Từng là vùng dâu tằm lớn nhất tỉnh Phú Yên cũ với hàng chục hecta xanh mướt ven sông Ba, làng nghề trồng dâu nuôi tằm ở thôn Mỹ Thạnh Tây, xã Tây Hòa (Đắk Lắk) nay chỉ còn hơn 4,3ha.
Những trận lũ lớn, cát bồi lấp ruộng dâu, lao động trẻ ly hương và hiệu quả kinh tế chưa tương xứng đang đẩy nghề truyền thống vào giai đoạn đầy thử thách.
Dẫu vậy, những người nông dân còn bám nghề cùng HTX Nông nghiệp - Kinh doanh - Dịch vụ Hòa Phong (HTX Hòa Phong) vẫn đang nỗ lực gỡ khó, tìm hướng đi mới từ các sản phẩm OCOP, rượu tằm và chuỗi giá trị dâu tằm để giữ lấy một phần hồn quê ven sông Ba.
Đối mặt nhiều khó khăn
Đầu hè, men theo những bãi bồi ven sông Ba thuộc thôn Mỹ Thạnh Tây, khó ai hình dung nơi đây từng là “thủ phủ” dâu tằm của cả vùng.
Nghề trồng dâu nuôi tằm xuất hiện từ nhiều thế hệ trước, gắn liền với những xóm ven sông, nơi người dân tận dụng phù sa màu mỡ để phát triển cây dâu.
.jpg)
Người dân làng nghề dâu tằm Mỹ Thạnh Tây làm kén, công đoạn quan trọng quyết định chất lượng sản phẩm.
Sau khi được khôi phục vào năm 1982, nghề trồng dâu nuôi tằm phát triển mạnh, trở thành nguồn thu nhập chính của người dân địa phương. Diện tích dâu toàn vùng không ngừng mở rộng, có thời điểm đạt khoảng 25ha với hàng trăm hộ tham gia sản xuất.
Thời kỳ hưng thịnh ấy, cả làng nghề gần như không lúc nào vắng tiếng người. Từ sáng sớm đến khuya, người dân tất bật hái lá dâu, cho tằm ăn, chăm sóc nong tằm rồi quay kén. Những lứa tằm nối tiếp nhau mang lại nguồn thu ổn định cho nhiều gia đình ven sông.
Thế nhưng, những biến động của thiên nhiên và đời sống kinh tế - xã hội đã khiến diện tích dâu liên tục thu hẹp.
Ông Nguyễn Văn Giác, người nuôi tằm cho biết: “Ngày trước, đi đâu cũng thấy người hái dâu, cho tằm ăn, quay kén. Bây giờ nhiều hộ bỏ nghề. Con cháu đi làm công ty, làm xa vì nghề này cực mà thu nhập không ổn định”.
Theo các hộ có nhiều năm gắn bó với nghề nuôi tằm tại địa phương, lực lượng duy trì nghề hiện nay chủ yếu là lao động lớn tuổi. “Thanh niên bây giờ ít mặn mà với nghề. Nuôi tằm phải theo dõi, chăm sóc từng giờ, rất vất vả. Người lớn tuổi còn nặng tình với nghề nên cố gắng bám trụ, trong khi phần lớn lao động trẻ đã chọn lên thành phố tìm việc làm ổn định hơn”, các hộ dân cùng chung nhận định.
Không chỉ đối mặt với áp lực lao động, làng nghề còn trải qua giai đoạn khó khăn chưa từng có trong thời kỳ dịch Covid-19. Từ năm 2020 - 2022, nhiều lao động địa phương rời quê vào TP. Hồ Chí Minh và các khu công nghiệp tìm việc làm. Giá kén bấp bênh, đầu ra bị đứt gãy khiến hàng loạt hộ dân bỏ nghề.
Có thời điểm, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được, nhiều hộ phải ngâm rượu tằm, chờ thị trường phục hồi. Những ruộng dâu từng xanh tốt bị bỏ hoang hoặc chuyển sang trồng bắp (ngô), đậu và các loại cây ngắn ngày khác. Số hộ còn bám nghề chỉ còn khoảng 10 hộ.
Từ làng nghề từng tạo sinh kế cho hàng trăm lao động, diện tích dâu hiện chỉ còn hơn 4,3ha. Sự thiếu hụt lực lượng lao động kế cận đang trở thành bài toán lớn đối với làng nghề truyền thống từng một thời phát triển rực rỡ này.
