Thị trường nông sản

Yêu cầu tất yếu để nâng cao giá trị ngành cà phê

30/06/2026, 11:18

Việc chế biến sâu không còn là lựa chọn mà trở thành yêu cầu tất yếu đối với ngành cà phê Việt. Song song đó, cần chuẩn hóa hệ thống dữ liệu vùng trồng, đẩy mạnh số hóa và hoàn thiện truy xuất nguồn gốc.

Xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong nửa đầu tháng 6 năm 2026 đạt 58 nghìn tấn, trị giá 268,6 triệu USD.

Xuất khẩu cà phê tăng lượng nhưng giảm giá trị

Theo số liệu thống kê của Cục Hải quan Việt Nam, xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong nửa đầu tháng 6 năm 2026 đạt 58 nghìn tấn, trị giá 268,6 triệu USD, tăng 5,9% về lượng nhưng giảm 14% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.

Lũy kế tính từ đầu năm nay đến giữa tháng 6/2026, xuất khẩu cà phê đạt 985,7 nghìn tấn, trị giá gần 4,5 tỷ USD, tăng 12% về lượng nhưng giảm 11% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.

Về giá cả, giữa tháng 6, giá cà phê nội địa tăng theo giá cà phê Robusta trên thị trường thế giới. Nguồn cung trong nước giảm dần, trong khi người dân có tâm lý giữ hàng chờ giá cao hơn, khiến lượng cà phê đưa ra thị trường hạn chế.

Cùng với đó, lo ngại về thời tiết bất lợi tại các vùng sản xuất lớn cũng góp phần hỗ trợ đà tăng giá. Trong 5 tháng đầu năm 2026, cơ cấu chủng loại cà phê xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục tập trung vào cà phê Robusta, chiếm tới 73,8% tổng kim ngạch xuất khẩu. Bên cạnh đó, tỷ trọng cà phê chế biến tăng lên 17,9% cho thấy xu hướng tích cực trong việc nâng cao giá trị gia tăng và giảm dần xuất khẩu nguyên liệu thô.

Mặc dù cà phê Arabica và cà phê Excelsa còn chiếm tỷ trọng thấp, đặc biệt Excelsa chỉ đạt 0,06%, song mức tăng trưởng của nhóm hàng này cho thấy dư địa phát triển các chủng loại cà phê có giá trị gia tăng cao, góp phần đa dạng hóa cơ cấu sản phẩm xuất khẩu trong thời gian tới.

Siết chặt các tiêu chí về truy xuất nguồn gốc

Ông Nguyễn Quang Bình, chuyên gia thị trường cà phê cho biết, Brazil - quốc gia sản xuất và xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới - trong 2 tháng đầu năm 2026, tỉ lệ xuất khẩu cà phê chế biến cũng chỉ dưới 20%, phần lớn vẫn là cà phê Arabica dạng hạt. Vì vậy, không nên có cái nhìn tự ti về cà phê Robusta của Việt Nam, nhất là khi thị trường châu Âu vẫn chưa thể thay thế nguồn cung này.

Dù vậy, ông Bình cũng thẳng thắn nhìn nhận tỉ lệ chế biến của Việt Nam vẫn còn khiêm tốn, chủ yếu bán "trôi nổi", chưa hình thành được chuỗi cung ứng rõ ràng, bài bản.

"Doanh nghiệp trong nước cũng chưa nhận được sự hỗ trợ tương xứng, đặc biệt từ hệ thống ngân hàng - lực lượng có vai trò quan trọng trong việc kết nối và duy trì chuỗi cung ứng, dẫn đến hoạt động rời rạc, chưa tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Trong khi đó, khối doanh nghiệp nước ngoài (FDI) chiếm tới khoảng 70% kim ngạch xuất khẩu, được hậu thuẫn mạnh từ hệ thống tài chính của họ để giữ vững vị trí trong chuỗi".

Khối lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam năm 2025 – 2026 (Đơn vị: nghìn tấn, nguồn: Cục Xuất nhập khẩu, Cục Hải quan)

Ông Trần Văn Công, Tham tán Nông nghiệp Việt Nam tại EU cho biết, Liên minh châu Âu (EU) hiện là trung tâm tiêu thụ, nhập khẩu, rang xay, chế biến và tái xuất cà phê lớn nhất thế giới, với kim ngạch nhập khẩu hằng năm khoảng 26,33 tỉ USD, tương đương 2,7 triệu tấn. Việt Nam hiện xuất khẩu sang EU khoảng 580.000 tấn, đạt kim ngạch 3,2 tỉ USD, đứng thứ hai sau Brazil.

