GIẢI PHÁP PHỤC HỒI, PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÂY CÓ MÚI 6. Ứng dụng công nghệ SOFIX và đề xuất giải pháp khắc phục các yếu tố hạn chế về sức khỏe đất trồng cam

BBT: SOFIX (Soil Fertility Index) là công nghệ đánh giá sức khỏe đất dựa vào mối quan hệ của chất hữu cơ của đất và vi sinh vật để tái sử dụng nguồn hữu cơ của địa phương nhằm xây dựng nền nông nghiệp tuần hoàn bền vững, thân thiện với môi trường. SOFIX đánh giá tính chất vi sinh trên cơ sở khoa học, kết hợp với tính chất hóa, lí đất (19 chỉ tiêu), công nghệ mang tính đột phá trong đánh giá và đề xuất biện pháp phù hợp nhằm nâng cao sức khỏe đất và năng suất cây trồng, giảm phân bón hóa học, tăng tích lũy carbon và giảm phát thải khí nhà kính. Kết quả phân tích cho thấy, các loại đất tại 4 địa điểm nghiên cứu thuộc đất loại C, số lượng vi khuẩn, khả năng chuyển hóa NH4+, NO2-, N và P thấp so với khuyến cáo của SOFIX. Hàm lượng tổng và dễ tiêu của N, P và K đa phần đạt ngưỡng khuyến cáo. Do đó, quá trình bón phân cần tính toán để giảm lượng phân khoáng phù hợp cho từng loại cây và mùa vụ.  

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ SOFIX CHẨN ĐOÁN SỨC KHỎE

VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC CÁC YẾU TỐ HẠN CHẾ VỀ SỨC KHỎE ĐẤT TRỒNG CAM

Nguyễn Văn Hiềna, Trần Minh Tiếna, Phạm Văn Dânb, Nguyễn Thị Thu Hằnga, Đàm Thị Thanh Hàa,

Nguyễn Văn Trungb, Nguyễn Quốc Thịnhc, Motoki Kuboc

a Viện Thổ nhưỡng Nông hóa; b Trung tâm Chuyển giao công nghệ và Khuyến Nông; c Đại học Ritsumeikan - Nhật Bản

1. Đặt vấn đề

Phân bón hóa học có những đóng góp rất to lớn trong việc nâng cao sản lượng lương thực để đáp ứng nhu cầu lương thực trong hơn thể kỷ vừa qua (Tilman, 1998). Tuy nhiên bên cạnh làm tăng chi phí đầu vào thì sử dụng phân hóa học làm tăng rửa trôi các chất dinh dưỡng và phát thải khí nhà kính (Gyaneshwar et al, 2002). Sự rửa trôi N và P theo chiều sâu phẫu diện đất đã ảnh hưởng đến sự phát triển của hệ vi sinh vật đất và gây ô nhiễm nguồn nước (Savci, 2012). Do đó, việc chuyển dịch từ nền nông nghiệp dựa vào phân bón hóa học sang nền nông nghiệp theo hướng hữu cơ là một xu hướng tất yếu để bảo vệ môi trường (Adhikari et al, 2014) và đa dạng sinh học. Tính chất lý học, hóa học và sinh học đất là 3 yếu tố hợp thành tạo nên độ phì nhiêu đất. Nhìn chung, nền nông nghiệp thâm canh dựa vào phân bón hóa học thường quan tâm đến tính chất lý hóa học của đất và xem nhẹ vai trò của hệ sinh học đất. Các công cụ đánh giá đất được sử dụng trong thời gian vừa qua thường chú trọng đánh giá độ phì nhiêu đất thông qua tính chất lý học và hóa học của đất. Các thang đánh giá độ phì nhiêu đất được xây dựng hầu như chưa đề cập đến vai trò của hệ sinh học đối với độ phì nhiêu đất. Các nghiên cứu về dinh dưỡng cho cây trồng thường chú trọng đến cân đối giữa các yếu tố hóa học N, P, K trong khi các hoạt động chuyển hóa các chất dinh dưỡng trong đất do vi sinh vật lại ít được quan tâm. Khái niệm cân đối giữa các yếu tố lý, hóa và sinh học đất hầu như rất ít được đề cập.

