THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT SINH HỌC - Kinh nghiệm quản lý trên thế giới và khả năng áp dụng trong điều kiện Việt Nam - Hội Làm vườn Việt Nam

THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT SINH HỌC Kinh nghiệm quản lý trên thế giới và khả năng áp dụng trong điều kiện Việt Nam

BBT: Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp và nhu cầu bức xúc tăng năng suất, sản lượng cây trồng thêm 70% đến năm 2050 để giải quyết vấn đề an ninh lương thực, đồng thời phải đảm bảo phát triển xanh, bền vững, việc sử dụng thuốc BVTV sinh học thay thế thuốc hóa học là một xu thế tất yếu, được sự đồng thuận cao của tất cả các quốc gia trên Thế giới. 

KINH NGHIỆM QUẢN LÝ THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT SINH HỌC

TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM

                                           PGS.TS Nguyễn Xuân Hồng, Phó Chủ tịch Hội Làm vườn Việt Nam

                                                                Nguyên Cục trưởng Cục Bảo vệ thực v                                          

 

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) luôn là một chủ đề “nóng” trên các phương tiện truyền thông và các diễn đàn quốc gia, quốc tế về an ninh lương thực, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Mặc dù chiến lược quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) đã ra đời từ những năm 1960 và được Thế giới áp dụng hơn 60 năm qua với mục tiêu hàng đầu là hạn chế sử dụng thuốc hóa học, nhưng theo số liệu của Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hợp quốc (FAOSTAT, 2020), trong 30 năm (1990-2020) lượng thuốc BVTV sử dụng trên Thế giới đã tăng thêm khoảng 50%.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp và nhu cầu bức xúc tăng năng suất, sản lượng cây trồng thêm 70% đến năm 2050 để giải quyết vấn đề an ninh lương thực, đồng thời phải đảm bảo phát triển xanh, bền vững, việc sử dụng thuốc BVTV sinh học thay thế thuốc hóa học là một xu thế tất yếu, được sự đồng thuận cao của tất cả các quốc gia trên Thế giới. Chính phủ nhiều nước đã có những nỗ lực, tăng cường đầu tư, áp dụng trong thực tiễn nhiều sáng kiến và giải pháp nhằm khuyến khích, tạo động lực thúc đẩy phát triển nghiên cứu, sản xuất và sử dụng thuốc BVTV sinh học. Một số nước đã tạo được những chuyển biến mạnh mẽ trong việc cắt giảm thuốc hóa học thông qua chiến lược phát triển nông nghiệp sinh thái, quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và sử dụng rộng rãi thuốc BVTV sinh học. Một số nước phát triển đã đưa ra mục tiêu trong vòng 25 năm tới chuyển sang nền nông nghiệp không sử dụng hóa chất BVTV.

Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả cung cấp một số thông tin về kinh nghiệm của các quốc gia trên Thế giới trong lĩnh vực quản lý thuốc BVTV sinh học, trên cơ sở đó đề xuất khả năng áp dụng một số giải pháp và kinh nghiệm hay, nhằm góp phần giảm thiểu sử dụng thuốc hóa học, thúc đẩy phát triển sản xuất và sử dụng thuốc BVTV sinh học ở nước ta trong thời gian tới.

I. THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT SINH HỌC TRÊN THẾ GIỚI

Theo MarketandMarkets, giá trị thị trường thuốc BVTV sinh học trên Thế giới dự báo đạt 6.7 tỷ USD trong năm 2023 và sẽ đạt 13.9 tỷ USD vào năm 2028 với mức tăng trưởng về giá trị bình quân 15.9%/năm trong giai đoạn 2023-2028. Mặc dù vậy, thuốc BVTV sinh học chủ yếu vẫn được sử dụng tại các nước phát triển như Bắc Mỹ chiếm 38.2%; EU chiếm 33% tổng giá trị thị trường thuốc BVTV sinh học toàn cầu. Châu Á- Thái Bình Dương chỉ sử dụng 13.2% lượng thuốc BVTV sinh học của Thế giới (năm 2021). Dự báo, trong thời gian tới, nhu cầu sử dụng thuốc BVTV sinh học sẽ ngày càng tăng.

1. Động lực chính thúc đẩy phát triển sản xuất, sử dụng thuốc BVTV sinh học

Theo ý kiến của các chuyên gia nông nghiệp và các tổ chức phân tích, dự báo thị trường, tốc độ tăng trưởng sản xuất và sử dụng thuốc BVTV sinh học sẽ nhanh hơn so với thuốc hóa học. Một số dự báo cho rằng, đến giai đoạn 2040-2050, giá trị thuốc BVTV sinh học trên thị trường sẽ bằng và vượt giá trị thuốc hóa học với các động lực chính như sau:

+ Chiến lược phát triển nông nghiệp xanh, nông nghiếp sinh thái, bền vững, thân thiện môi trường của các quốc gia trên Thế giới. Nhiều nước đã thực hiện các đề án, chiến lược và kế hoạch hành động thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn, thích ứng với biến đổi khí hậu…  Cùng với đó là các chính sách đầu tư, khuyến khích nghiên cứu, tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển sản xuất và sử dụng thuốc BVTV sinh học.

+ Sự phát triển nhanh của sản xuất nông nghiệp hữu cơ do nhu cầu về thực phẩm hữu cơ tăng cao. Thị trường thực phẩm hữu cơ Thế giới đã được định giá khoảng 167 tỷ USD vào năm 2021. Ngoài các thị trường lớn như Bắc Mỹ và châu Âu, đã xuất hiện xu thế sử dụng thực phẩm hữu cơ tại một số nước mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ với nhu cầu về thực phẩm hữu cơ tăng trưởng hai con số/năm. Đến năm 2030, EU sẽ tăng diện tích đất canh tác hữu cơ từ 8% hiện nay lên 25%, đồng thời giảm lượng thuốc BVTV hóa học sử dụng trong nông nghiệp 50%.

+ Hiện tượng kháng thuốc hóa học của nhiều loại sinh vật gây hại (Bọ trĩ, nhện, bệnh phấn trắng, cỏ dại…) gia tăng nhanh chóng, thuốc sinh học là sự lựa chọn hiệu quả đối với các sinh vật hại này. Hiện tại, trên Thế giới ước tính có trên 500 loài sinh vật gây hại cây trồng được công bố kháng thuốc hóa học và con số này tiếp tục tăng nhanh trong thời gian tới. Nhiều loại bệnh hại vùng rễ lây lan trong đất và tuyến trùng cũng không thể giải quyết có hiệu quả bằng thuốc hóa học;

+ Các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới trong sản xuất, tạo dạng thuốc, bảo quản, sử dụng thuốc sinh học ( Thuốc xử lý hạt giống, phun lên lá; thuốc bột; thuốc sinh học trừ tuyến trùng; nanobiopesticides…) góp phần tăng hiệu quả của thuốc sinh học và người sản xuất có thể sử dụng dễ dàng hơn.

