Làm vườn và NN xanh

Cần có chiến lược đồng bộ trong phát triển nông nghiệp hữu cơ

20/10/2026, 22:48

Trước sức ép ngày càng lớn của biến đổi khí hậu và rào cản kỹ thuật khắt khe từ các thị trường xuất khẩu lớn như EU, Hoa Kỳ hay Nhật Bản, nông nghiệp hữu cơ chính là "chìa khóa vàng" của nông sản Việt. Tuy nhiên, để chuyển từ quy mô sản xuất nhỏ lẻ, tự phát sang một nền nông nghiệp xanh đúng nghĩa, Việt Nam đang cần một chiến lược đồng bộ đột phá — từ hoàn thiện thể chế, quy hoạch vùng trồng, nâng cao công nghệ sinh học cho đến việc xây dựng chuỗi liên kết tiêu thụ bền vững.

Trang trại Hoa Viên phát triển hơn 200 loại rau, tập trung vào các loại rau rừng, rau đặc sản gắn với đời sống và tri thức bản địa của đồng bào dân tộc Mường. (Ảnh: Rau hữu cơ Đại Ngàn)

Hình thành các chuỗi liên kết bền vững

Tận dụng lợi thế sinh thái và tri thức bản địa của đồng bào Mường, xã Yên Xuân (Hà Nội) đang đẩy mạnh phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững, mang lại giá trị kinh tế cao và tạo sinh kế cho hàng trăm lao động địa phương.

Phát huy lợi thế địa phương và nhận thức rõ giá trị của nông nghiệp sạch, từ năm 2013, bà Trương Kim Hoa, Giám đốc Công ty TNHH Khai thác tiềm năng sinh thái Hòa Lạc, đã xây dựng trang trại Hoa Viên với mô hình rau hữu cơ Đại Ngàn tại thôn Yên Bình 1, xã Yên Xuân. Trang trại có diện tích hơn 20 héc-ta, đạt chứng nhận hữu cơ theo các tiêu chuẩn của Việt Nam, Mỹ, Liên minh châu Âu (EU) và Nhật Bản.

Theo bà Trương Kim Hoa, trang trại hiện phát triển hơn 200 loại rau, tập trung vào các loại rau rừng, rau đặc sản gắn với đời sống và tri thức bản địa của đồng bào dân tộc Mường. Trong đó, rau bò khai, rau mõ, rau mít, rau dớn... không chỉ được sử dụng làm thực phẩm mà còn gắn với tập quán sử dụng cây cỏ làm thuốc trong dân gian. Việc đưa những loại rau bản địa này vào sản xuất góp phần phát huy giá trị nguồn thực vật địa phương, đồng thời đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp của trang trại.

Để bảo đảm định hướng sản xuất hữu cơ, trang trại không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học, chỉ sử dụng phân hữu cơ. Phương thức canh tác này đòi hỏi nhiều công chăm sóc, kiểm soát chặt chẽ và sự kiên trì của người sản xuất, nhất là trước những tác động của thời tiết, thiên tai và biến đổi khí hậu.

Cùng với đó, trang trại ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất. Hệ thống màng lưới giúp hạn chế sâu bọ và tác động bất lợi của thời tiết; phương thức tưới bán tự động góp phần tiết kiệm nhân công. Máy móc phục vụ làm đất, gieo cấy được sử dụng theo hướng ưu tiên động cơ điện thay cho nhiên liệu xăng, dầu, góp phần giảm tác động đến môi trường.

Trang trại cũng chú trọng trồng xen canh, luân canh, bố trí các loại cây phù hợp trên cùng diện tích nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, hạn chế sâu bệnh và cải thiện hiệu quả kinh tế. Việc lựa chọn cây trồng được tính toán theo điều kiện sinh trưởng, tránh bố trí thiếu phù hợp làm ảnh hưởng đến năng suất.