 Cùng với mối quan tâm về vấn đề môi trường, an ninh lương thực và hiệu quả kinh tế của nền nông nghiệp thâm canh thì phát triển nông nghiệp hữu cơ và bảo vệ đa dạng sinh học đang ngày càng được các nhà khoa học và chính phủ các nước quan tâm. Nền nông nghiệp theo hướng hữu cơ xem vai trò của các yếu tố sinh học như hàm lượng chất hữu cơ, hệ vi sinh vật, các hoạt động chuyển hóa dinh dưỡng là các yếu tố quan trọng để cải thiện độ phì nhiêu đất. Vi sinh vật đóng vai trò rất quan trọng trong việc phân hủy các hợp chất hữu cơ và chuyển hóa các chất dinh dưỡng dễ tiêu cho cây trồng như N, P và S trong đất (Marschner et al, 2007). Mặt khác, lượng vi sinh vật đất được xem là kho dự trữ dinh dưỡng cho cây trồng. Phương pháp đánh giá độ phì nhiêu đất SOFIX (Soil Fertility Index) được phát triển bởi Giáo sư Kubo của Nhật Bản là một trong những cách tiếp cận mới đối với nền nông nghiệp theo hướng hữu cơ. SOFIX chú trọng đến cân bằng giữa 3 yếu tố trong đất là tính chất lý học, hóa học và sinh học. Phương pháp SOFIX tập trung bảo vệ hệ vi sinh vật đất và xem hoạt động của chúng là yếu tố trung tâm để duy trì, nâng cao độ phì nhiêu của đất và hiệu quả sử dụng phân bón. Hàm lượng các chất dinh dưỡng tổng số, dễ tiêu được đặt trong mối quan hệ với hoạt động của hệ vi sinh vật đất và tính chất lý học của đất. Cách tiếp cận của công nghệ SOFIX là đánh giá độ phì nhiêu đất dựa trên thang đánh giá tối ưu trong mối tổng hòa giữa 3 yếu tố: lý, hóa và sinh học đất, từ đó tính toán lượng phân bón đặc biệt là phân hữu cơ để bổ sung cho đất để đảm bảo các yếu tố đều nằm trong ngưỡng tối ưu. Phương pháp SOFIX đã xây dựng được 17 chỉ số để đánh giá độ phì nhiêu tối ưu của đất gồm: pH, EC, tổng C (TC), tổng N (TN), tổng P (TB), tổng K (TK), NH4+-N, NO3--N, P dễ tiêu ,K dễ tiêu, tỷ số C/N, C/P2O5, chỉ số chuyển hóa N, chỉ số chuyển hóa P, sinh khối vi sinh vật (x 108TB/g), mức độ ôxy hóa NH4+-N, mức độ ôxy hóa NO3--N.

Phương pháp SOFIX là một công cụ rất mới của Nhật Bản trong đánh giá đất và phát triển nông nghiệp hữu cơ, bảo vệ đa dạng sinh học. Phương pháp do nhóm nghiên cứu của GS Motoki Kubo - Đại học Ritsumeikan - Nhật Bản nghiên cứu và phát triển. Mục tiêu lớn nhất của phương pháp này là chú trọng đến các yếu tố sinh học để duy trì và cải thiện độ phì nhiêu đất như phân hữu cơ, vi sinh vật đất để chuyển hóa các chất dinh dưỡng nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả sử dụng phân bón. Phương pháp đặt vai trò đa dạng sinh học trong đất làm trung tâm trong mối tổng hòa với tích chất lý hóa học để duy trì độ phì nhiêu đất ở mức “Tối ưu” và nâng cao năng suất trong hệ thống canh tác theo hướng hữu cơ, bảo vệ đa dạng sinh học. Tăng cường sử dụng các nguồn phân hữu cơ, nâng cao sinh khối và hoạt tính của tập đoàn vi sinh vật đất để tái sử dụng, chuyển hóa và làm kho dự trữ dinh dưỡng cho cây trồng nhằm hạn chế rửa trôi mất các hợp chất dinh dưỡng, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón. Mục tiêu của nghiên cứu này là áp dụng phương pháp SOFIX để đánh giá sức khỏe đất trồng cam trong thời gian dài thâm canh và sử dụng phân bón hữu cơ SOFIX để phục hồi sức khỏe đất.

