GIẢI PHÁP PHỤC HỒI, PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÂY CÓ MÚI 8. Nghiên cứu, sử dụng chế phẩm sinh học trong quản lý sâu, bệnh trong đất hại cây có múi

BBT: Bệnh Greening và bệnh vàng lá, thối rễ là những đối tượng nguy hiểm nhất, gây suy giảm nghiêm trọng sản xuất cây có múi. Hiện nay, phòng trừ sinh học là một trong những biện pháp có tiềm năng được nghiên cứu và sử dụng để phòng chống sâu, bệnh trong đất hiệu quả và thân thiện với môi trường. Bài viết này tóm tắt những kết quả của Viện Bảo vệ thực vật về nghiên cứu và sử dụng biện pháp sinh học phòng chống tác nhân gây bệnh vàng lá, thối rễ và sâu hại chính trong sản xuất cây ăn quả có múi.

NGHIÊN CỨU, SỬ DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC QUẢN LÝ SÂU, BỆNH TRONG ĐẤT HẠI CÂY ĂN QUẢ CÓ MÚI

Viện Bảo vệ thực vật

 

1. Giới thiệu

Cây ăn quả có múi là cây trồng có giá trị kinh tế, được trồng phổ biến trên thế giới và Việt Nam, đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng về quả tươi và sử dụng làm nước ép. Một số nước sản xuất cây có múi lớn như Trung Quốc (32,7 triệu tấn), Brazin (16,55 triệu tấn), Ấn Độ (9,7 triệu tấn), Mỹ (7,8 triệu tấn)… Phần lớn sản phẩm xuất khẩu là quả tươi (trên 85%), nên việc canh tác có vai trò rất quan trọng trong hệ sinh thái nông nghiệp ở các vùng trồng cây ăn quả có múi (Gonz´alez-Gonz´alez và cs., 2020). Diện tích sản xuất cây có múi ở Việt Nam hiện nay khoảng 135.000 ha, được phân bố rộng từ miền Bắc đến miền Nam, với sản lượng trên 1,35 triệu tấn (Cục Trồng trọt, 2022).

Cũng như các cây trồng khác tại vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, cây ăn quả có múi thường bị các loài sinh vật tấn công và gây hại. Tại Việt Nam, trong mấy năm gần đây, bệnh vàng lá, thối rễ phát sinh mạnh, cùng với bệnh Greening, đã gây hại nghiêm trọng tại các vùng trồng cam trọng điểm như Nghệ An, Tuyên Quang, Bắc Giang, Hà Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long… Diện tích trồng cam đã suy giảm đáng kể, nhiều diện tích cây ăn quả có múi đã phải chuyển đổi sang trồng các cây trồng khác, ảnh hưởng đến sản xuất và định hướng phát triển nông nghiệp của một số địa phương. Kết quả nghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật cho thấy, tác nhân gây bệnh vàng lá, thối rễ, là phức hợp của nhiều loài nấm (Phytophthora citrophthora, P. palmivora, P. nicotianae, Fusarium solani, Rhizoctonia solani…), tuyến trùng (Tylenchulus spp., Pratylenchulus spp, Meloidogyne spp.) và rệp sáp (Planococcus lilacinus) (Nguyễn Thị Bích Ngọc, Nguyễn Nam Dương, Phạm Hồng Hiển và Đào Thị Hằng). Bệnh làm cây sinh trưởng phát triển kém, khô cành, quả có vị nhạt, rụng và có thể gây thiệt hại từ 20-50% năng suất nếu không được trừ kịp thời.

Để phòng trừ các loài sinh vật gây hại, thuốc hóa học đã được sử dụng phổ biến ở các vùng trồng cây ăn quả có múi. Tuy nhiên, việc sử dụng nhiều thuốc hóa học đã gây ra những hiệu quả tiêu cực như dư lượng thuốc trong sản phẩm, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và vật nuôi, gây tính kháng thuốc ở các loài sinh vật hại. Do đó, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm tìm ra biện pháp hiệu quả phòng chống sâu bệnh hại để dần thay thế thuốc hóa học. Thuốc bảo vệ thực vật sinh học với tác nhân là các loại vi sinh vật đối kháng (BCAs), không độc hại, thân thiện với môi trường, có hiệu quả là biện pháp kinh tế, có tính chiến lược lâu dài trong quản lý bệnh vàng lá, thối rễ, giảm thiệt hại về năng suất và góp phần đảm bảo sản xuất cây ăn quả có múi bền vững.

Cơ chế kiểm soát của các tác nhân sinh học đối với sinh vật gây hại bao gồm ký sinh trực tiếp, sản sinh các chất sinh học (kháng sinh, thu hồi ion sắt, bay hơi), enzyme cạnh tranh dinh dưỡng và không gian với loài khác, kích kháng và kích thích cây trồng sinh trưởng (Jorge Povada và cs., 2021).