+ Nhận thức, hiểu biết về vai trò và cách sử dụng thuốc BVTV sinh học của người sản xuất được nâng cao thông qua công tác truyền thông, tập huấn, khuyến nông…

+ Yêu cầu ngày càng cao và chặt chẽ hơn về độ an toàn đối với thuốc BVTV hóa học làm tăng đáng kể chi phí và thời gian nghiên cứu, phát triển, đăng ký, thương mại hóa các thuốc BVTV hóa học mới.

+ Chi phí nghiên cứu, phát triển, đăng ký thuốc BVTV sinh học thấp hơn so với thuốc hóa học, thu hút nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Để nghiên cứu, phát triển, đăng ký và thương mại hóa một hoạt chất thuốc hóa học mới cần chi phí gần 300 triệu USD. Đối với một loại thuốc BVTV sinh học mới, con số này chỉ khoảng 10-15 triệu USD.

2. Rào cản chính trong sản xuất và sử dụng thuốc BVTV sinh học

Mặc dù có nhiều tiềm năng và lợi thế, việc sử dụng thuốc BVTV sinh học trong thực tiễn cũng đang gặp phải một số tồn tại, hạn chế chính như sau:

+ Hiệu lực thuốc sinh học thường thấp hơn, chậm hơn và không ổn định so với thuốc hóa học;

+ Thuốc BVTV sinh học thường có chuyên tính hẹp hơn, các chủng loại thuốc trên thị trường bị hạn chế hơn nhiều so với thuốc hóa học;

+ Thời gian bảo quản thuốc BVTV sinh học thường ngắn hơn, yêu cầu về điều kiện bảo quản khó hơn, dễ bị ảnh hưởng của môi trường, dễ bị lẫn tạp và giảm chất lượng hơn so với thuốc hóa học;

+ Để thuốc BVTV sinh học phát huy hiệu quả tốt, người sử dụng thuốc BVTV cần phải có hiểu biết về quy luật phát sinh, phát triển, gây hại sinh vật hại và kỹ năng sử dụng thuốc đúng thời điểm, đúng lúc, đúng cách…cụ thể đối với từng đối tượng sinh vật hại.

+ Chi phí sử dụng thuốc BVTV sinh học cao hơn so với thuốc hóa học (kể cả giá thuốc và chi phí sử dụng).

+ Tại các nước đang phát triển, thói quen sử dụng thuốc hóa học và nhận thức về vai trò của thuốc BVTV sinh học rất hạn chế, giá trị thị trường thuốc BVTV sinh học rất hạn chế, chưa thu hút các doanh nghiệp đầu tư sản xuất, kinh doanh.

+ Cơ chế, chính sách và các quy định về quản lý, đăng ký  thuốc BVTV sinh học còn nhiều bất cập, chưa phù hợp, chưa tạo được động lực mạnh mẽ cho việc đầu tư nghiên cứu, phát triển sản xuất và sử dụng thuốc BVTV sinh học.

II. TÌNH HÌNH CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHẰM THÚC ĐẨY SẢN XUẤT, SỬ DỤNG THUỐC BVTV SINH HỌC TRÊN THẾ GIỚI

Tất cả các nước trên Thế giới đều quan tâm đến công tác quản lý thuốc BVTV nói chung và quản lý thuốc BVTV sinh học nói riêng. Tuy nhiên, quy định về quản lý thuốc BVTV sinh học có sự khác biệt giữa các nước.  Mục đích và yêu cầu chung đối với quản lý thuốc BVTV sinh học gồm:

  1. Đảm bảo chất lượng, hiệu lực của thuốc đã được đăng ký và lưu thông trên thị trường;
  2. Đảm bảo độ an toàn đối với người, động vật, thực vật và môi trường;
  3. Đảm bảo các thông tin có liên quan đến thuốc trung thực, rõ ràng;
  4. Ngăn ngừa vi phạm pháp luật, gian lận thương mại;
  5. Tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy sản xuất, lưu thông, sử dụng các loại thuốc BVTV sinh học an toàn, hiệu quả, góp phần giảm thiểu việc sử dụng thuốc hóa học

Công tác quản lý đăng ký, sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc BVTV sinh học của tất cả các nước có một số đặc điểm chung sau đây:

+ Thuốc BVTV sinh học được coi là an toàn hơn so với các loại thuốc hóa học (Trừ một số trường hợp đặc biệt);

+ Thuốc BVTV sinh học là sự lựa chọn phù hợp với chiến lược IPM, để phát huy hiệu quả cần phối hợp với các biện pháp khác và người sử dụng cần có hiểu biết về sinh vật hại, cơ chế tác động của thuốc.

+ Các nước đều khuyến khích, tạo điều kiện cho việc nghiên cứu, phát triển, đăng ký sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc BVTV sinh học nhưng cũng rất quan tâm đến vấn đề an toàn sinh học, chất lượng, hiệu quả của thuốc;

+ Trong quá trình đăng ký thuốc BVTV sinh học, yêu cầu về kết quả nghiên cứu, dữ liệu về độc lý học, tác động đến môi trường, thời gian cách ly, dư lượng thuốc … không đòi hỏi cao như đối với thuốc hóa học, nhiều chỉ tiêu được loại bớt;

+ Thời gian thử nghiệm hiệu lực sinh học, đăng ký thuốc sinh học tại nhiều nước được rút ngắn, chỉ bằng 30-50% thời gian đối với thuốc hóa học;

+ Chi phí đăng ký thuốc BVTV sinh học thấp hơn nhiều so với chi phí đăng ký thuốc hóa học (5-20 lần);

+ Một số loại thuốc BVTV sinh học/ sản phẩm sinh học BVTV được miễn đãng ký tại một số nước;

+ Một số nước tách riêng quy định quản lý thuốc BVTV sinh học; Hội đồng tư vấn đối với thuốc sinh học cũng tách riêng;

+ Để thuận tiện cho quá trình xem xét đăng ký thuốc, nhiều nước phân loại thuốc BVTV sinh học ra các nhóm khác nhau, với những yêu cầu cụ thể khác nhau; có nhóm thuốc được ưu tiên hơn do độ an toàn cao ( Ví dụ thuốc vi sinh- microbial và thiên địch)

+ Một số nước ban hành Danh mục các thuốc BVTV sinh học có độ an toàn cao, thuốc “ Làn xanh” trong khi đăng ký để nhanh hơn, giảm bớt chi phí cho Doanh nghiệp (List of minimum risk biopesticides);

+ Ngoài thuốc BVTV sinh học thương mại hóa, nhiều nước đang phát triển quan tâm khuyến khích, hỗ trợ sản xuất thuốc BVTV sinh học phi thương mại để sử dụng rộng rãi khi cần thiết, đặc biệt trong thời gian có dịch sâu bệnh hại nghiêm trọng xảy ra.