2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1. Đối tượng và thời gian nghiên cứu.

- Đối tượng đất: Nghiên cứu tập trung vào đánh giá sức khỏe đất cho cam Cao Phong ở thị trấn Cao Phong - huyện Cao Phong – tỉnh Hòa Bình.

- Đối tượng cây trồng: Cam nghiên cứu ở thời kỳ kinh doanh có độ tuổi >7 năm.

- Thời gian nghiên cứu: 2022-2023

2.2. Phương pháp lấy mẫu đất.

2.2.1. Hướng dẫn lấy mẫu đất SOFIX

- Về độ ẩm của mẫu đất: Mẫu đất nên lấy đất vào ngày nắng, tránh thời tiết quá nóng, hanh khô hoặc vào lúc trời mưa, đất cần được duy trì được độ ẩm ổn định. Không lấy các phần đất đã bị khô. Ngoài ra, không làm khô đất sau khi mẫu lấy về vì nhiều vi sinh vật có thể bị chết khi đất bị khô.

- Về địa điểm lấy mẫu đất: Lấy mẫu đất từ nhiều vị trí trên thực địa với cùng một điều kiện. Trong cùng một khu vực lấy ít nhất 5 mẫu đất, trong trường hợp phạm vị lấy mẫu rộng thì có thể lấy nhiều vị trí hơn (Tham khảo hình 1)

Hình 1. Sơ đồ lấy mẫu đất SOFIX

- Cách lấy mẫu: Bỏ đi các phần đất bị khô và lấy mẫu ở độ sâu khoảng 15cm (Tham khảo hình 2

 

 

Hình 2. Phương pháp lấy mẫu đất ngoài đồng ruộng

- Các mẫu đất lấy từ các vị trí khác nhau phải bằng nhau về khối lượng.

 Ví dụ về lượng lấy đúng và sai về khối lượng

TT

Điểm 1

Điểm 2

Điểm 3

Điểm 4

Điểm 5

Đúng

100 g

100 g

100 g

100 g

100 g

Sai

200 g

100 g

100 g

100 g

50    

- Trộn tất cả các mẫu lấy từ nhiều điểm với nhau, loại bỏ tối đa rễ cây và sỏi đá dính trong đất.

- Cho khoảng 200~300g mẫu đất vào túi nilong sau đó buộc kín. Trước khi buộc kín túi cần cho một ít không khí vào trong túi (Vi sinh vật trong đó cần không khí để hoạt động). Mẫu sau khí lấy xong gửi sang Nhật Bản càng nhanh càng tốt. Không làm đông lạnh mẫu vì ảnh hưởng đến hoạt động của vi sinh vật.

2.2.2. Tiến hành lấy mẫu đất trước thí nghiệm

- Chọn 03 vườn cam ở độ tuổi kinh doanh, có địa hình tương đối giống nhau để tiến hành lấy mẫu đất và bố trí thí nghiệm. Mỗi vườn chọn 05 vị trí tương ứng với cây đại diện nhất của vườn để lấy 05 mẫu đất. Mỗi vị trí (01 mẫu) lấy 05 điểm (03 điểm ngoài tán và 02 điểm trong tán) cách tán (dropline) 20 - 30 cm, trộn đều 05 điểm và cho vào 01 túi (01 mẫu).