Gian nan giữ nghề
Khó khăn của làng nghề không chỉ đến từ sự dịch chuyển lao động mà còn xuất phát từ thiên tai ngày càng khốc liệt.
Ông Nguyễn Văn Đông, Chủ tịch HĐQT, kiêm Giám đốc HTX Hòa Phong, cho rằng, khó khăn lớn nhất hiện nay là quỹ đất sản xuất ngày càng thu hẹp.
.jpg)
Khu nhà nuôi tằm của HTX Nông nghiệp - Kinh doanh - Dịch vụ Hòa Phong.
Theo ông Đông, đợt lũ cuối năm 2025 đã mang theo lượng lớn cát bồi lấp nhiều diện tích sản xuất, tạo thành các lạch nước sâu, khiến khoảng 20ha đất trồng dâu bị ảnh hưởng nghiêm trọng không thể tiếp tục sản xuất. Trong khi đó, nhiều diện tích trước đây đã chuyển sang cây trồng khác hoặc bỏ hoang sau thời gian dài nghề dâu tằm suy giảm.
“Nông dân muốn mở rộng diện tích nhưng rất khó tìm được vùng đất phù hợp để canh tác. Một phần bị cát bồi lấp, phần khác chuyển đổi sang cây trồng khác. Thiếu nguyên liệu đang là nút thắt lớn nhất đối với quá trình phục hồi làng nghề”, ông Đông nói.
.jpg)
Những nong tằm được chăm sóc cẩn thận trong giai đoạn sinh trưởng trước khi bước vào thời kỳ làm kén.
Để duy trì nghề truyền thống, HTX Hòa Phong đã chủ động xây dựng chuỗi giá trị từ cây dâu và con tằm. Ngoài bán kén tằm, HTX phát triển các sản phẩm chế biến nhằm nâng cao giá trị gia tăng, trong đó nổi bật là sản phẩm OCOP 3 sao Rượu tằm Hòa Phong.
Từ những con tằm chín chưa nhả kén, HTX xây dựng quy trình chế biến thành sản phẩm đặc trưng mang dấu ấn riêng của làng nghề. Sản phẩm không chỉ giúp nâng cao giá trị kinh tế cho người nuôi mà còn mở ra hướng phát triển mới cho ngành nghề truyền thống.
Những năm gần đây, địa phương hỗ trợ đưa các giống dâu lai năng suất cao vào sản xuất, chuyển giao kỹ thuật nuôi tằm hiện đại, xây dựng cơ sở sơ chế và kết nối tiêu thụ sản phẩm.
Tuy nhiên, theo các hộ dân, để phục hồi hoàn toàn làng nghề từng có vùng trồng dâu lớn ven sông Ba, vẫn còn rất nhiều việc phải làm. Bài toán về đất đai, hạ tầng sản xuất, thị trường tiêu thụ và lực lượng lao động trẻ vẫn chưa có lời giải căn cơ.
.jpg)
Nông dân thu hái lá dâu tại vùng nguyên liệu ven sông Ba, nguồn thức ăn chính cho nghề nuôi tằm truyền thống.
Giữa những biến động của thị trường và thiên tai, những người nông dân còn gắn bó với nghề vẫn kiên trì giữ từng luống dâu, từng nong tằm như giữ một phần ký ức của quê hương. Bởi với họ, trồng dâu nuôi tằm không chỉ là kế sinh nhai mà còn là giá trị văn hóa, là nét riêng đã làm nên bản sắc của vùng đất ven sông Ba suốt nhiều thế hệ.
Nếu những khó khăn về đất trồng dâu bị cát bồi lấp được cải tạo, cây dâu phục hồi, đầu ra sản phẩm sớm được tháo gỡ, làng nghề dâu tằm Mỹ Thạnh Tây hoàn toàn có cơ hội hồi sinh. Không chỉ là vùng sản xuất nông nghiệp đặc trưng, nơi đây còn có thể trở thành điểm nhấn trong phát triển nông nghiệp, du lịch trải nghiệm và bảo tồn nghề truyền thống của địa phương trong những năm tới.
Nguồn: DƯƠNG HÙNG/Kinhtenongthon.vn