III. KINH NGHIỆM QUẢN LÝ, PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT, SỬ DỤNG THUỐC BVTV SINH HỌC TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

 1. ẤN ĐỘ

Ấn Độ là đất nước nông nghiệp chịu thiệt hại nặng do sâu bệnh, vì vậy công tác bảo vệ cây trồng được đặc biệt quan tâm. Các nhà khoa học Ấn Độ ước tính, thiệt hại do sâu bệnh, cỏ dại gây ra tại Ấn Độ bình quân hàng năm khoảng 35-40% trên đồng ruộng và 9-10% ở giai đoạn sau thu hoạch. Ấn độ nổi tiếng với cuộc Cách mạng xanh (Green revolution) vào những năm 1960- 1970, tuy nhiên cũng phải đối mặt với những hậu quả của việc sử dụng nhiều phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hóa học.

           Nhiều năm nay, Chính phủ Ấn độ đã ban hành và thực hiện nhiều sáng kiến, chính sách trong thực tiễn để thúc đẩy quản lý dịch hại tổng hợp (IPM); Quản lý dịch hại trên nền tảng sinh học (Biological based IPM); Phát triển nông nghiệp hữu cơ; chuyển đổi cuộc Cách mạng xanh (Green Revolution)  sang Cách mạng “ Xanh mãi mãi” (Ever-green Revolution), trong đó quan tâm đặc biệt đến việc ưu tiên, tạo điều kiện cho công tác nghiên cứu, phát triển, chuyển giao công nghệ sản xuất và sử dụng thuốc BVTV sinh học.

Thuốc thảo mộc tách chiết từ hạt Neem (Xoan Ấn độ) và thuốc vi sinh (Microbial biopesticides) là các loại thuốc sinh học được sản xuất, thương mại hóa và sử dụng phổ biến nhất tại Ấn Độ.

Trichoderma viridae là hoạt chất thuốc BVTV vi sinh thông dụng, rẻ nhất, nhưng rất hiệu quả tại Ấn độ, với 250 tên thương phẩm được đăng ký, sử dụng trên 87 loại cây trồng khác nhau để phòng chống 70 loại bệnh hại trong đất và 18 loại bệnh trên lá.

Năm 2022, Ấn Độ có 970 tên thương phẩm thuốc BVTV sinh học được đăng ký. Giá trị thị trường thuốc BVTV sinh học của Ấn độ đạt 69.62 triệu USD chiếm khoảng 9% giá trị thị trường thuốc BVTV, dự báo sẽ đạt trên 130 triệu USD vào năm 2029. Với mức tăng trưởng bình quân gần 10% năm, Ấn độ dự báo đến khoảng 2040-2050, giá trị thị trường thuốc BVTV sinh học của Ấn độ sẽ bằng và vượt giá trị thị trường thuốc BVTV hóa học.

Hiện tại, Ấn độ có 410 cơ sở sản xuất thuốc BVTV sinh học, trong đó 130 cơ sở tư nhân và 280 cơ sở của Nhà nước. Chính phủ Ấn độ cấp kinh phí hàng năm hỗ trợ cho 31 viện, trường, 22 Sở Công nghệ sinh học của các bang, 98 phòng thí nghiệm đấu tranh sinh học của Ấn độ nghiên cứu, phát triển và sản xuất thuốc BVTV sinh học.

Từ năm 2010, Bộ Nông nghiệp và các vấn đề nông dân của Ấn độ và Bộ Khoa học Công nghệ Ấn Độ hàng năm cấp kinh phí hỗ trợ 32 Trung tâm IPM và 35 doanh nghiệp sản xuất thuốc BVTV sinh học.

70% lượng thuốc BVTV sinh học tại Ấn độ do các cơ sở thuộc khu vực nhà nước sản xuất. Trong 10 năm gần đây, lượng thuốc BVTV sinh học được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp của Ấn Độ tăng 23%, trong khi đó lượng thuốc hóa học sử dụng trên đồng ruộng chỉ tăng 2%. Như vậy, Ấn độ là một trong các quốc gia châu Á tạo được sự chuyển biến khá mạnh mẽ trong việc sản xuất và sử dụng thuốc BVTV sinh học.

           Động lực chính của việc tăng sử dụng thuốc BVTV sinh học tại Ấn Độ là nhu càu của người tiêu dùng về sản phẩm sạch, sản phẩm hữu cơ, các chính sách thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái và phát triển bền vững cùng với sự hỗ trợ nghiên cứu, phát triển, sản xuất và sử dụng thuốc BVTV sinh học của nhà nước.

Dự báo trong thời gian tới, tại Ấn Độ các loại thuốc BVTV vi sinh sẽ được phát triển và sử dụng rộng rãi hơn, Dạng chế phẩm phun lên lá (Foliar application) sẽ ngày càng phổ biến vì dễ sử dụng và có hiệu lực cao.

2. TRUNG QUỐC

Theo CIRS (2021), đến tháng 11 năm 2021, tổng số hoạt chất thuốc BVTV sinh học được đăng ký tại Trung Quốc là 120 (tương đương 15% tổng số hoạt chất thuốc BVTV của cả nước), gồm 38 hoạt chất sinh hóa; 52 hoạt chất vi sinh; 27 hoạt chất thảo mộc với 2500 tên thương phẩm, chiếm 3.6% tổng số sản phẩm được đăng ký là thuốc BVTV. Giá trị thị trường thuốc BVTV sinh học của Trung Quốc chiếm khoảng 10% tổng giá trị thị trường thuốc BVTV.

Trung Quốc đã đề ra Chiến lược “Quản lý dịch hại xanh” (Green Pest Management) với mục tiêu đến năm 2050 chuyển sang nền nông nghiệp không sử dụng thuốc BVTV hóa học (Chemical Pesticide- Free Agriculture). Năm 2020, tại Trung Quốc đã có 67 triệu ha canh tác và 41.5% các cây trồng chính áp dụng quản lý dịch hại xanh.

Trung Quốc cũng đề ra mục tiêu phấn đấu trở thành quốc gia dẫn đầu Thế giới trong lĩnh vực nghiên cứu phát triển và sản xuất thuốc BVTV sinh học.

Kể từ năm 2017, lượng thuốc hóa học sử dụng trên đồng ruộng của Trung Quốc dừng tăng, sau đó giảm dần, trong khi đó lượng thuốc sinh học BVTV được sử dụng đã tăng đáng kể, Giai đoạn 2020- 2025, tăng trưởng thị trường thuốc BVTV sinh học của Trung Quốc bình quân là 4.6%/ năm.