- Thời kỳ lấy mẫu: mẫu đất được lấy vào thời kỳ sau thu hoạch

- Độ sâu lấy mẫu: 0-15 cm

2.2.3. Các chỉ tiêu phân tích

- Các mẫu đất sau đó được gửi sang Đại học Ritsumeikan - Nhật Bản để phân tích. Phương pháp phân tích không được phía Nhật Bản chia sẻ vì liên quan đến bản quyền công nghệ SOFIX.

- Các chỉ tiêu phân tích (19 chỉ số) gồm: pH, EC, TC, TN, TP, TK, NO3-, NH4+, K, và P dễ tiêu, chuyển hóa N, chuyển hóa NH4+, chuyển hóa NO3- hóa, chuyển hóa lân, C/N, C/P, tổng vi khuẩn, độ ẩm và khả năng giữ nước (KNGN).

-  Thang đánh giá của công nghệ SOFIX được mô tả ở Bảng 1.

 

Bảng 1. Đánh giá độ phì nhiêu đất bằng phương pháp SOFIX

TT

Chỉ tiêu đánh giá

Đất phân tích

Giá trị khuyến cáo SOFIX

Ký hiệu

(ví dụ)

1

NH4+-N (mg/kg)

?

50 - 200

2

NO3--N (mg/kg)

?

50 - 200

3

P2O5 dễ tiêu (mg/kg)

?

50 - 200

4

K2O dễ tiêu (mg/kg)

?

50 - 200

5

C/N

?

8 - 25

6

C/P2O5 

?

8 - 15

7

TC (mg/kg)

?

≥ 25,000

8

Nts (mg/kg)

?

≥ 2,500

9

P2O5ts (mg/kg)

?

≥ 3,000

10

K2Ots (mg/kg)

?

≥ 3,000

11

Chuyển hóa N (điểm)

?

≥ 50

12

Sinh khối vi sinh vật (×108 TB/g)

?

≥ 6.0

13

Chuyển hóa NH4+ (điểm)

?

≥ 6.0

14

Chuyển hóa NO3- (điểm)

?

≥ 6.0

15

Chuyển hóa P (diểm)

?

≥ 30

16

pHH2O

?

5.5 - 6.5

17

EC (dS/m)

?

0.2 -1.2

18

Độ ẩm, %

?

≥ 20

19

Khả năng giữ nước (ml/kg)

?

≥ 400

Ghi chú: ↓: chỉ tiêu đánh giá thấp hơn; ○ đạt giá trị khuyến cáo, : chỉ tiêu đánh giá cao hơn giá trị khuyến cáo.

2.2.4. Phân loại sức khỏe đất

Dựa trên dữ liệu phân tích đất của Nhật Bản, công nghệ SOFIX đã phân loại sức khỏe đất thành 9 loại (A+, A1~2, B1~3, C1~2, và D) dựa vào số lượng vi khuẩn, lượng chất hữu cơ, và sự chuyển hóa dinh dưỡng trong đất.

Hình 3. Phân loại sức khỏe đất của SOFIX

Đất đạt loại B trở lên sẽ được cấp chứng nhận. Ngoài ra, đất ruộng lúa và đất cây lâu năm cũng được phân loại và chứng nhận tương tự.

2.3. Bố trí thí nghiệm.

- Chọn 3 vườn đã tiến hành lấy mẫu đất để bố trí thí nghiệm.  Mỗi vườn chọn 15 cây, chia làm 3 công thức, mỗi công thức 05 cây. Công thức thí nghiệm được mô tả ở Bảng 2.