2. Tác nhân sinh học kiểm soát nấm, tuyến trùng, sâu trong đất hại cây trồng

2.1. Nấm Trichoderma

Trichoderma có khả năng đối kháng với nhiều loài nấm bệnh, tuyến trùng hại cây trồng thông qua cơ chế ký sinh, tổng hợp các enzyme phân hủy thành tế bào nấm bệnh (cellulase, glucanase, chitinase.v.v.) hoặc tổng hợp chất kháng sinh và cạnh tranh dinh dưỡng (Singh và cs., 2017). Nghiên cứu của Ezziyyanil và cs. (2007) xác định hỗn hợp Trichoderma harzianumStreptomyces rochei có thể hạn chế tới 75% mức độ gây hại của nấm P. capcisi.

Nhiều nghiên cứu xác nhận Trichoderma có khả năng tăng cường sinh trưởng, phát triển thực vật thông qua tác dụng kích thích hình thành nhiều và phát triển mạnh hơn của bộ rễ cây trồng. Trichoderma thông qua các enzyme ngoại bào có khả năng phân giải các hợp chất hữu cơ trong đất, góp phần gia tăng độ phì nhiêu của đất trồng trọt.

Tại Việt Nam một số công trình nghiên cứu đã công bố cho thấy Trichoderma là tác nhân sinh học tiềm năng trong kiểm soát nấm bệnh, tuyến trùng (Trần Thị Thuần và cộng tác viên, 2004; Phạm Ngọc Dung  và cs., 2008; Lê Đức Khánh, 2015; Hà Minh Thanh, 2017; Nguyễn Văn Tuất 2017).

2.2. Nấm Chaetomium

Cheatomium spp. có hai đại diện là Chaetomium thermophilumChaetomium globosum là các tác nhân sinh học tiềm năng có hiệu quả chống thối hạt và mầm bệnh từ hạt và đất như Pythium ultimum, Alternaria raphani, A. BrassicicolaFusarium spp. (Ahammed và cs. 2012) thông qua hoạt động của các enzyme xylanase, β 1,3-glucanase và các chất kháng sinh như chaetomin, chaetoglobosin và BHT (Biswas và cs. 2012; Savazzini và cs. 2008).

Theo Sibounnavong và cs. (2012) Cheatomium có tác dụng tăng cường sinh trưởng phát triển và năng suất của một số loại cây trồng và có hiệu quả  kiểm soát một số loại nấm gây bệnh chính trên chè, cà phê, cao su.

2.3. Vi khuẩn Bacillus

Bacteriocins là sản phẩm tạo ra từ nhiều vi sinh vật trong đó có Bacillus có tác dụng diệt khuẩn (Lee and Kim, 2010). Một số enzym như protease, chitinase, glucanase, kháng sinh peptide  được Bacillus tổng hợp có tác dụng ức chế, tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh và được khai tác sử dụng là probiotic cho người, vật nuôi, động vật thủy sản(Yu et al, 2002). Theo Chung và cs., (2008); Mardanova và cs., (2017) nhiều chủng Bacillus có khả năng đối kháng và hạn chế nấm bệnh hại hồ tiêu và cây rau màu.

Kết quả nghiên cứu của Das và cs. (2014) cho thấy vi khuẩn Bacillus subtilis có tác dụng hạn chế nấm Phytophthora. Một số chủng vi khuẩn như Pseudomonas syringae, Erwinia herbicola, Bacillus subtilis Pseudomonas fluorescence phân lập từ vùng đất cây có múi có khả năng kháng nấm gây bệnh chảy gôm trong điều kiện phòng thí nghiệm (Kalita và cs. 1996).

Tại Việt Nam, nghiên cứu sử dụng Bacillus làm tác nhân sinh học kiểm soát nấm bệnh hại cây trồng đã được một số tác giả công bố (Phạm Việt Cường và cs., 2003; Vũ Thúy Nga, 2008; Lê Như Kiểu và cs., 2011; Nguyen và cs., 2019).

2.4. Xạ khuẩn - Streptomycetes

Streptomycetes là nhóm vi sinh vật nội sinh được quan tâm nghiên cứu nhiều trong thời gian gần đây cho mục đích kiểm soát sinh học bệnh hại cây trồng. Nhiều chủng Streptomyces đã được nghiên cứu đánh giá khả năng kiểm soát nấm bệnh Phytophthora capsici gây bệnh trên ớt, hồ tiêu, cà chua và xác định hiệu lực kiểm soát đạt trên 70% trong điều kiện nhà lưới, vườn ươm (Joo, 2007; Ezziyyani và cs., 2007; Shi và cs., 2018). Một số chế phẩm sinh học có nguồn gốc từ Streptomyces spp. đã được thương mại hóa như Mycostop sản xuất từ S. griseoviridis K61 ở Phần Lan, Đức, Actinovate®, Micro108®, Action Iron® sản xuất từ S. Lydicus ở Hoa Kỳ hoặc YAN TEN sản xuất từ S. saraceticus KH400 ở Đài Loan.

Jauri và cs. (2017) cho biết, quần thể Streptomyces spp. được tìm thấy nhiều trong đất kìm hãm nấm bệnh (pathogen fungi-suppressive soils) là đất trồng không chứa mầm bệnh hoặc chứa mầm bệnh nhưng không phát sinh hoặc ít phát sinh bệnh, đặc biệt đất được bón phân xanh.