Từ khâu thu hoạch đến phân phối, quy trình được tổ chức nhằm giữ chất lượng sản phẩm. Rau được thu hái vào buổi sáng, sau đó chuyển về sơ chế, loại bỏ lá úa, dập, đóng gói và đưa đến các cửa hàng đối tác. Với thương hiệu “Rau hữu cơ Đại Ngàn”, mỗi tháng trang trại cung cấp cho thị trường từ 30-40 tấn nông sản các loại. Sản phẩm được phân phối tại các siêu thị chuyên doanh thực phẩm sạch, trường quốc tế và nhà hàng cao cấp.

Từ thực tiễn sản xuất, ông Đoàn Tấn Đạt, Giám đốc Hợp tác xã Sản xuất Dịch vụ Nông nghiệp Tấn Đạt, tỉnh Vĩnh Long cho biết, năm 2016, hợp tác xã bắt đầu từ tổ hợp tác gồm 7 nông dân, canh tác 6,5 ha lúa theo hướng hữu cơ. Đến nay, hợp tác xã có 85 thành viên chính thức và khoảng 800 thành viên liên kết, với tổng diện tích khoảng 100 ha; trong đó 30 ha được chứng nhận hữu cơ. Sản phẩm của hợp tác xã đã đạt các chứng nhận USDA Organic của Mỹ, EU Organic của Liên minh châu Âu, JAS Organic của Nhật Bản và Canada Organic của Canada.

Quá trình phát triển cho thấy tổ chức sản xuất và liên kết chuỗi có vai trò quan trọng đối với khả năng mở rộng nông nghiệp hữu cơ. Theo đại diện hợp tác xã, nông dân cần tuân thủ quy trình sản xuất; hợp tác xã tổ chức, kiểm soát và điều phối vùng nguyên liệu; doanh nghiệp định hướng nhu cầu và bảo đảm đầu ra. Các bên cần chia sẻ trách nhiệm, rủi ro và lợi ích trong toàn chuỗi giá trị.

Tuy nhiên, chi phí chuyển đổi và chứng nhận còn cao, năng lực tổ chức sản xuất giữa các hộ chưa đồng đều, liên kết tiêu thụ thiếu bền chặt, trong khi hợp tác xã còn hạn chế về nguồn lực đầu tư chế biến và phát triển thị trường. Vì vậy, sản xuất lúa hữu cơ, lúa sinh thái phải gắn với hiệu quả kinh tế và nhu cầu tiêu thụ, không thể chỉ chú trọng kỹ thuật canh tác mà xem nhẹ đầu ra và thu nhập của người sản xuất.

Để tháo gỡ khó khăn, hợp tác xã đề xuất lấy thị trường làm điểm xuất phát, lấy hợp tác xã làm hạt nhân tổ chức vùng nguyên liệu; nâng cao năng lực quản trị, kiểm soát chất lượng; xây dựng hợp đồng liên kết thực chất giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp; đồng thời phát triển chế biến, bảo quản và kinh tế tuần hoàn. Hiệp hội cần tăng cường kết nối hợp tác xã với doanh nghiệp tiêu thụ, hỗ trợ xây dựng lộ trình chuyển đổi phù hợp và phát triển các mô hình điểm có doanh nghiệp đồng hành.

Ở góc độ kỹ thuật, TS. Lê Mai Nhất, Viện Bảo vệ thực vật cho rằng, cần ưu tiên sử dụng giống cây trồng bản địa hoặc giống được chọn tạo có khả năng chống chịu sâu bệnh, thích ứng với biến đổi khí hậu. Việc quản lý sinh vật gây hại theo hướng sinh thái, kết hợp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), ứng dụng công nghệ sinh học và vi sinh để cải tạo đất, phân giải chất hữu cơ, tăng cường sức khỏe cây trồng cần được chú trọng. Bên cạnh đó, cảm biến thông minh và trí tuệ nhân tạo (AI) có thể hỗ trợ theo dõi thời tiết, mật độ dịch hại và cảnh báo sớm, giúp xử lý kịp thời, giảm phụ thuộc vào các đầu vào hóa học.