Để thuận tiện cho việc đăng ký thuốc với các yêu cầu cụ thể, phù hợp, tùy thuộc vào cơ chế tác động và độ an toàn của thuốc, Trung Quốc phân loại thuốc BVTV sinh học thành các nhóm chính như: Thuốc sinh hóa (chủ yếu là pheromone); thuốc thảo mộc (botanical); thuốc vi sinh (microbial). Đáng chú ý là thuốc điều hòa sinh trưởng cây trồng (Plant growth regulators- PGRs) và các chất kháng sinh nông nghiệp (agricultural antibiotics) được xếp vào thuốc BVTV sinh học tại Trung Quốc. Các giống cây trồng biến đổi gen kháng sâu bệnh cũng được coi là sản phẩm BVTV sinh học và được tính vào biopesticides.

Thiên địch, côn trùng, nhện có ích là sản phẩm bảo vệ thực vật sinh học được ưu tiên, khuyến khích sản xuất, sử dụng không cần đăng ký tại Trung Quốc.

Quy định về thủ tục đăng ký thuốc BVTV sinh học tại Trung Quốc được đơn giản hóa, thời gian chờ đăng ký tạm thời mất khoảng 3-4 tháng; thời gian chờ đăng ký chính thức chỉ mất dưới 12 tháng, Trong khi đó đăng ký thuốc hóa học mất tối thiểu 3 năm. Chi phí cho đăng ký thuốc BVTV sinh học cũng thấp hơn nhiều lần so với chi phí đăng ký thuốc hóa học.

Số lượng hoạt chất thuốc sinh học ở Trung Quốc có những thay đổi đáng kể trong những năm gần đây với nhiều loại thuốc mới đã xuất hiện trên thị trường. Từ năm 2017 đến năm 2020, có 72 hoạt chất thuốc BVTV mới được đăng ký tại Trung Quốc, trong đó có 31 hoạt chất thuốc trừ sâu sinh học, chiếm 43%. Tỷ lệ hoạt chất thuốc BVTV sinh học đã tăng lên đáng kể trong những năm gần đây. Đặc biệt, việc sử dụng các chế phẩm sinh học để xử lý hạt giống tại Trung Quốc đang được áp dụng ngày càng rộng rãi hơn để thúc đẩy sinh trưởng, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện bất thuận của cây trồng từ giai đoạn sớm.

Để hỗ trợ phát triển xanh trong nông nghiệp, hoạt động bán buôn và bán lẻ thuốc BVTV sinh học tại Trung Quốc được miễn thuế VAT và thuế suất VAT của các hoạt động kinh doanh liên quan đến thuốc BVTV sinh học đã giảm từ 13% xuống 9%. Ngoài ra, các công ty phát triển công nghệ mới còn nhận được khoản khấu trừ thuế 75% cho chi phí nghiên cứu-phát triển của họ. Bộ Nông nghiệp và các vấn đề nông dân (MoARA) có kế hoạch đẩy nhanh quá trình thương mại hóa thuốc BVTV sinh học bằng cách thiết lập và triển khai nhanh chóng và hiệu quả chính sách tài chính và thuế.

MoARA đã cung cấp hỗ trợ đáng kể trực tiếp cho các viện nghiên cứu khoa học trong việc phát triển sản phẩm, tích hợp kỹ thuật và thử nghiệm trình diễn thuốc BVTV sinh học từ thiên địch và thuốc sinh học có nguồn gốc tự nhiên tại 600 khu trình diễn quản lý dịch hại tổng hợp hóa học-sinh học, 150 vùng xanh và hàng chục khu bảo vệ côn trùng thụ phấn. Năm 2018, 29,4% cây trồng chính được xử lý bằng công nghệ xanh chống sâu bệnh. Trung Quốc đã thực hiện “Kế hoạch chiến lược quốc gia về tái thiết nông nghiệp thông qua nâng cao chất lượng (2018-2022)” và  MoARA đặc biệt quan tâm đến các hoạt động khuyến nông sử dụng thuốc BVTV sinh học. Tổng số vùng/ quận áp dụng biện pháp phòng ngừa xanh là 300 vào năm 2022 tại Trung Quốc.

Về khuyến khích tài chính, MoARA đảm bảo có thêm quỹ trung ương để hỗ trợ phổ biến thuốc BVTV sinh học: 800 triệu Nhân dân tệ quỹ đặc biệt được sử dụng để quản lý dịch hại tổng hợp hóa học-sinh học và 10 triệu NDT ngân sách cấp bộ cho các hoạt động khuyến nông được phân bổ năm 2022. Chính quyền các tỉnh cũng đã trợ cấp tích cực cho việc sử dụng thuốc BVTV sinh học hoặc phòng trừ sinh học. Ví dụ, Cát Lâm chi khoảng 90 triệu NDT mỗi năm để kiểm soát sâu đục thân ngô và lúa bằng cách thả Trichogramma; mức trợ cấp ở Thượng Hải là 5.33-10 NDT/ha cho việc sử dụng thuốc sinh học, kể cả Spinosad. MoARA cam kết tăng cường nỗ lực hỗ trợ thuốc BVTV sinh học bằng kế hoạch khả thi và hỗ trợ tài chính nhiều hơn.

Cùng với chính sách khuyến khích sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV sinh học, Trung Quốc cũng tăng cường công tác thanh kiểm tra chất lượng thuốc và chống gian lận thương mại. Theo kinh nghiệm của Trung Quốc, các vi phạm thường gặp trên thị trường liên quan đến thuốc BVTV sinh học như sau:

a) Một số sản phẩm sinh học đăng ký sang kênh phân bón, sau đó quảng cáo, hướng dẫn sử dụng như thuốc BVTV sinh học;

b) Nhiều loại phân bón vi sinh bản chất là phân bón nhưng được quảng cáo có tác dụng như thuốc BVTV sinh học;

c) Khi đăng ký, doanh nghiệp sử dụng chủng vi sinh có hoạt lực cao, nhưng khi sản xuất và lưu thông trên thị trường lại sử dụng các chủng vi sinh hoạt lực thấp làm mất lòng tin của người sử dụng;

d) Tình trạng trộn thuốc hóa học vào thuốc sinh học đã đăng ký để bán;

e) Thuốc sinh học bị lẫn tạp với các vi sinh vật khác;

f) Thuốc chất lượng thấp, không đạt yêu cầu so với đăng ký ban đầu do nhiều nguyên nhân.

Chính vì vậy, cùng với chính sách khuyến khích, tạo điều kiện cho việc sản xuất, buôn bán và sử dụng thuốc BVTV sinh học, Trung quốc rất quan tâm đến công tác thanh kiểm tra để đảm bảo chất lượng thuốc trên thị trường.

