Trước rào cản thương mại ngày càng khắt khe tại các thị trường chủ lực, ngành hàng cá rô phi Việt Nam đang tăng tốc lộ trình hiện đại hóa với đích đến là các phân khúc giá trị gia tăng cao. Ngành thủy sản đang tập hợp mọi nguồn lực để hiện thực hóa mục tiêu nâng tầm vị thế và đưa cá rô phi bứt phá mạnh mẽ trên thị trường toàn cầu.
Nhiều tiềm năng
Theo Fact.MR, thị trường cá rô phi toàn cầu được dự báo tăng từ 15,5 tỷ USD năm 2025 lên khoảng 21 tỷ USD vào năm 2035. Tốc độ tăng trưởng kép hằng năm (CAGR) dự kiến đạt 3,1% trong giai đoạn 2025 - 2035. Đây là cơ hội để ngành hàng cá rô phi Việt Nam chiếm lĩnh thị trường.
Từ loài cá quen thuộc trong mâm cơm người Việt, cá rô phi đang dần bước vào chuỗi giá trị toàn cầu, được đánh giá có tiềm năng trở thành “trụ cột thứ ba” của ngành thủy sản, bên cạnh tôm và cá tra.
Năm 2025, tổng sản lượng cá rô phi đạt khoảng 420 nghìn tấn, tăng khoảng 33% so với năm 2024. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2015-2025 đạt khoảng 8,4%/năm. Đây là mức tăng trưởng cho thấy cá rô phi không còn là đối tượng nuôi nhỏ lẻ, mà đang từng bước trở thành ngành hàng có quy mô và dư địa phát triển rõ rệt.
Cùng với tăng trưởng sản lượng, hệ thống sản xuất phục vụ ngành cá rô phi cũng từng bước được hình thành và mở rộng. Mỗi năm, sản lượng sản xuất giống của cả nước vào khoảng 1,4 tỷ con giống, cùng khoảng 510 cơ sở chế biến thủy sản đủ điều kiện xuất khẩu có khả năng tham gia chế biến sản phẩm cá rô phi.

Nhiều doanh nghiệp đầu tư dây chuyền công nghệ chế biến cá rô phi hiện đại.
Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đạt 99 triệu USD năm 2025 (tăng hơn 140% so với năm 2024) và chỉ riêng trong quý I/2026, con số này đã đạt 35 triệu USD (tương ứng mức tăng gần 190% so với cùng kỳ năm 2025). Tính chung 8 tháng của năm 2026, xuất khẩu cá rô phi đạt 90 triệu USD, tăng 43% so với cùng kỳ năm trước.
Về thị trường, Brazil tiếp tục là thị trường nổi bật nhất. Lũy kế từ đầu năm đến hết tháng 8/2026, xuất khẩu cá rô phi sang Brazil đạt 44 triệu USD, tăng 22,142%. Mức tăng đột biến chủ yếu đến từ việc quy mô xuất khẩu được mở rộng trên nền kim ngạch thấp của cùng kỳ năm 2025.
Với kết quả này, Brazil hiện đóng góp gần một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu cá rô phi của Việt Nam, qua đó trở thành một trong những thị trường quan trọng nhất của ngành hàng.
Cùng với đó, Nhật Bản đang nổi lên là thị trường nhiều tiềm năng, 8 tháng năm 2026, kim ngạch đạt 2 triệu USD, tăng 77% so với cùng kỳ năm trước. Điểm nhấn quan trọng là cá rô phi nước lợ của Việt Nam đã bắt đầu xuất hiện trong phân khúc sushi và sashimi.
Đánh giá về số liệu này, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho rằng, Nhật Bản là thị trường vốn nổi tiếng với các tiêu chuẩn khắt khe về chất lượng thực phẩm. Việc đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng sản phẩm, kiểm soát môi trường nuôi, truy xuất nguồn gốc và chế biến cho thấy cá rô phi Việt Nam đang từng bước nâng cao giá trị gia tăng, thay vì chỉ cạnh tranh ở phân khúc phổ thông.
Bên cạnh các thị trường riêng lẻ, nhiều khu vực cũng ghi nhận kết quả khả quan. Trong 8 tháng của năm 2026, xuất khẩu cá rô phi sang các nước CPTPP đạt 6 triệu USD.
Tại châu Âu, nguồn cung một số loại cá thịt trắng khai thác tự nhiên hạn chế và giá ở mức cao đang tạo thêm dư địa cho các loài cá nuôi có khả năng cung ứng ổn định. Trong bối cảnh đó, cá rô phi có cơ hội trở thành nguồn nguyên liệu thay thế ở một số phân khúc nếu đáp ứng tốt yêu cầu về chất lượng, quy cách sản phẩm, truy xuất nguồn gốc và chứng nhận bền vững.