- Công thức thí nghiệm như sau:

Bảng 2. Công thức thí nghiệm cho cây cam ở Hòa Bình

Công thức

Mức phân bón

Ghi chú

CT1

Bón theo Nông dân

Đối chứng (ĐC)

CT2

SOFIX

Điều chỉnh 1

CT3

Đối chứng + SOFIX

Điều chỉnh 2

2.4. Bón phân SOFIX

Sau khi có kết quả phân tích sức khỏe đất của các vườn cam, nhóm nghiên cứu của GS Motoki Kubo - Đại học Ritsumeikan - Nhật Bản tính toán lượng phân bón và hướng dẫn cho nhóm nghiên cứu Viện Thổ nhưỡng Nông hóa bón theo từng đợt. Phương pháp tính toán không được phía Nhật Bản chia sẻ vì liên quan đến Công nghệ SOFIX.

3.Kết quả và thảo luận

3.1 Kết quả phân tích đất trồng cam tại Hòa Bình

- Chỉ số liên quan đến sinh học đất (giá trị đo liên quan đến tuần hoàn vật chất):

Kết quả phân tích đất 03 vườn cam cho thấy, tổng số vi khuẩn của 3 vườn cam dao động từ 1,5 - 1,7 x 108 TB/g thấp hơn so với giá trị khuyến cáo (≧6.0 x 108 TB/g. Các chỉ số chuyển hóa dinh dưỡng như NH4+(điểm), NO2- (điểm), N (điểm) và P (điểm) đa phần thấp hơn giá trị khuyến cáo. Đặc biệt, khả năng chuyển hóa lân (P) của các vườn cam đều bằng 0.

Bảng 3. Kết quả phân tích các chỉ số liên quan sinh học đất

Chỉ tiêu

Giá trị

khuyến cáo

Vườn1

Vườn2

Vườn3

Tổng vi khuẩn(x 108 TB/g)

≧6.0

1.5

1.7

1.5

Chuyển hóa NH4+(điểm)

≧41

80

39

34

Chuyển hóa NO2- (điểm)

≧70

30

36

38

Chuyển hóa N (điểm)

≧38

18

12

10

Chuyển hóa P (điểm)

30-70

0

0

0

TC (mg/kg)

≧25,000

18 964

23 306

18 230

TN (mg/kg)

≧1,500

1 788

1 904

1 705

TP (mg/kg)

≧1 100

1 157

1 809

1 085

TK (mg/kg)

2500-10000

3 411

2 515

3,361

C/N

15-30

11

12

11

C/P

8-20

16

13

17

Ghi chú: ↑: cao, ↓: thấp, ○: giá trị tiêu chuẩn (tối ưu), TB: tế bào

Tuy nhiên, hàm lượng đạm tổng số (TN), lân tổng số (TP) và kali tổng số (TK) đều cao và nằm trong ngưỡng khuyến cáo của SOFIX. Hàm lượng tổng carbon trong đất (TC) và tỷ lệ C/N của 03 vườn đều thấp hơn ngưỡng khuyến cáo. Trong khi đó tỷ lệ C/P của 3 vườn nằm trong ngưỡng khuyến cáo.

- Các chỉ tiêu liên quan đến tính chất hóa học và vật lý đất:

Kết quả phân tích đất ở Bảng 4 cho thấy, hàm lượng NO3- (12-17 mg/kg), kali dễ tiêu (205 - 390 mg/kg), độ ẩm (25 - 27%) và KNGN (853 - 971 ml/kg) của 3 vườn đều đạt ngưỡng khuyến cáo của SOFIX. Trong khi đó, hàm lượng lân dễ tiêu (P2O5) thì chỉ có 2 vườn (P2O5 = 270-578 mg/kg) đạt mức giá trị khuyến cáo và 01 vườn thấp hơn giá trị khuyến cáo (P2O5 = 35 mg/kg).