Trong thời gian tới, với chính sách tạo động lực mạnh mẽ của Trung Quốc nghiên cứu, sản xuất và sử dụng thuốc BVTV sinh học tại đất nước này dự báo sẽ có những bước đột phá mới.

3. THÁI LAN

Thái Lan là một trong những nước sử dụng thuốc BVTV hóa học khá nhiều trong sản xuất nông nghiệp. Năm 2020, Thái Lan nhập khẩu trên 98 ngàn tấn thuốc BVTV hóa học, tương đương 945 triệu USD, trong khi đó nhập khẩu thuốc BVTV sinh học khoảng 1.6 triệu USD, mặc dù có một số thuốc BVTV sinh học được sản xuất trong nước.

Giảm sử dụng thuốc BVTV hóa học, loại bỏ các hoạt chất thuốc hóa học độc hại, tăng sử dụng thuốc sinh học được Thái Lan quan tâm, đặc biệt trong khoảng thời gian 10-15 năm gần đây.

Hiện tại, nông dân Thái Lan chủ yếu sử dụng thuốc BVTV sinh học để bổ sung và thay thế một phần thuốc hóa học. Nghiên cứu tại Thái Lan đã chỉ ra một số khó khăn chính trong việc thúc đẩy sử dụng thuốc BVTV sinh học bao gồm: Hiệu lực của thuốc sinh học thấp hơn và chậm hơn thuốc hóa học; Thời gian bảo quản thuốc ngắn hơn và chất lượng thuốc dễ bị giảm do điều kiện bảo quản; Chuyên tính hẹp và không được phong phú về chủng loại của thuốc BVTV sinh học để đáp ứng nhu cầu của người sản xuất; Người sản xuất có nhận thức và hiểu biết hạn chế trong sử dụng thuốc BVTV sinh học. Ngoài ra, nguồn nhân lực về nghiên cứu, phát triển công nghệ thuốc BVTV sinh học của Thái Land vẫn còn hạn chế,

Để thúc đẩy phát triển sản xuất và sử dụng thuốc BVTV sinh học, Thái Lan có quy định về kênh đăng ký nhanh (Fast track registration) đồng thời có sáng kiến ban hành Danh mục thuốc sinh học “độ rủi ro thấp” (minimum risk biopesticides). Năm 2021, số lượng các hoạt chất thuốc sinh học thuộc Danh mục này đã tăng từ 5 lên 17. Đối với các sản phẩm được sản xuất từ các hoạt chất trong Danh mục thuốc sinh học độ rủi ro thấp không cần phải thử nghiệm độc lý học (Toxicology test exempted), vì vậy thời gian chờ đăng ký được rút ngắn xuống còn khoảng 6-12 tháng.

Đối với các loại thuốc sinh học khác, thời gian thực hiện các thủ tục để được đang ký tại Thái Lan là khoảng 18- 24 tháng, tương tự như ở Mỹ, Úc, nhanh hơn so với ở Nhật Bản và EU.

 4. NHẬT BẢN

Theo Modor Intelligent (2023), Thị trường thuốc BVTV sinh học của Nhật Bản có tổng giá trị năm 2023 khoảng trên 700 triệu USD, dự báo tăng trưởng 12%/năm giai đoạn 2023-2028. Nhật bản là nước có chính sách khuyến khích sử dụng thuốc BVTV sinh học từ những năm 1950s, với lượng lớn, những năm gần đây đứng khoảng thứ 4- thứ 5 trên Thế giới  (Tetsuo Tommy Wada, 2016).

Bộ Nông Lâm nghiệp Nhật Bản (MAFF) đã sửa đổi Quy định về Hóa chất Nông nghiệp vào năm 2018 và quy định đánh giá lại tất cả các sản phẩm BVTV đã đăng ký tại Nhật Bản phù hợp với thông tin khoa học mới nhất. Chương trình đánh giá lại bắt đầu vào năm 2021, yêu cầu đánh giá lại tất cả các sản phẩm BVTV đã đăng ký cứ sau 15 năm. Các tổ chức, cá nhân đăng ký thuốc được thông báo về việc đánh giá lại trước 2 năm. Mặc dù một số loại thuốc BVTV sâu sinh học đã được đăng ký, MAFF có kế hoạch thiết lập một hướng dẫn mới về thuốc BVTV sinh học, đồng thời đưa ra quy trình đánh giá lại đối với thuốc  sinh học.

Năm 2021, MAFF đã công bố "Chiến lược hệ thống thực phẩm xanh” với mục tiêu cải thiện năng suất và tính bền vững của lương thực, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản thông qua đổi mới. Tương tự như chiến lược” Từ trang trại đến bàn ăn” của châu Âu, "Chiến lược hệ thống thực phẩm xanh" nhằm đạt được một số mục tiêu như không phát thải CO2, giảm 50% rủi ro hóa chất nông nghiệp; giảm 30% sử dụng phân bón hóa học vào năm 2050. Để duy trì các mục tiêu chiến lược, MAFF đang khuyến khích phát triển và giới thiệu thuốc BVTV sinh học cũng như các công nghệ liên quan dựa vào tự nhiên. Với việc thực hiện “Chiến lược hệ thống thực phẩm xanh”, vai trò của thuốc BVTV  sinh học trên thị trường nông nghiệp Nhật Bản dự kiến ​​sẽ ngày càng trở nên quan trọng.

Trong công tác quản lý thuốc BVTV sinh học, Nhật Bản rất coi trọng an toàn sinh học, chất lượng, hiệu quả của thuốc và vấn đề sở hữu trí tuệ.  

Để thúc đẩy phát triển, ứng dụng các biện pháp sinh học, trong đó có việc sản xuất, sử dụng thuốc sinh học thay thế thuốc hóa học, Hội BVTV sinh học Nhật Bản (Japan Bio-control Association) đã được thành lập vào năm 2016, thu hút sự tham gia của nhiều tổ chức, cá nhân, đặc biệt là các tập đoàn, doanh nghiệp lớn đang sản xuất, cung ứng thuốc BVTV sinh học.

5. HÀN QUỐC

Kể từ năm 2001, việc sử dụng thuốc BVTV hóa học ở Hàn Quốc đã giảm dần sau khi tăng từ năm 1970 đến năm 1990. Năm 2020, 16.278 tấn thuốc BVTV đã được sử dụng, giảm so với 16.745 tấn của năm trước. Sự sụt giảm này được lý giải là do nông dân nhận thức rõ hơn về sự cần thiết sử dụng thuốc BVTV sinh học thay thế thuốc hóa học.