Các kết quả nghiên cứu cho biết sử dụng Streptomyces có thể giảm 31 ± 26% tỷ lệ bệnh hại cây trồng trên thực địa, 57 ± 9% trong điều kiện nhà kính, đồng thời gia tăng sinh trưởng cây 2,1 ± 1,1 lần. Hoạt tính phân giải chitin là một trong các hoạt tính quan trọng của Streptomyces spp. trong kiểm soát sinh học nấm bệnh và kích thích sinh trưởng thực vật. Streptomyces spp có tác động tương hỗ với các chất hữu cơ và các vi sinh vật hữu ích khác trong kiểm soát sinh học nấm bệnh, thúc đẩy tăng trưởng cây trồng. Bubici (2018) khuyến cáo nên sử dụng tổ hợp các vi sinh vật hữu ích trong kiểm soát nấm bệnh hại rễ cây trồng.

2.5.  Nấm Paecilomyces

Các loài nấm Paecilomyces spp. có khả năng gây bệnh cho các loài côn trùng thuộc bộ Cánh vẩy, sâu đo (Trichoplusia ni), sâu xanh (Spodoptera frugiperda) và sâu khoang (S. litura). Theo Luangsa-Ard và cs., (2011) vẫn còn nhiều loài Paecilomyces spp. có khả năng gây bệnh hiệu quả trên các loài côn trùng khác nhau. Paecilomyces có thể xâm nhiễm tuyến trùng Meloidogyne incognita, M. arenaria M. javanica gây hại cây trồng nông, công nghiệp (Fiedler and Sosnowska, 2007). Theo Bonants và cs., (1995); Khan et al, (2004) Paecilomyces tiếp xúc và bám vào bề mặt trứng, tuyến trùng nhờ các giác bám, tiết ra các enzyme protease, chitinase phá hủy vỏ trứng, biểu bì tuyến trùng và làm chết tuyến trùng/hỏng trứng tuyến trùng. Khan et al, (2004) cho biết Paecilomyces có thể sinh tổng hợp độc tố paecilotoxin diệt tuyến trùng, nhưng chưa tách chiết được hoạt chất. Ở Việt Nam, bước đầu đã có một số công bố về khả năng kiểm soát của nấm P. lilacinum đối với tuyến trùng gây hại trên một số cây trồng (Ngô Thị Xuyên, 2000; Lê Hữu Phước, 2009; Cham Thi Mai Le và cs., 2016). Theo Chu Đức Hà và cộng tác viên (2018) P. lilacinum  là tác nhân sinh học rất tiềm năng trong việc kiểm soát dịch bệnh ở cây trồng, đặc biệt là bệnh do tuyến trùng gây ra.

2.6. Nấm bẫy tuyến trùng Arthrobotrys

Các loài nấm bắt mồi thuộc các chi Arthrobotrys, Dactylaria, Dactylella, Trichothecium Esteya. Điểm mạnh của việc sử dụng nấm vòng trong phòng trừ tuyến trùng là tính dẫn dụ cao và hiệu quả tiêu diệt triệt để hơn, phổ tác dụng rộng, tiêu diệt nhiều loài tuyến trùng khác nhau, có thể ứng dụng cho nhiều loại cây trồng, nhiều vùng đất. Theo  Zhang và cs., (2011) trong số hơn 700 loài thuộc 4 nhóm nấm diệt tuyến trùng đã biết, số lượng nấm bẫy tuyến trùng chiếm khoảng 380 loài.

Singh và cs., (2012) cho biết Arthrobotrys oligospora có khả năng bẫy và diệt tuyến trùng nốt sưng Meloidogyne graminicola và nấm Rhizoctonia solani, theo đó trong điều kiện nhà lưới và ngoài đồng ruộng, sử dụng nấm bẫy tuyến trùng có khả năng giảm số lượng nốt sưng 57,6 - 62,0%, giảm tỷ lệ mắc bệnh đốm vằn 55,7 - 59,3 %, thời gian tổn thương 54,9 - 66,7 %, tăng chiều dài thân (lóng) 56,4 - 68,8 %, chiều dài rễ 44,0 - 54,5 %, tăng trọng lượng tươi của thân 62,9 - 65,4 % và tăng trọng lượng tươi của rễ 38,9 - 44,19 %.

Nghiên cứu về nấm bẫy tuyến trùng ở Việt Nam còn chưa được đề cập nhiều. Năm 2014, Nguyễn Viết Hiệp và Nguyễn Thu Hà thông báo đã phân lập được 04 chủng nấm vòng ký hiệu NVC 7.4, NVC 28.8, NVH 14.9, NVH 12.5 từ đất trồng cà phê, hồ tiêu ở Việt Nam và thông qua các thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, nhà lưới và trên đồng ruộng xác định các chủng nấm tuyển chọn có hoạt tính bẫy mồi đối với nhiều loại tuyến trùng, đặc biệt là loại tuyến trùng Meloidogyne arenaria, Meloidogyne incognita hại hồ tiêu và Pratylenchus coffea hại cà phê ở Việt Nam. Theo Nguyen Viet Hiep và cs. (2019) các chủng nấm bẫy tuyến trùng NVC 7.4 và NVH 12.5 thuộc loài Arthrobotrys oligosporaspecies và chủng và NVC 28.8 thuộc loài Arthrobotrys guizhouensis.

