhiều hạt làm hạn chế khả năng cạnh tranh. Trong điều kiện miền Nam, giống bưởi da xanh cho quả quanh năm nên được nhiều địa phương liệt kê vào nhóm cây ăn quả có tiềm năng và lợi thế cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.

Bưởi được trồng ở nhiều vùng sinh thái của nước ta. Người trồng bưởi đã có nhiều kinh nghiệm để đạt năng suất, chất lượng cao. Nước ta có nhiều giống bưởi đặc sản thích nghi với nhiều vùng sinh thái, rải vụ thu hoạch. Chất lượng bưởi Việt Nam: Các giống bưởi đặc sản của Việt Nam thơm ngon, có độ ngọt vừa phải, hình thức đẹp được người tiêu dùng ưa thích.

Bưởi là loại quả to nhất trong các loại quả của cây có múi, vỏ dày, việc thu hoạch, vận chuyển, đóng gói dễ dàng; Việc xử lý, làm sạch quả, kiểm tra, loại bỏ các quả có triệu chứng bị sâu bệnh hại, không đảm bảo xuất khẩu cũng được thực hiện thuận lợi đối với quả bưởi.

Bưởi là loại quả có thể bảo quản được lâu (khoảng 90 ngày mà không ảnh hưởng đến chất lượng) nên rất phù hợp để vận chuyển bằng đường biển từ Việt Nam sang các nước khác, vì vậy chi phí vận chuyển không cao;

Thị trường xuất khẩu bưởi ngày càng rộng thông qua việc quảng bá thương hiệu bưởi ở các hội chợ trong nước và quốc tế. Việt Nam hoàn toàn có điều kiện nâng cao thị phần, vị trí trong xuất khẩu bưởi thế giới so vị trí, tiềm năng lợi thế hiện có và nhu cầu thị trường.

Khó khăn, tồn tại

Sản xuất bưởi của Việt Nam còn manh mún và đã xuất hiện những dấu hiệu không bền vững, khó tạo đồng đều về mẫu mã và chất lượng để xuất khẩu với quy mô lớn. Nhận thức và hiểu biết về áp dụng các biện pháp thực hành nông nghiệp tốt và tuân thủ các quy định trong sản xuất, xuất khẩu nông sản an toàn của không ít doanh nghiệp và người sản xuất còn hạn chế.

Thị trường luôn biến động, các mô hình liên kết sản xuất tiêu thụ và sự gắn kết chuỗi giá trị sản phẩm chưa thật sự chặt chẽ, còn mang tính hình thức, vì vậy phát huy hiệu quả chưa cao.

Biến đổi khí hậu đang tác động mạnh mẽ đến chất lượng bưởi ở một số vùng như khô tôm của trái bưởi ở một số giống bưởi trồng tập trung ở một số vùng trong cả nước chưa có biện pháp khắc phục có hiệu quả.

Thông tin thị trường về sản phẩm quả tươi và sản phẩm chế biến, cũng như hoạt động xúc tiến thương mại sản phẩm bưởi tại thị trường tiềm năng còn nhiều hạn chế.

Một số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu bưởi

Quản lý tốt vùng trồng và các cơ sở đóng gói bưởi xuất khẩu đảm bảo chất lượng, giám sát chặt chẽ sinh vật gây hại, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên quả bưởi và truy xuất được nguồn gốc bưởi xuất khẩu. 

Để có biện pháp phòng trừ ruồi đục quả đạt hiệu quả, doanh nghiệp cần phối hợp chặt chẽ cùng nông dân để xây dựng vùng nguyên liệu bưởi đạt chuẩn, đáp ứng yêu cầu thị trường, tổ chức tốt khâu vệ sinh đồng ruộng, vườn trồng, thường xuyên thu, hái và đem tiêu hủy toàn bộ trái rụng trên mặt đất và trái còn đeo trên cây là nơi ruồi lưu tồn. Cắt tỉa, tạo tán cho vườn bưởi thông thoáng, sử dụng bả protein để diệt ruồi đực, sử dụng túi bao quả khi thấy ruồi đục quả xuất hiện, khi quả chín sinh lý hướng sẫn người sản xuất thu hoạch kịp thời.