Năm 2019, giá trị thị trường thuốc BVTV của Hàn Quốc là 1.26 tỷ USD, trong đó thuốc sinh học là 0.3 tỷ USD. Giá trị thị trường thuốc BVTV sinh học của Hàn Quốc những năm gần đây tăng trưởng khoảng 5-10%/ năm.

Động lực chính thúc đẩy tăng trưởng sản xuất và sử dụng thuốc BVTV tại Hàn Quốc bao gồm:

  1. Chính sách tăng cường kiểm soát an toàn thực phẩm nông sản thông qua việc áp dụng hệ thống PLS (Positive List System); Theo đó Hàn Quốc yêu cầu kiểm tra ATTP đối với 370 hoạt chất thuốc BVTV trên nông sản thực phẩm, bao gồm khoảng gần 240 hoạt chất được đăng ký tại Hàn Quốc và 134 hoạt chất chưa được đăng ký. Đối với các hoạt chất không được đăng ký tại Hàn Quốc, nước này áp dụng mức MRL mặc định là 0.01ppm hoặc thấp hơn. Quy định này đã khuyến khích việc sử dụng thuốc BVTV sinh học an toàn, không để lại dư lượng, đặc biệt ở giai đoạn cuối của cây trồng.
  2. b) Hiện tượng kháng thuốc hóa học của nhiều đối tượng sinh vật hại cây trồng như: Bọ trĩ, nhện, nấm phấn trắng…đã khuyến khích người sản xuất sử dụng thuốc sinh học kết hợp hoặc thay thế thuốc hóa học do thuốc hóa học không có hiệu quả.
  3. c) Sự xuất hiện của những sản phẩm thuốc BVTV sinh học mới, với dạng chế phẩm thuận tiện cho việc sử dụng, hiệu quả cao. Khoảng 10 năm trước, không ai tin rằng thuốc trừ sâu sinh học hoặc chất kích thích sinh học sẽ được bán với giá hơn 1 triệu USD mỗi năm dưới dạng một sản phẩm ở Hàn Quốc. Tuy nhiên, một số sản phẩm đã chứng minh rằng định kiến này chắc chắn là sai. Một loại thuốc diệt nấm sinh học đã đạt doanh thu gần 10 triệu USD hàng năm và một số chất kích thích sinh học đã ghi nhận doanh thu hàng năm hơn 1 triệu USD. Thực tế này chứng tỏ rằng thuốc trừ sâu sinh học và chất kích thích sinh học đang ngày càng được coi trọng hơn và sử dụng rộng rãi, hiệu quả hơn tại Hàn Quốc.
  4. d) Sự phát triển rộng rãi của hình thức giới thiệu và bán hàng online đã góp phần thúc đẩy sản xuất và sử dụng thuốc BVTV sinh học. Hàn Quốc quy định được phép bán thuốc BVTV sinh học online, trong khi đó hình thức bán hàng này không được phép đối với thuốc BVTV hóa học.

Một điều đáng chú ý là tại Hàn Quốc những năm gần đây, trên thị trường đã xuất hiện các chất kích thích sinh học (bio-stimulants). Các chất này cũng được Hàn Quốc coi là thuốc BVTV sinh học và đang được nông dân đánh giá cao là một giải pháp mới trong lĩnh vực bảo vệ thực vật, đặc biệt là tăng khả năng chịu đựng của cây trồng đối với các điều kiện bất thuận như hạn hán, lũ lụt, thay đổi nhiệt độ cao hay thấp và nứt quả. Sự thành công của chất giữ nước trong đất (SmatWater) và chất chống nứt quả (Fitomaat) chứng tỏ xu hướng mới này đang ngày càng phát huy hiệu quả thực tế trong lĩnh vực sản xuất và ứng dụng thuốc BVTV sinh học ở Hàn Quốc.

6. MỸ

Tất cả các loại thuốc BVTV, trong đó có thuốc sinh học tại Mỹ trước khi đưa ra thị trường đều phải được đăng ký và được quản lý bởi Cơ quan Bảo vệ môi trường EPA. Định nghĩa của EPA về thuốc BVTV sinh học được nhiều nước trên Thế giới sử dụng, bao gồm các nhóm chính như sau:

  1. Thuốc sinh hóa (Biochemicals- có nguồn gốc tự nhiên như chất dẫn dụ giới tính- Pheromones, các chất truyền tín hiệu của côn trùng… không gây độc cho sinh vật hại nhưng có thể áp dụng để can thiệp vào sự phát triển của sinh vật hại). Các thuốc trừ sâu thảo mộc, tinh dầu thực vật, một số khoáng chất tự nhiên cũng được xếp vào nhóm này. Trong trường hợp cần thiết, EPA thành lập Hội đồng khoa học, lấy ý kiến chuyên gia để quyết định hoạt chất thuốc BVTV dự định đăng ký có được coi là biochemical hay không.
  2. Thuốc vi sinh (Microbial): Hoạt chất là vi khuẩn, nấm, tuyến trùng có ích
  3. PIPs (Plant incorporated protectants): Chất diệt sinh vật hại do cây trồng biến đổi gen kháng sâu bệnh tự tổng hợp ( Ví dụ độc tố Bt)

Ngoài việc có Phòng Thuốc BVTV sinh học và ngăn ngừa ô nhiễm, EPA còn có Trung tâm thông tin về thuốc BVTV để cung cấp cho các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, người sản xuất các thông tin cần thiết liên quan đến đăng ký, sản xuất và sử dụng thuốc BVTV sinh học. EPA có hướng dẫn rất cụ thể, dễ tra cứu về các quy định và hồ sơ đăng ký thuốc BVTV sinh học. Trước khi muốn làm thủ tục đăng ký thuốc sinh học, EPA khuyến cáo các doanh nghiệp hoặc tổ chức cá nhân có nhu cầu đăng ký thuốc đặt lịch hẹn và EPA tổ chức cuộc họp (Pre-submission meeting) để các chuyên gia EPA nghe báo cáo về thuốc dự định đăng ký và hướng dẫn thực hiện các quy định, thủ tục đăng ký thuốc.

EPA có quy định riêng đối với đăng ký thuốc BVTV sinh học. Dữ liệu và thủ tục đăng ký thuốc sinh học được đơn giản hóa, thời gian chờ xem xét, cấp giấy chứng nhận đăng ký thuốc thường tối đa là 12 tháng, so với trên 3 năm đối với thuốc hóa học. Chi phí đăng ký thuốc BVTV sinh học cũng thấp hơn nhiều so với thuốc hóa học. Ví dụ, để đăng ký 01 loại thuốc sinh hóa, doanh nghiệp tốn khoảng dưới 33.000USD, trong khi đăng ký 01 thuốc hóa học mới tốn khoảng 700.000- 800.000 USD tùy thuộc vào độ an toàn của thuốc và yêu cầu tiến hành các thử nghiệm để có số liệu báo cáo.