3. Một số nghiên cứu, sử dụng chế phẩm sinh học phòng chống bệnh vàng lá, thối rễ

Trong các năm gần đây, việc nghiên cứu và sản xuất chế phẩm sinh học phòng chống sâu bệnh hại cây trồng được nhiều cơ quan khoa học quan tâm và thực hiện. Một số chế phẩm đã được đăng ký và sử dụng để phòng trừ một số sâu bệnh trên các loại cây trồng như: Mocabi SL phòng trừ bệnh sưng rễ, héo vàng cà chua, cải bắp, lem lép hạt lúa, thối gốc hồ tiêu; Bionema 80WP phòng trừ tuyến trùng hồ tiêu; Nemaces WP, Papila 500WP phòng trừ tuyến trùng hồ tiêu cà phê, hồ tiêu, thanh long, cam, chuối, cà rốt; Ketamioum phòng trừ thối rễ cà phê, hồ tiêu, đạo ôn lúa, đốm lá hoa hồng; Actinovate 1SP phòng trừ bệnh xì mủ, vàng lá thối rễ sầu riêng, xoài, nhãn, vải; Trico ĐHCT phòng trừ bệnh loét sọc miệng cạo cao su, bệnh chết nhanh, chết chậm hồ tiêu, thối quả nhãn vải…

Tuy nhiên, chế phẩm sinh học được nghiên cứu, đăng ký và sử dụng phòng trừ sâu bệnh trên cây ăn quả có múi còn rất hạn chế. Viện Bảo vệ thực vật, trong những năm qua, đã nghiên cứu, sản xuất và thử nghiệm một số chế phẩm sinh học phòng trừ bệnh vàng lá thối rễ có hiệu quả và đã được ứng dụng tại nhiều vùng trồng tại phía Bắc.

3.1. Chế phẩm Phyto-M

- Đã thu thập, phân lập được 43 dòng vi sinh vật đối kháng tại các vùng trồng cây ăn quả có múi tại Hà Nội, Hòa Bình, Tuyên Quang, Nghệ An, trong đó có 26 dòng (60,46%) có hoạt lực đối kháng cao đối với các VSV gây bệnh. Hiệu quả ức chế trong điều kiện phòng thí nghiệm dao động từ 84,4 - 100% trong điều kiện invitro.

- Đã xác định thành phần chính của chế phẩm là các loài VSV đối kháng bao gồm nấm Trichoderma harzianum, vi khuẩn Bacillus methylotrophicus, xạ khuẩn Streptomyces misionensis, nấm Arthrobotrys oligospora, các là tác nhân sinh học kiểm soát nấm và tuyến trùng gây hại. Mật độ VSV mỗi loại là 1 × 108 cfu/g chế phẩm.

- Đã xác định được môi trường nhân tạo, các thông số kỹ thuật và điều kiện để nhân nuôi sinh khối VSV đối kháng phục vụ cho sản xuất chế phẩm sinh học. Mật độ bào tử thu được sau mỗi mẻ sản xuất đạt từ 1,53 - 1,67 × 1010 cfu/ml đối với vi khuẩn, từ 2,5 - 6,3 × 1010 cfu/ml đối với xạ khuẩn và từ 9,33 - 9,67 × 109 cfu/ml đối với nấm.

Bảng 1. Điều kiện nhân sinh khối các nguồn VSV đối kháng (Viện Bảo vệ thực vật)

TT

Thông số kỹ thuật

Nguồn VSV đối kháng

S. misionensis

B. methylotrophicus

1

Nhiệt độ lên men (0C)

30

30

2

pH

7,0

7,0

3

Môi trường lên men

Môi trường nhân sinh khối 1

Môi trường nhân sinh khối 2

4

Tỷ lệ giống gốc (%)

5

5

5

Tốc độ khuấy (vòng/phút)

≥ 300

≥ 300

6

Thời gian nhân sinh khối (ngày)

3

3

- Đã hoàn thiện kỹ thuật phối trộn, thành phần từng yếu tố để tạo sản phẩm với quy mô 500 kg/mẻ. Chế phẩm có dạng bột mịn, hòa tan trong nước.

Chế phẩm Phyto - M dạng 1:

+ Phối trộn chế phẩm sinh học Phyto - M gồm: nấm đối kháng Trichoderma + xạ khuẩn Streptomyces misionensis và vi khuẩn đối kháng Bacillus methylotrophicus dạng đơn chủng +  phụ gia mùn hữu cơ (phân chuồng ủ hoai, giá thể hữu cơ, than bùn...).

Chế phẩm Phyto - M dạng 2:

+ Phối trộn chế phẩm sinh học Phyto - M gồm: nấm đối kháng Trichoderma, xạ khuẩn, vi khuẩn  đối kháng dạng đơn chủng đã nghiền mịn.