Bảng 4. Kết quả phân tích các chỉ số hóa học lý đất

Chỉ tiêu

Giá trị

KC

Vườn1

Vườn 2

Vườn3

NO3--N mg/kg

≧10

12

17

11

NH4+-N mg/kg

≧10

0

1

0

●P dt mg/kg

-P2O5 (đất khô)

-P2O5 (đất ướt)

-P (đất ướt)

≧100

 

368

270

118

 

 

 

776

578

253

 

 

 

45

35

15

 

 

●Kali dt mg/kg

- K2O (đất khô)

- K2O (đất ướt)

- K (đất ướt)

 

≧100

 

531

390

323

 

 

 

307

229

190

 

 

 

275

205

171

 

 

pH

5.5-6.5

7.3

5.9

6.0

EC dS/m

0.2-1.2

0.04

0.1

0.07

Độ ẩm%

≧20

27

25

25

KNGN (ml/kg)

≧400

968

971

853

Đối với hàm lượng NH4+ (0-1 mg/kg) và EC (0.04-0.1 dS/m) của 3 vườn đều thấp hơn giá trị khuyến cáo. Đặc biệt, do bón vôi hàng năm nên pH của 1 vườn (pH = 7.3) vượt quá ngưỡng khuyến cáo và 2 vườn nằm trong ngưỡng khuyến cáo (pH = 5.9-6.0)

- Đánh giá và phân loại sức khỏe đất vườn cam:

Dựa vào kết quả phân tích đất, nhóm nghiên cứu của Nhật Bản lựa chọn 8 chỉ số (Bảng 5) liên qua đến số lượng và hoạt động của vi sinh vật để phân loại sức khỏe đất theo thang 9 loại (A+, A1~2, B1~3, C1~2, và D). Kết quả cho thấy, hàm lượng tổng carbon (TC = 18 230 – 23 306 mg/kg), tổng đạm (TN = 1705 - 1904 mg/kg), tổng lân (P = 1085-1809 mg/kg) và tổng kali (TK = 2515 - 3411 mg/kg) đều nằm trong ngưỡng phù hợp của SOFIX. Trong hki đó, số lượng vi khuẩn, chỉ số chuyển hóa đạm và lân thấp hơn giá trị khuyến cáo.

Bảng 5. Các chỉ tiêu độ phì nhiêu của đất

Chỉ số

Vườn1

Vườn2

Vườn3

Đánh giá

Thấp

Phù hợp

Cao

Vi khuẩn (x 108/g)

1.5

1.7

1.5

<4.5

 

 

TC mg/kg

18 964

23306

18230

<15000

15000-80000

>80 000

TN mg/kg

1788

1904

1 705

<1000

≧1000

 

TP mg/kg

1157

1809

1 085

<1100

≧1100

 

TK mg/kg

3411

2515

3361

<2000

2000-10000

>10000

Chuyển hóa N (điểm)

18

12

10

<25

 

 

Chuyển hóa P (điểm)

0

0

0

<30

 

>80

C/N

11

12

11

<10

10-27

>27

Theo đánh giá của tổ chức SOFIX thì đất 3 vườn cam thuộc đất loại C, lượng chất hữu cơ đủ, nhưng tổng số vi khuẩn có xu hướng thấp. Nguyên nhân gây ra có thể do các yếu tố sau:

- Sự cân bằng giữa tổng hàm lượng carbon (TC) và tổng hàm lượng nitơ (TN) kém.

- Việc áp dụng các biện pháp canh tác chưa phù hợp.

- Tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV) và phân bón hóa học.

Do đó, để khắc phục các yếu tố hạn chế ở trên cần điều chỉnh chế độ phân bón để đưa các chỉ số trên đạt ngưỡng khuyến cáo.

3.2. Bón phân SOFIX để phục hồi sức khỏe đất trồng cam

Sau khi có kết quả phân tích sức khỏe đất, nhóm nghiên cứu của GS Kubo - Nhật Bản đã tiến hành hưỡng dẫn bón phân SOFIX cho thí nghiệm. Lượng bón và thời gian bón được trình bày ở Bảng 6.