7. LIÊN MINH CHÂU ÂU- EU

Các nước EU cho rằng, thuốc trừ sâu sinh học có nguồn gốc từ thiên nhiên, chúng tập hợp lại thành bốn loại chính: chất bán hóa học- Semiochemical (ví dụ: pheromone), chất tự nhiên (ví dụ: thực vật, chất sinh hóa), Vĩ sinh (ví dụ: côn trùng có ích) và vi sinh vật như vi khuẩn hoặc vi rút. Khác với Mỹ và nhiều nước, EU không đưa các chất diệt sâu do cây trồng biến đổi gen tạo ra (PIPs) vào khái niệm thuốc BVTV sinh học.

Hiện nay, thuốc BVTV sinh học tại EU chiếm trên 30% tổng giá trị Thị trường toàn cầu, đứng thứ hai trên Thế giới, sau khu vực Bắc Mỹ.

Thỏa thuận xanh châu Âu (EU Green Deal) đề ra mục tiêu tăng tủ lệ diện tích đất canh tác hữu cơ từ 8% hiện nay lên 25%, giảm lượng thuốc BVTV và các môi nguy do thuốc BVTV 50% đến năm 2030 sẽ tạo động lực cho phát triển sản xuất và sử dụng thuốc sinh học trong thời gian tới. Croplife Europe đã có kế hoạch dành 4 tỷ Euro đầu tư nghiên cứu, phát triển các thuốc BVTV sinh học mới cho giai đoạn từ nay đến năm 2030 tại châu Âu.

EU đã và đang sửa đổi các quy định liên quan đến đăng ký, sản xuất và sử dụng thuốc BVTV sinh học theo hướng ưu tiên cho các loại thuốc an toàn. Tuy thời gian đăng ký thuốc sinh học của EU lâu hơn các nước nhưng sau khi đã đăng ký, thuốc sinh học có thể lưu thông trên thị trường 10-15 năm sau mới cần gia hạn.

8. ÚC

Úc chia các thuốc BVTV sinh học thành 4 nhóm chính: 1) Các chất chiết xuất từ thực vật ( Plant extracts); 2) Thuốc vi sinh ( microbial pesticides); 3) Một số khoáng chất tự nhiên (natural chemicals/ minerals) và 4) Thuốc sinh hóa ( biochemicals).

Nếu thành phần hoạt tính của sản phẩm là hóa chất có nguồn gốc sinh học có độc tính trực tiếp đối với loài mục tiêu và có thể được tinh chế, xác định đầy đủ và áp dụng phương pháp phát hiện dư lượng thì sản phẩm đó không được phân loại là sản phẩm sinh hóa. Ví dụ, các sản phẩm dựa trên nicotin, strychnine, rotenone và ivermectin. Yêu cầu dữ liệu khi đăng ký đối với các sản phẩm này cũng giống như yêu cầu đối với thuốc BVTV hóa học.

Hiện tượng cỏ dại kháng thuốc hóa học rất phổ biến tại Úc, vì vậy sử dụng thuốc trừ cỏ sinh học rất được quan tâm. Các tài liệu hướng dẫn sử dụng các biện pháp sinh học truyền thống nhưng hiệu quả như sử dụng Giấm ăn (acetic acid), Citric acid, muối ăn hoặc hỗn hợp một số khoáng chất tự nhiên để diệt cỏ dại trong vườn được khuyến cáo, hướng dẫn sử dụng rộng rãi.

Tại Úc, thuốc BVTV sinh học sử dụng để xử lý hạt giống và xử lý đất là các loại thuốc đang được sử dụng ngày càng rộng rãi để chủ động phòng ngừa các sâu bệnh hại trong đất vốn rất khó phòng trừ bằng hóa học. Các thuốc vi sinh thường được kế hợp đa chủng, đa loài để đem lại hiệu quả cao hơn và ổn định hơn.

Úc có quy định đăng ký đặc cách đối với một số thuốc BVTV sinh học phục vụ phòng chống dịch. Năm 2021, Úc đã cho đăng ký đặc cách thuốc sinh học Fawligen của Tập đoàn AgBitech để phòng chống dịch Sâu keo mùa thu tại bang Queensland.

9. BRAZIL

Thị trường thuốc trừ sâu sinh học Brazil ước tính đạt khoảng 340 triệu USD vào năm 2021, nhưng dự đoán rằng thuốc trừ sâu sinh học có tiềm năng tăng 107% đến năm 2030, đạt khoảng 700 triệu USD. Đặc biệt, hơn 2,5 triệu ha trồng đậu tương ở Brazil đã được xử lý bằng thuốc sinh học phòng trừ tuyến trùng trong vụ mùa 2018/2019.

Tại Brazil, thuốc sinh học trừ tuyến trùng được sử dụng trên 90% diện tích trồng đậu tương và khoảng 70% tổng lượng thuốc sinh học trừ tuyến trùng được sử dụng trên đậu tương.

Năm 2013, chỉ có 107 loại thuốc trừ sâu sinh học được đăng ký tại Brazil. Năm 2023, số lượng sản phẩm sinh học được đăng ký ở Brazil là 502 chứng tỏ rằng xu hướng phát triển sản xuất và sử dụng thuốc BVTV sinh học rất mạnh mẽ tại quốc gia này. Thị trường thuốc BVTV sinh học của Brazil giai đoạn 2023-2028 được dự báo tăng trưởng 8.2%/năm.

Brazil có quy định cho phép sản xuất thuốc BVTV vi sinh ở quy mô trang trại (on-farm biopesticide production) với mục đích “phi thương mại” ( non-commercial purpose) Người sản xuất để tự sử dụng không phải đăng ký thuốc, không cần chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, chỉ cần ghi chép nhật ký một số thông tin cơ bản quá trình sản xuất, sử dụng các chủng vi sinh có trong Danh mục đăng ký hoặc các chủng vi sinh bản địa.

IV. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VỀ ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT, SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ THUỐC BVTV SINH HỌC TẠI VIỆT NAM

Kinh nghiệm quản lý và tạo động lực thúc đẩy sản xuất và sử dụng thuốc BVTV sinh học trên Thế giới cần được nghiên cứu, chọn lọc để có thể áp dụng trong điều kiện Việt Nam. Từ những bài học kinh nghiệm của một số quốc gia, chúng tôi có một số đề xuất đối với công tác quản lý thuốc BVTV sinh học tại Việt Nam như sau:

1.Cần xác định mục đích chính của việc thúc đẩy sản xuất, sử dụng thuốc BVTV sinh học là nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ thực vật, giảm sử dụng hóa chất, đảm bảo an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và phát triển nông nghiệp bền vững. Để đạt được mục tiêu trên, Việt Nam cần coi trọng cả 3 hướng đi chính bao gồm: 1) Phát triển sản xuất, sử dụng thuốc sinh học trong nước; 2) Nhập khẩu, sử dụng các loại thuốc sinh học chất lượng tốt, hiệu quả cao; và 3) Hướng dẫn, hỗ trợ nông dân tự sản xuất thuốc sinh học quy mô nông hộ, trang trại, tổ hợp tác hoặc HTX (On- farm bio-pesticide production).