Cần sự đồng hành thực chất

Thông tin tại hội thảo “Thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ và sinh thái ở Việt Nam” do Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam (VOAA) cùng các đối tác quốc tế tổ chức ngày 20/10, tại Hà Nội, ông Hà Phúc Mịch, Chủ tịch VOAA cho rằng, phát triển nông nghiệp hữu cơ đòi hỏi chiến lược đồng bộ, từ hoàn thiện chính sách, quy hoạch vùng sản xuất đến nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, chuẩn hóa hệ thống kiểm định, chứng nhận và phát triển thị trường. Cùng với đó, cần chú trọng đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao nhận thức và bảo đảm nguồn vật tư đầu vào phù hợp với yêu cầu sản xuất hữu cơ.

Theo PGS.TS. Đào Thế Anh, Chủ tịch Hội Khoa học phát triển nông thôn Việt Nam (PHANO), Chủ tịch HĐTV Liên minh Nông nghiệp sinh thái Đông Nam Á (ALiSEA), thách thức hiện nay không chỉ là tạo thêm sản phẩm hữu cơ được chứng nhận mà còn là nhân rộng các hệ thống sản xuất có khả năng phục hồi hệ sinh thái, tạo nhiều giá trị và bảo đảm sinh kế lâu dài cho nông dân.

Phát triển nông nghiệp hữu cơ đòi hỏi chiến lược đồng bộ, từ hoàn thiện chính sách, quy hoạch vùng sản xuất đến nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, chuẩn hóa hệ thống kiểm định, chứng nhận và phát triển thị trường. 

Chứng nhận hữu cơ giúp xác minh mức độ đáp ứng tiêu chuẩn và yêu cầu thị trường, nhưng nếu chỉ đánh giá kết quả phát triển thông qua số sản phẩm hoặc diện tích được chứng nhận thì chưa phản ánh đầy đủ đóng góp của nông nghiệp hữu cơ, sinh thái đối với sức khỏe đất, đa dạng sinh học, giảm phụ thuộc vào đầu vào bên ngoài và năng lực tổ chức của cộng đồng. Vì vậy, chứng nhận cần được xem là một công cụ trong chiến lược phát triển rộng hơn, thay vì đích đến duy nhất.

Ông Đào Thế Anh đề xuất chuyển từ cách tiếp cận từng sản phẩm, thửa ruộng sang phát triển hệ thống sản xuất và cảnh quan nông nghiệp; chú trọng cải thiện sức khỏe đất, đa dạng hóa cây trồng và sinh cảnh, tuần hoàn sinh khối và dinh dưỡng, qua đó nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống sản xuất. Việc chuyển đổi cũng cần được triển khai theo vùng, căn cứ vào điều kiện sinh thái, nguồn lực địa phương, tổ chức nông dân và cơ hội thị trường, thay vì áp dụng một gói kỹ thuật chung cho mọi địa bàn.

Theo hướng này, quy hoạch vùng chuyển đổi cần gắn quản lý đất, nước và đa dạng sinh học với tổ chức sản xuất, hạ tầng, dịch vụ kỹ thuật và liên kết tiêu thụ. Đồng thời, chính sách cần kết hợp đánh giá chất lượng sản phẩm với theo dõi quá trình chuyển đổi hệ sinh thái, tăng cường năng lực cho chính quyền địa phương và cơ quan quản lý nhà nước trong điều phối phát triển theo vùng.

Phát triển nông nghiệp hữu cơ, sinh thái vì vậy cần sự đồng hành thực chất giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp, hiệp hội và Nhà nước. Khi tổ chức sản xuất được củng cố, thị trường được kết nối và hiệu quả sinh thái được đặt trong cùng mục tiêu phát triển, nông nghiệp hữu cơ mới có thể mở rộng bền vững, tạo giá trị gia tăng cho nông sản và cải thiện sinh kế cho người dân./.

Nguồn: THANH TÂM/kinhtenongthon.vn