Bảng 6. Lượng phân bón và thời ký bón phân SOFIX

Phân bón

Thời gian bón

Lượng bón

Ghi chú

Phân SOFIX

Lần 1: 2/2/2023

06 kg/cây

Theo hướng dẫn của SOFIX

Phân SOFIX

Lần 2: 11/05/2023

04 kg/cây

Theo hướng dẫn của SOFIX

- Nhận xét ban đầu: Cam từ lúc bón thúc đến thời điểm bón lần 2, cây cam không có sự khác biệt giữa các công thức. Tuy nhiên, theo nhận xét của 3 hộ trồng cam thì sau khi bón thúc 2, công thức bón SOFIX quả cam bền và ít rụng hơn, lá xanh sáng, không xanh đậm như công thức khác. Đặc biệt, qua quan sát thì công thức bón phân SOFIX các cành tăm không mang quả (cành sẽ cho quả vụ tới) nhiều hơn hơn các công thức còn lại.

4. Nhận xét và kiến nghị

4.1. Nhận xét

- Kết quả phân tích đất cho thấy, các loại đất thí nghiệm đều thuộc đất loại C, tổng số lượng vi khuẩn thấp, hàm lượng carbon hữu cơ tương đối đạt so với thang khuyến cáo của SOFIX. Hàm lượng N, P, K tổng số và dễ tiêu đa phần đạt ngưỡng khuyến cáo, tuy nhiên khả năng chuyển hóa NH4+, NO2-, N, P đa phần rất thấp so với khuyến cáo.

- Bón phân hữu cơ SOFIX bước đầu cho thấy có ảnh hưởng tốt đối với cây cam, tuy nhiên cần có kết quả thu hoạch và đánh giá sức khỏe đất để có nhận xét cụ thể hơn.

4.2. Kiến nghị

Đánh giá đất theo SOFIX là công nghệ mới, phù hợp với xu hướng nông nghiệp carbon nên cần có những nghiên cứu dài hạn hơn để xây dựng các chỉ số phù hợp với đất trồng của nước ta.

 

Tài liệu tham khảo

Adhikari, D., Kai, T., Mukai, M., Araki, K.S. and Kubo, M. (2014) Proposal for a New Soil Fertility Index (SOFIX) for Organic Agriculture and Construction of a SOFIX Database for Agricultural Fields. Current Topics in Biotechnology, 8, 81-91.   

Gyaneshwar, P., Kumar, G. N., Parekh, L. J. and Poole, P. S. 2002, Food Security in Nutrient- Stressed Environments: Exploiting Plants’ Genetic Capabilities, Springer Netherlands, 133.

Marschner, P. and Rengel, Z. eds., 2007. Nutrient cycling in terrestrial ecosystems (Vol. 10). Springer Science & Business Media.

Pholkaw, P., Muraji, A., Maeda, K., Kawagoe, T., Kubota, K., Sanpa, S., Tran, Q.T. and Kubo, M., 2019. Utilization of Wood Biomass for Organic Soil Based on the Soil Fertility Index (SOFIX). Journal of Agricultural Chemistry and Environment, 8(04), p.224.

Savci, S., 2012. An agricultural pollutant: chemical fertilizer. International Journal of Environmental Science and Development, 3(1), p.73.

Tilman, D., 1998. The greening of the green revolution. Nature, 396(6708), pp.211-212.

 Xem file đầy đủ: ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ SOFIX CHẨN ĐOÁN SỨC KHỎE VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC CÁC YẾU TỐ HẠN CHẾ VỀ SỨC KHỎE ĐẤT TRỒNG CAM

Gửi ý kiến của bạn


Tin cũ hơn

Liên kết website

Video Clip

Thông tin tiện ích

CÔNG TY TNHH NÔNG NGHIỆP XANH VIỆT NAM Công ty phượng hoàng

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá như thế nào về hoạt động của Hội Làm vườn Việt Nam
Hoạt động có hiệu quả
Hoạt động không hiệu quả
Không có ý kiến
 
Danh bạ điện thoại Hỏi đáp Văn bản Liên hệ

FaceBook

Thống kê truy cập

  • Trực tuyến: 26
  • Lượt xem theo ngày: 2248
  • Tổng truy cập: 3470846