Chuẩn hóa vùng nuôi, xây dựng thương hiệu quốc gia
Mặc dù đạt được những kết quả nổi bật trong xuất khẩu, tuy nhiên, theo các chuyên gia, ngành hàng cá rô phi vẫn đối mặt với không ít thách thức. Đơn cử, ngành hàng này chưa chủ động được nguồn giống chất lượng cao và đồng đều, năng lực sản xuất giống chất lượng cao chưa đáp ứng đủ nhu cầu, chưa đa dạng các dòng chịu mặn - lợ để đa dạng hóa sản xuất; hệ thống giống chưa đồng bộ.
Trong khi đó, cá rô phi Việt Nam phải cạnh tranh với nguồn cung từ Trung Quốc, Indonesia và Brazil. Trung Quốc hiện vẫn duy trì nguồn cung tương đối ổn định và là đối thủ đáng chú ý tại Hoa Kỳ.
Đưa ra giải pháp cho vấn đề trên, VASEP cho rằng, doanh nghiệp Việt cần chủ động theo dõi sát sao các thay đổi quy định ở cả cấp liên bang lẫn chính quyền từng bang của các nước là thị trường chủ lực, đặc biệt là các thông số về hạn ngạch, thuế ICMS, kiểm dịch TiLV, tỷ lệ mạ băng và khả năng truy xuất nguồn gốc. Ngành hàng cần chuyển dịch mạnh từ phương thức cạnh tranh đơn thuần bằng giá và khối lượng sang nâng cao năng lực tuân thủ, minh bạch hóa hồ sơ kỹ thuật và tăng độ linh hoạt trước những điều chỉnh chính sách bất ngờ.
Theo TS. Phạm Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam, ngành cá rô phi cần xây dựng thương hiệu quốc gia. Thương hiệu ở đây không chỉ là tên gọi mà phải gắn với hệ thống tiêu chuẩn về con giống, quy trình nuôi, kiểm soát dịch bệnh, chất lượng sản phẩm và khả năng truy xuất nguồn gốc. Khi sản phẩm có chất lượng ổn định và tạo được sự khác biệt, khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế sẽ cao hơn.
Để xuất khẩu bền vững mặt hàng cá rô phi, ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), đề xuất, thời gian tới, các bộ, ban ngành cần xác định cá rô phi là đối tượng chủ lực, tập hợp nguồn lực từ các cơ sở nghiên cứu giống, vùng nuôi, đến các nhà máy chế biến.
Một tín hiệu đáng mừng là nhiều doanh nghiệp đã đầu tư dây chuyền công nghệ chế biến hiện đại, như dây chuyền fillet tự động, tạo ra các sản phẩm giá trị gia tăng như cá hun khói hay snack.
“Công nghệ chế biến hiện đại sẽ là đầu kéo để các cơ quan quản lý, địa phương và hệ thống khuyến nông hợp tác, đào tạo, xây dựng vùng nguyên liệu đạt tiêu chuẩn xuất khẩu”, ông Luân khẳng định.
Đồng thời, đầu tư nghiên cứu giống chất lượng cao (như giống GIFT và giống kháng virus TiLV), mở rộng hệ thống nuôi hiện đại như RAS và bể bạt, hợp tác với doanh nghiệp sản xuất thức ăn trong nước để giảm 15% chi phí sản xuất và đạt các chứng nhận quốc tế như ASC, BAP để đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe của EU, Hoa Kỳ.
Cùng với đó, công tác phục hồi môi trường nuôi tôm, cá cũng cần được coi trọng. Việc luân canh giữa tôm và cá rô phi không chỉ tạo sản phẩm chất lượng cao mà còn kiểm soát dịch bệnh, giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn. “Đã đến lúc chúng ta nghĩ về phục hồi môi trường nuôi, đảm bảo phát triển bền vững”, ông Luân nói.
Cục Thủy sản và Kiểm ngư sẽ phối hợp với các địa phương để chuẩn hóa vùng nuôi, đặc biệt tại các khu vực hồ chứa thủy lợi, thủy điện và giao mặt nước cho người dân, hợp tác xã để đầu tư nuôi trồng.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo các địa phương tăng cường quản lý vùng nuôi, kiểm soát chất lượng giống, đồng thời phát triển các mô hình nuôi theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP hoặc các chứng nhận quốc tế. Việc xây dựng vùng nguyên liệu ổn định được nhận diện là yếu tố then chốt để thúc đẩy xuất khẩu. Các sản phẩm phụ từ cá rô phi, như vây, da, cũng có thể được chế biến thành sản phẩm giá trị gia tăng, góp phần khép kín chuỗi giá trị và phát triển bền vững.
|
Từ nay đến năm 2030, ngành cá rô phi hướng tới kịch bản xuất khẩu khoảng 250–350 triệu USD. Trong trường hợp hình thành được chuỗi sản xuất quy mô lớn, đồng bộ từ con giống, vùng nuôi đến chế biến và thị trường, kim ngạch xuất khẩu có thể hướng tới mốc 500 triệu USD.
Để hiện thực hóa mục tiêu trên, ngành cá rô phi cần chuyển từ mô hình sản xuất phân tán sang phát triển vùng nuôi quy mô, có chứng nhận và truy xuất nguồn gốc; đồng thời đẩy mạnh chế biến sâu và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu...
|
Nguồn: CHÍ THANH/Kinhtenongthon.vn