Tuy nhiên, thị trường EU ngày càng đặt ra yêu cầu cao về minh bạch, thương hiệu và tính bền vững. Cà phê Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức tại EU.

"Các nhà mua tại EU bắt đầu siết chặt các tiêu chí về truy xuất nguồn gốc, phát triển bền vững, kiểm soát tồn dư thuốc bảo vệ thực vật ngày càng nghiêm ngặt khi nhiều hoạt chất tiếp tục bị loại bỏ, kể cả các chất thay thế trước đây. Các tiêu chuẩn "xanh" ngày càng khắt khe", ông Công nhấn mạnh.

Nhiều chuyên gia cho rằng thương hiệu cà phê Việt Nam tại các thị trường EU, Mỹ... vẫn còn khá mờ nhạt, chưa nhận diện được xuất xứ, điều này khiến giá trị mang lại ở mức thấp.

Chế biến sâu trở thành yêu cầu tất yếu

Ông Nguyễn Thành Tài, Ủy viên Ban chấp hành Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (VICOFA) cho rằng, dù giá trị xuất khẩu đạt kỷ lục nhưng khi sự cạnh tranh ngày càng cao, thị trường khó tính hơn, việc chế biến sâu không còn là lựa chọn mà trở thành yêu cầu tất yếu đối với ngành cà phê Việt.

"Chúng ta cần đẩy mạnh các sản phẩm giá trị cao như cà phê hòa tan, chiết xuất, cà phê viên nén và các dòng Robusta chất lượng cao. Song song đó, cần chuẩn hóa hệ thống dữ liệu vùng trồng, đẩy mạnh số hóa và hoàn thiện truy xuất nguồn gốc".

Lợi thế về nguyên liệu chỉ thực sự trở thành sức mạnh kinh tế khi gắn với chế biến sâu, đổi mới công nghệ, logistics hiệu quả, phát triển thương hiệu.

Ông Nguyễn Thiên Văn, Phó chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk cho biết, hiện toàn tỉnh có hơn 200.000ha cà phê, sản lượng khoảng 165.000 tấn mỗi năm, trong đó khoảng 90% là Robusta. Tuy nhiên, lợi thế về nguyên liệu chỉ thực sự trở thành sức mạnh kinh tế khi gắn với chế biến sâu, đổi mới công nghệ, logistics hiệu quả, phát triển thương hiệu.

Trong khi đó, TS Đỗ Việt Hà, Phó chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam, cho rằng cần có thêm chính sách cho ngành cà phê. Bởi nếu so sánh, gạo xuất khẩu khoảng 8 triệu tấn với kim ngạch 4,1 tỉ USD, trong khi cà phê đạt gần 9 tỉ USD nhưng mức độ quan tâm về chính sách vẫn chưa tương xứng.

"Hệ thống hạ tầng phục vụ sau thu hoạch như kho lưu trữ, sấy… còn thiếu và yếu, chưa có cơ chế hỗ trợ đủ mạnh. Nhiều doanh nghiệp tại địa phương phản ánh gặp những vấn đề rất cơ bản khi bảo quản cà phê, như tình trạng mất điện, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng", ông Hà nhận định.

Theo nhiều chuyên gia, việc xây dựng thương hiệu cà phê Việt Nam tại các thị trường lớn cần được đầu tư bài bản, gắn với các vùng trồng trọng điểm như Đắk Lắk, Lâm Đồng, Gia Lai. Ngoài ra, việc lựa chọn thị trường và phân khúc cũng cần được định vị rõ. Ví dụ, Đức và Hà Lan có nhu cầu lớn về nhãn hàng riêng cho hệ thống bán lẻ; Ý, Tây Ban Nha, Pháp ưa chuộng cà phê rang xay và phối trộn..

Trong bối cảnh giá xuất khẩu chưa phục hồi tương xứng với sản lượng, các doanh nghiệp được khuyến nghị theo dõi sát diễn biến thị trường thế giới, đồng thời tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu nhằm cải thiện giá trị xuất khẩu và giảm phụ thuộc vào biến động của cà phê nhân xanh.


Nguồn: THANH TÂM/Kinhtenongthon.vn