+ Đóng gói hỗn hợp chế phẩm  vào các túi PE bạc, trọng lượng 500g hoặc 1000g.

Yêu cầu sản phẩm:

+ Chế phẩm dạng khô, dễ phối trộn, dễ đóng gói và duy trì chất lượng sản phẩm, thời gian bảo quản 1 năm.

+ Mật độ VSV đối kháng có trong chế phẩm đạt ≥ 108 cfu/g chế phẩm.

- Chế phẩm Phyto-M đã được đánh giá 06 độ độc cấp tính và cho kết quả chế phẩm an toàn với người và động vật máu nóng (Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm quốc gia 2016)

- Chế phẩm Phyto- M đã được công nhận là thuốc bảo vệ thực vật theo Quyết định của Cục Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.

Quy trình sản xuất chế phẩm Phyto-M

Giống gốc

(VK, Xạ khuẩn, Nấm đối kháng)

Nhân giống cấp 1

(môi trường thạch nghiêng)

Nhân giống cấp 2

(VK: trên môi trường lỏng)

(XK và nấm đối kháng trên môi trường thạch)

Nhân sinh khối trên giá thể

(than bùn, thóc, gạo tấm)

Thu sinh khối các chủng VK, XK, Nấm đối kháng (mật độ bào tử 10 8  10 10 cfu/g/VSV)

Phụ gia

(than bùn, giá thể hữu cơ…)

Xử lý

(Loại bỏ tạp chất, trung hòa pH)

Phối trộn

VK, Xạ khuẩn, Nấm đối kháng dạng đơn chủng, phụ gia

Chế phẩm sinh học Phyto-M

Bảo quản

(nhiệt độ thường, nơi thoáng mát)

(VK, Xạ kháng)

Vận chuyển đến các địa phương

Kiểm tra tạp nhiễm

- Thử nghiệm chế phẩm trong nhà lưới:

Trong nhà lưới, hiệu quả của chế phẩm có hiệu lực kiểm soát nấm Phytophthora spp. từ 80,1 đến 82,8%, nấm Fusarium sp. từ 62,2 đến 76,9%, nấm Rhizoctonia solani từ 59,0 đến 75,4%, tuyến trùng từ 67,8 đến 80,6%.

- Thử nghiệm ngoài đồng ruộng

Bảng 2. Hiệu lực phòng trừ bệnh vàng lá, thối rễ của chế phẩm Phyto-M trên vườn kinh doanh (Cao Phong, Hòa Bình)

TT

Liều lượng bón

(kg/ha)

Tỷ lệ bệnh (%)

HLPT

(%) sau 6 tháng

NSTB (kg/cây)

NSLT (tấn/ha)

Trước XL

Sau XL

3 tháng

Sau XL

6 tháng

1

60

5,0a

13,3b

18,3b

60,8

62,7bc

31,35

2

70

6,7a

11,7ab

16,7ab

67,5

63,7abc

31,85

3

80

8,3a

10,0a

11,7a

81,6

66,3a

33,15

4

Đối chứng (không XL)

5,0a

16,7c

38,3c

-

61,0c

30,5

 

CV (%)

17,7

15,5

18,0

-

17,2

-

Chế phẩm Phyto-M cũng đã được thử nghiệm, đưa vào các mô hình và các vườn sản xuất tại Hòa Bình, Nghệ An, Bắc Giang… để phòng trừ bệnh vàng lá thối rễ. Hiệu lực phòng trừ bệnh dao động từ 73,6 đến 82,7% ở các vườn xử lý chế phẩm.

Hiệu lực của chế phẩm phụ thuộc vào việc xác định đúng liều lượng, thời điểm, phương pháp xử lý chế phẩm và kết quả phân tích mật độ sinh vật gây hại trên đồng ruộng.

Các nghiên cứu và thử nghiệm cho thấy, khi mật độ sinh vật gây hại trong đất ở mật độ thấp: nấm Phytophthora spp. < 101 cfu/g đất, nấm Fusarium spp.<103 cfu/g đất; tuyến trùng ký sinh (Tylenchulus spp., Pratylenchulus spp…) < 300 con/100g đất; rệp sáp: < 1 con/500g đất thì sử dụng các chế phẩm sinh học chứa các vi sinh vật (VSV) đối kháng như Trichoderma spp., Bacillus spp., Streptomyces spp., Arthrobotrys spp., Metarhizium spp., Beauveria spp … với lượng từ 40-60 kg/ha (70 -100 gam/hố). Trộn đều chế phẩm cùng với phân chuồng hoai mục, phân vi sinh và đất đào từ hố để ủ trước khi trồng cây. Thời gian ủ tốt nhất từ 15-30 ngày.