 2.Cần đặc biệt quan tâm đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành trong công tác quản lý thuốc, trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ chọn tạo ra các chủng vi sinh có hiệu lực cao, công nghệ tạo dạng, sản xuất, sử dụng thuốc BVTV sinh học.

 3. Đẩy mạnh công tác truyền thông nâng cao nhận thức, hiểu biết của người sản xuất, người tiêu dùng và cộng đồng về vai trò của thuốc BVTV sinh học.

 4. Rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy chuẩn, tiêu chuẩn đánh giá chất lượng thuốc BVTV sinh học và tăng cường công tác thanh kiểm tra, đảm bảo chất lượng thuốc BVTV sinh học trên thị trường.

 5. Xây dựng mạng lưới các tổ chức, trước hết là các đơn vị thuộc Cục, các Viện, Trường, Trung tâm có nhiệm vụ, được cấp kinh phí thường xuyên để nghiên cứu, phát triển, bảo quản nguồn gen vi sinh vật có ích và sản xuất, cung ứng thuốc BVTV sinh học. Đồng thời, có chính sách giảm thuế, hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp nghiên cứu, phát triển, sản xuất và cung ứng thuốc BVTV sinh học.

 6. Các địa phương có chính sách hỗ trợ, khuyến khích, trợ cấp cho nông dân sử dụng thuốc BVTV sinh học trên một số đối tượng sinh vật hại và cây trồng quan trọng, đặc biệt đối với cây lâm nghiệp.

7.Rà soát, đổi mới quy định quản lý thuốc BVTV tại Việt Nam, trong đó cần tách riêng nội dung quy định về quản lý đăng ký, sản xuất, sử dụng thuốc BVTV sinh học theo hướng:

8. Cụ thể hóa khái niệm về thuốc BVTV sinh học tại Việt Nam hài hòa với quy định của các nước trong khu vực và trên Thế giới;

9. Bổ sung quy định đối với một số loại thuốc BVTV sinh học mới: nanobiopesticides, thuốc kích kháng (Resistance inducers), các khoáng chất tự nhiên (natural minerals), các hoạt chất có cơ chế tác động khác nhau lên cây trồng, các hoạt chất do công nghệ mới tạo ra…

10.Đơn giản hóa thủ tục, loại bỏ một số yêu cầu thử nghiệm độc lý qua miệng, qua da, chuyển hóa trong môi trường, giảm số lượng và thời gian khảo nghiệm thuốc… đối với một số hoạt chất, đặc biệt là đối với thuốc BVTV vi sinh và pheromones để rút ngắn thời gian đăng ký;

11. Ban hành Danh mục các hoạt chất thuốc BVTV sinh học an toàn ( low risk pesticides) được ưu tiên đăng ký nhanh;

12.Bổ sung quy định về việc thành lập và thời gian họp Hội đồng tư vấn xem xét đăng ký thuốc BVTV sinh học và quyết định của Bộ trưởng bổ sung vào Danh mục thuốc được phép sử dụng tại Việt Nam để rút ngắn thời gian đăng ký thuốc.

13.Quy định thủ tục đăng ký đặc cách thuốc BVTV sinh học trong điều kiện phòng chống dịch hại khẩn cấp;

14.Tăng thời gian hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký thuốc BVTV sinh học lên 10-15 năm, thay vì 5 năm như hiện nay.

15.Bổ sung quy định chỉ cho phép thuốc sinh học được bán hàng online.

16. Đổi mới quy định về hướng dẫn sử dụng, bảo quản trên bao gói thuốc BVTV sinh học.

 17. Biên soạn, phát hành tài liệu hướng dẫn kỹ thuật sản xuất, sử dụng một số thuốc BVTV thông dụng, hiệu quả như Trichoderma viridae; Metarhizum anisopliae; Beauveria… để nông dân tự sản xuất và sử dụng ở quy mô nông hộ, trang trại, HTX…với mục đích phi thương mại.

 18. Tăng cường công tác khuyến nông về thuốc BVTV sinh học. Xây dựng, nhân rộng các mô hình sản xuất, cung ứng, ứng dụng các biện pháp sinh học trong quản lý dịch hại tổng hợp tại các vùng sinh thái và trên các cây trồng chủ lực trong cả nước./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Definition of biopesticides in China. https://www.cirs-group.com/en/agrochemicals. (Dec 14, 2021)
  2. Croplife Europe. Biopesticides, https://croplifeeurope.eu/our-priorities/biopesticides/.
  3. Deciyanto Soetopo and Jelfina C. Alouw. Biopesticide development & registration: challenges & strategies; 2023 IOP Conf. Ser.: Earth Environ. Sci.
  4. Donglion Kim. Is Korea an attractive country for bio-pesticide and bio-stimulant? https://news.agropages.com/ (Dec 2, 2020).
  5. FAOSTAT. Pesticide use, pesticides trade and pesticides indicators- Global, regional and country trends, 1990- 2020. FAOSTAT Analytical brief 46, 2021.
  6. Harry Teicher. Biopesticide regulation: A comparison of EU and US approval. https://www.agribusinessglobal.com/ (28 February, 2018).
  7. Biopesticides market statistics, June 2023. https://www.marketsandmarkets.com/
  8. Japan biopesticides market size & share analysis-Growth trends and forecasts (2023-2028). https://www.mordorintelligence.com/.
  9. Nilanjan Chakraborty et al. Biopesticide Consumption in India: Insights into the Current Trends. Special Issue Plant–Soil–Microbe Interactions for Sustainable Crop Production, 24 February 2023.
  10. Jame McManagan. Government

Gửi ý kiến của bạn


Liên kết website

Video Clip

Thông tin tiện ích

CÔNG TY TNHH NÔNG NGHIỆP XANH VIỆT NAM Công ty phượng hoàng

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá như thế nào về hoạt động của Hội Làm vườn Việt Nam
Hoạt động có hiệu quả
Hoạt động không hiệu quả
Không có ý kiến
 
Danh bạ điện thoại Hỏi đáp Văn bản Liên hệ

FaceBook

Thống kê truy cập

  • Trực tuyến: 73
  • Lượt xem theo ngày: 5024
  • Tổng truy cập: 3785896