Tiếp tục đầu tư phục tráng một số giống bưởi có năng suất, chất lượng, rải vụ thu hoạch, chống chịu sâu bệnh hại, thích ứng điều kiện biến đổi khí hậu, phù hợp với người tiêu dùng. Xây dựng và khai thác hiệu quả hệ thống sản xuất, cung ứng cây giống bưởi sạch bệnh phục vụ trồng mới, tái canh và ghép cải tạo.

Tổ chức liên kết sản xuất có truy xuất nguồn gốc, nâng cao chất lượng, sản xuất an toàn, rải vụ thu hoạch, xây dựng thương hiệu, tăng khả năng cạnh tranh với các nước có cùng mặt hàng xuất khẩu bưởi.

Tiếp tục hỗ trợ địa phương và doanh nghiệp thông tin thị trường, dự báo thị trường bưởi, xúc tiến thương mại chú ý quảng bá sản phẩm bưởi không chỉ chất lượng, an toàn, tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật mà sản phẩm còn thực hiện được trách nhiệm xã hội, tiêu chuẩn môi trường, tiêu dùng xanh để doanh nghiệp đi quảng bá, gửi đến người tiêu dùng châu Âu về một nền nông nghiệp xanh của Việt Nam./.

3. Tình hình sản xuất chanh

Năm 2022, diện tích chanh cả nước đạt 42,7 nghìn ha, trồng mới 4,3 nghìn ha, năng suất 14,7 tạ/ha, sản lượng 525,8 nghìn tấn, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích lớn nhất 29,7 nghìn ha.

Đặc biệt, giống chanh không hạt (nhập từ Mỹ) trở thành mặt hàng xuất khẩu có giá trị do đặc tính không có hạt (hoặc rất ít hạt) tại vùng ĐBSCL.

Các tỉnh trọng điểm có diện tích trồng chanh lớn là Long An (11,4 nghìn ha), Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Hậu Giang, Sóc Trăng (trên 2 nghìn ha mỗi tỉnh).

Giá trị xuất khẩu chanh Việt Nam liên tục tăng: từ 0,65 triệu USD năm 2010 lên 15,2 triệu USD năm 2015 và 32,2 triệu USD năm 2016, hơn 54 triệu USD năm 2018, đạt 41,5 năm 2019 và 47 triệu USD năm 2020, đạt 52 triệu USD vào năm 2021.

Cần nghiên cứu, chọn tạo các giống chanh phù hợp thị trường xuất khẩu, thực hiện sản xuất rải vụ thu hoạch để tiếp tục thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu sản phẩm chanh trong thời gian tới.

4. Tình hình sản xuất quýt

Diện tích quýt năm 2022 đạt 18,2 nghìn ha, trồng mới 0,8 nghìn ha, năng suất 13,4 tạ/ha, sản lượng 201,2 nghìn tấn, trong đó 2 vùng có diện tích lớn nhất là Trung du miền núi phía Bắc 6,0 nghìn ha, Đồng bằng sông Cửu Long: 4,9 nghìn ha.

Các tỉnh sản xuất chủ yếu gồm: Bắc Kạn, Lạng Sơn, Nghệ An, Đồng Nai, Đồng Tháp, Hậu Giang (trên 1000 ha/tỉnh).

Đối với sản xuất quýt, các địa phương cần tiếp tục bình tuyển cây đầu dòng, xây dựng vườn đầu dòng các giống quýt cho năng xuất, chất lượng cao, tái canh diện tích già cỗi hiệu quả sản xuất không cao, sản xuất an toàn phục vụ nội tiêu, tiến tới đẩy mạnh xuất khẩu.

Gửi ý kiến của bạn


Tin mới hơn

Tin cũ hơn

Liên kết website

Video Clip

Thông tin tiện ích

CÔNG TY TNHH NÔNG NGHIỆP XANH VIỆT NAM Công ty phượng hoàng

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá như thế nào về hoạt động của Hội Làm vườn Việt Nam
Hoạt động có hiệu quả
Hoạt động không hiệu quả
Không có ý kiến
 
Danh bạ điện thoại Hỏi đáp Văn bản Liên hệ

FaceBook

Thống kê truy cập

  • Trực tuyến: 79
  • Lượt xem theo ngày: 5687
  • Tổng truy cập: 3786559