Khi mật độ VSV gây hại trong đất ở mật độ trung bình: nấm Phytophthora spp. ≥ 101 - 102 cfu/g đất; nấm Fusarium spp. ≥ 103 - 104 cfu/g đất; tuyến trùng ký sinh ≥ 300 - 500 con/100g đất; rệp sáp:  ≥1 - 5 con/500g thì xử lý 2 lần với lượng từ 60-80 kg/ha/lần xử lý (100-150 gam/hố/lần xử lý): Lần 1: Trộn đều các chế phẩm với phân vi sinh, phân hữu cơ hoai mục và đất đào từ hố để ủ trước khi trồng cây. Thời gian ủ tốt nhất từ 15-30 ngày; Lần 2: Bón chế phẩm vào quanh tán cây (có thể rắc quanh tán rồi tưới đẫm nước), cách lần 1 từ 1 đến 3 tháng tuỳ điều kiện cụ thể.

Khi đất nhiễm riêng rẽ hay cùng các loài sinh vật gây hại với mật độ cao: nấm Phytophthora spp. >102 cfu/g đất; nấm Fusarium spp. > 104 cfu/g đất; tuyến trùng ký > 500 con/100g đất, rệp sáp > 5 con/500g đất cần sử dụng các loại thuốc hóa học có trong danh mục thuốc được phép sử dụng tại Việt Nam có đăng ký phòng trừ đối tượng này, dùng theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Sau xử lý thuốc khoảng 1 tháng sử dụng chế phẩm sinh học với lượng từ 60-80 kg/hố. Rắc đều xung quanh tán rồi tưới đẫm nước.

3.2. Chế phẩm sinh học Bio-VAAS.1

- Đề tài đã xác định tổ hợp (vi khuẩn B. siamensis LHB15 và xạ khuẩn S. misionensis LHS4 (được xếp loại an toàn sinh học bậc 1 theo khóa phân loại của Đức và Mỹ) không ức chế nhau và có hiệu quả cao trong phòng trừ bệnh vàng lá thối rễ và chảy gôm trên cây cam và cây sầu riêng.

- Mật độ vi sinh vật của chế phẩm Bio-VAAS.1. sau sản xuất đạt mật độ B. siamensis (3,87 x 108 CFU/g) và S. misionensis (8,33 x 108 CFU/g). Đề tài đã chọn phương pháp tạo dạng sản phẩm Bio-VAAS.1 là dạng hạt mịn. Chế phẩm Bio-VAAS.1 đã được đánh giá 06 độ độc cấp tính cho kết quả chế phẩm hoàn toàn an toàn với người và động vật máu nóng (Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm quốc gia 2020).

- Chế phẩm Bio-VAAS.1 đã được công nhận là thuốc bảo vệ thực vật theo Quyết định của Cục Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.

 - Thử nghiệm trong nhà lưới

Bảng 3. Hiệu lực  phòng trừ nấm Phytophthora spp. trong đất cam của chế phẩm Bio-VAAS.1 ở các liều lượng khác nhau (Viện KHNN Việt Nam, Viện Bảo vệ thực vật)

Công thức

Liều lượng

kg/ha (g/bầu 2,5kg)

Tỷ lệ (%) cánh hoa mất màu do Phytophthora spp. trong đất cam

Trước thí nghiệm

Sau 1 tháng TN

Hiệu lực (%)

Sau 2 tháng TN

Hiệu lực (%)

Sau 3 tháng TN

Hiệu lực (%)

CT1

40kg/ ha (0,55g/ bầu)

56,67

35,56b

47,54

25,56b

54,90

24,44b

67,16

CT2

80kg/ ha (1,1g/bầu)

56,67

28,89bc

57,38

15,56bc

72,55

17,78bc

76,12

CT3

120kg/ ha (1,65g/ bầu)

56,67

25,56bc

62,30

13,33c

76,47

14,44c

80,60

CT4

160kg/ ha (2,2g/ bầu)

56,67

17,78c

73,77

11,11c

80,39

11,11c

85,07

Đ/C

-

56,67

67,78a

-

56,67a

-

74,44a

-

CV%

 

 

15,91

 

13,15

 

12,34

 

LSD0,05

 

 

13,82

 

10,67

 

8,84

 

Sau 3 tháng thí nghiệm, ở các liều lượng 40kg; 80kg; 120kg và 160kg/ha hiệu lực phòng trừ nấm Phytophthora spp. trong đất cam của Bio-VAAS.1 đạt từ 67,16%; 76,12%; 80,60% và 85,07%. Hiệu lực của Bio-VAAS.1 sau 1, 2, 3 tháng đạt tương ứng 57,38%; 72,55%; 76,12% ở liều lượng 80kg/ha.

Sau 3 tháng thí nghiệm, ở các liều lượng 40kg; 80kg; 120kg và 160kg/ha hiệu lực phòng trừ nấm Fusarium spp. trong đất cam của Bio-VAAS.1 đạt từ 68,92%; 72,97%; 74,32% và 75,68%. Hiệu lực của Bio-VAAS.1 sau 1, 2, 3 tháng đạt tương ứng 63,71%; 69,51%; 72,97% ở liều lượng 80kg/ha.

- Thử nghiệm trên đồng ruộng

Bảng 4. Hiệu lực phòng trừ nấm  Phytophthora spp. trong đất cam của chế phẩm Bio-VAAS.1 mô hình cam tại Cao Phong, Hòa Bình (Viện KHNN Việt Nam, Viện BVTV)

TT

Mô hình

Công thức

Liều lượng 80kg/ha (160g/gốc)

Tỷ lệ % cánh hoa hồng nhiễm Phytophthora spp. trong đất

Trước bón

Sau 1 tháng

Hiệu lực (%)

Sau 3 tháng

Hiệu lực (%)

Sau 6 tháng

Hiệu lực

1

MH1-KTCB

(1 năm)

MH

160g/gốc

4,07

19,61

50,37

32,02

71,03

16,67

77,27

ĐC

2,22

21,55

60,29

40,00

2

MH2-KTCB

(1 năm)

MH

160g/gốc

6,46

9,47

56,03

22,20

67,64

13,33

60,85

ĐC

5,90

19,68

62,66

31,11

3

MH3- KD

(5 năm)

MH

160g/gốc

11,15

7,14

53,16

16,21

75,12

15,56

70,51

ĐC

12,91

17,65

75,48

61,11

4

MH4- KD

(9 năm)

MH

160g/gốc

76,77

5,42

43,06

30,53

68,06

16,67

69,76

ĐC

 -

78,93

9,79

98,25

56,67

5

MH5- Bắt Đầu KD (3 năm)

MH

160g/gốc

3,31

5,48

45,38

37,18

66,87

22,50

68,93

Sau 01 tháng, hiệu lực phòng trừ nấm Phytophthora spp. trong đất cam đạt cao nhất đạt 56,03% (MH2-KTCB- 1 năm), thứ hai là MH3- KD đạt 53,16%. Sau 3 tháng, MH3 - kinh doanh (5 năm), hiệu lực đạt cao nhất 75,12%; thứ hai là MH1-KTCB (1 năm) đạt 71,03%. 03 mô hình các hộ còn lại hiệu quả đạt từ 66,87% đến 68,06%. Sau 6 tháng, MH1 - KTCB (1 năm) hiệu lực đạt cao nhất 77,27%; thứ hai là MH3-KD (5 năm) đạt 70,51%. 03 mô hình các hộ còn lại hiệu quả đạt từ 60,85% đến 69,76%.

Đối với nấm nấm Fusarium spp. trong đất cam, sau 1 tháng, hiệu lực phòng trừ đạt cao nhất đạt 58,52% (MH3-KD, 5 năm), thứ hai là MH5-Bắt Đầu KD (3 năm) đạt 57,01%. Sau 3 tháng, MH3- KD (5 năm), hiệu lực đạt cao nhất 76,00%; thứ hai là MH5- Bắt Đầu KD (3 năm) đạt 73,26%; thứ ba là MH2-KTCB (1 năm) đạt 71,88%.  02 mô hình các hộ còn lại hiệu quả đạt từ 62,96% và 65,14%. Sau 6 tháng, MH4- KD (9 năm), hiệu lực trừ Fusarium spp. trong đất cao nhất đạt 82,22%; thứ hai là MH3- KD (5 năm) đạt 74,33%; thứ ba là MH5-BĐKD (3 năm) đạt 72,14%.  Hai mô hình các hộ còn lại hiệu quả đạt từ 69,32% và 70,83%.

Đề tài đã xác định được liều lượng sử dụng chế phẩm sử dụng trên cây cam. Đối với vườn ươm sử dụng liều lượng 0,5 kg/1 tấn giá thể bầu (trộn đều với giá thể bầu), hoặc tưới 01 kg/1.000 lít nước/1.000m2/ lần tưới. Đối với vườn kiến thiết cơ bản sử dụng liều lượng 40-80kg/ha, vườn kinh doanh 80kg/ha. Vườn kiến thiết cơ bản và kinh doanh áp dụng bón 2 lần (đầu và giữa mùa mưa), nên kết hợp tưới 2-3 lần vào mùa khô 5-10kg/ha/ lần tưới.

Bảng 5. Năng suất mô hình xử lý chế phẩm Bio-VAAS.1 tại Hòa Bình, Đắk Lắk và Tiền Giang

TT

Cây trồng

 Mô hình

Tuổi cây

Địa điểm mô hình

Năng suất (tấn)

 

Mô hình

Đối chứng

Tăng so với Đ/C (%)

1

Cam Lòng vàng

MH3- KD

5 năm

Xã Thu Phong, Cao Phong, Hòa Bình

44,00

37,5

17,33

2

Cam Lòng vàng

MH4- KD

9 năm

Xã Thu Phong, Cao Phong, Hòa Bình

40,00

34,00

17,65

3

Cam Sành

MH

5-6 năm

Tổ 18 - Ấp Lợi Nhơn - Xã Mỹ Lợi A- Cái Bè - Tiền Giang

23,60

21,60

9,26

Tại Cao Phong, Hòa Bình, mô hình trên cây cam lòng vàng 5 năm đạt năng suất 44 tấn (cao hơn đối chứng 17,33%), mô hình cam lòng vàng 9 năm đạt năng suất 40 tấn (cao hơn đối chứng 17,65%).

3.3. Chế phẩm Trichoderma

- Thành phần chế phẩm: nấm Trichoderma harzianum, mật độ 108 cfu/g và phụ gia.

- Công dụng: phòng chống một số loại nấm đất Phytophthora spp., Fusarium spp., Rhizoctonia solani, Sclerotium spp. hại cây trồng.

- Cách sử dụng:

+ Đối với bầu ươm cây con: xử lý 1-2 kg/m3 giá thể ươm cây bằng cách trộn đều giá thể ươm trước khi đóng bầu

+ Đối với cây rau màu (cà chua, dưa chuột, dưa lưới, mướp đắng, ớt, rau các loại…): xử lý 40-60 kg/ha bằng cách trộn đều với phân hữu cơ bón đất trước khi trồng (bón lót). Bón thúc bổ sung 1-2 lần/vụ.

+ Đối với cây ăn quả, cây công nghiệp (cam, quýt, bưởi, mít, xoài, nhãn, sầu riêng, hồ tiêu, chanh leo…): xử lý 60-80 kg/ha bằng cách bón trực tiếp hoặc trộn đều với phân hữu cơ, bón 1-2 lần/năm vào đầu và giữa mùa mưa. Bón vào đất theo hình chiếu tán của cây.

- Chế phẩm đã được đăng ký và lưu hành trên thị trường trong các năm trước đây và hiện nay đang tiến hành các thủ tục để đăng ký lại trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật.

3.4. Chế phẩm nấm lục cương Metarhizianum

- Thành phần chế phẩm: nấm Metarhizianum anisopliae, mật độ 109 cfu/g và giá thể.

- Công dụng: phòng trừ các loại sâu hại trong đất

- Cách sử dụng:

+ Khi mật độ sâu trong đất cao: xử lý trừ sâu với liều lượng 60-80 kg/ha bằng cách pha đều trong nước và tưới xung quanh gốc cây

+ Khi mật độ sâu trong đất thấp: xử lý phòng với liều lượng 40-60 kg/ha với phương pháp như nêu trên.

4. Kết luận

Cây ăn quả có múi là một trong những cây trồng chủ lực ở Việt Nam, đóng góp một phần quan trọng trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Phần lớn diện tích trồng cây có múi đều bị sinh vật tấn công và gây hại. Bệnh vàng lá, thối rễ hiện nay đã gây hậu quả nghiêm trọng cho sản xuất cây ăn quả có múi tại nhiều địa phương. Các nghiên cứu gần đây đang thực hiện trong phòng thí nghiệm, nhà lưới, thử nghiệm ngoài đồng ruộng nhằm tìm ra các tác nhân sinh học đối kháng, các hoạt chất trong thảo mộc tự nhiên để sản xuất chế phẩm sinh học phòng trừ bệnh, dần thay thế thuốc hóa học tổng hợp. Chế phẩm sinh học với tác nhân là tổ hợp các VSV đối kháng đang được tập trung nghiên cứu vì có hiệu quả cao hơn so với chế phẩm dạng đơn chủng, chúng có tác dụng tương hỗ, bổ trợ và làm đa dạng quần thể VSV có ích trong đất.  Một số chế phẩm sinh học thử nghiệm của Viện Bảo vệ thực vật đã được áp dụng tại nhiều địa phương và có hiệu lực cao phòng trừ tác nhân gây bệnh trong đất hại cây ăn quả có múi. Tuy nhiên, việc nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng chế phẩm sinh học phòng trừ bệnh vàng lá thối rễ hiện nay vẫn còn hạn chế. Trong điều kiện đất bị suy thoái nghiêm trọng, môi trường bị ô nhiễm do lạm dụng thuốc hóa học thì việc sử dụng chế phẩm sinh học, phân hữu cơ là rất cần thiết hiện nay, đặc biệt trên các vùng tái canh và phục hồi cây ăn quả có múi. Do đó cần tăng cường nghiên cứu, ứng dụng và kết hợp biện pháp sinh học cùng với giải pháp quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM) để phòng trừ bệnh có hiệu quả, an toàn, đảm bảo sản xuất và phát triển cây ăn quả có múi bền vững tại Việt Nam.

Chi tiết xem file: NGHIÊN CỨU, SỬ DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC QUẢN LÝ SÂU, BỆNH TRONG ĐẤT HẠI CÂY ĂN QUẢ CÓ MÚI 

 

Gửi ý kiến của bạn


Tin cũ hơn

Liên kết website

Video Clip

Thông tin tiện ích

CÔNG TY TNHH NÔNG NGHIỆP XANH VIỆT NAM Công ty phượng hoàng

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá như thế nào về hoạt động của Hội Làm vườn Việt Nam
Hoạt động có hiệu quả
Hoạt động không hiệu quả
Không có ý kiến
 
Danh bạ điện thoại Hỏi đáp Văn bản Liên hệ

FaceBook

Thống kê truy cập

  • Trực tuyến: 21
  • Lượt xem theo ngày: 2592
  • Tổng truy cập: 3471188