Kỹ thuật VAC

Kinh tế VAC - “điểm tựa xanh” bảo đảm an ninh lương thực

22/10/2026, 15:14

Trước thách thức từ biến đổi khí hậu và biến động thị trường toàn cầu, mô hình kinh tế VAC (Vườn - Ao - Chuồng) đang khẳng định vai trò là “điểm tựa xanh” trong chiến lược bảo đảm an ninh lương thực (ANLT).

Không chỉ tối ưu hóa nguồn lực và bảo vệ môi trường, hệ sinh thái nông nghiệp tuần hoàn này còn mở ra hướng đi bền vững, đảm bảo nguồn cung dinh dưỡng tại chỗ, nâng cao thu nhập cho hàng triệu hộ nông dân, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, những nơi không có điều kiện thuận lợi để canh tác lúa.

Không chỉ là “đủ ăn”

Trải qua bốn thập kỷ đổi mới, Việt Nam đã ghi nhận bước chuyển mình thần kỳ: Từ quốc gia thiếu đói, phải nhập khẩu lương thực, nước ta không những đảm bảo ANLT mà còn trở thành một trong những nước xuất khẩu nông sản, đặc biệt là lúa gạo, hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, bước sang giai đoạn hiện nay, ANLT không còn gói gọn ở việc “đủ ăn” hay “đủ số lượng gạo”, mà chuyển sang tư duy hệ thống bảo đảm ANLT an toàn, đủ dinh dưỡng, xanh, bền vững và có khả năng chống chịu cao trước các cú sốc bên ngoài.

Nhiều thập kỷ qua, khi nói đến ANLT, người ta thường nghĩ ngay đến việc đảm bảo không ai bị đói. Cách tiếp cận này giúp Việt Nam xóa nghèo thành công nhưng lại vô tình bỏ quên một vế quan trọng, đó là an ninh dinh dưỡng.

Phát biểu thay mặt ASEAN tại phiên thảo luận chung về đề mục xóa nghèo, phát triển nông nghiệp và an ninh lương thực của Ủy ban các vấn đề  kinh tế và tài chính (Ủy ban 2) Đại hội đồng Liên Hợp quốc khóa 81 mới đây, Đại sứ Đỗ Hùng Việt, Trưởng Phái đoàn Thường trực Việt Nam tại Liên Hợp quốc nhấn mạnh, bảo đảm an ninh lương thực không chỉ dừng ở khả năng cung ứng thực phẩm mà còn phải gắn với khả năng tiếp cận các loại thực phẩm giàu dinh dưỡng với mức giá phù hợp. Theo số liệu được nêu tại phiên thảo luận, khoảng 14% dân số ASEAN đang đối mặt với tình trạng mất an ninh lương thực, trong khi gần 1/3 dân số chưa đủ khả năng chi trả cho chế độ ăn uống lành mạnh.

VAC không chỉ là giải pháp kinh tế hộ gia đình xuất sắc mà còn là chiến lược an ninh thực phẩm tuyệt vời.

Theo định nghĩa hiện đại của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp quốc (FAO), một quốc gia chỉ thực sự đạt ANLT khi mọi người dân, tại mọi thời điểm, có quyền tiếp cận nguồn thực phẩm an toàn, đầy đủ chất và đa dạng vi chất. Sự dư thừa carbohydrate (từ tinh bột) không thể bù đắp cho sự thiếu hụt vitamin, khoáng chất và protein. Chính lúc này, mô hình VAC (bao gồm  Vườn – Ao – Chuồng truyền thống và các vùng chuyên canh cây ăn quả, rau màu hiện đại) xuất hiện như một lời giải tự nhiên, hoàn chỉnh và có tính thích ứng cao nhất.

Cố GS. TS., thầy thuốc nhân dân Từ Giấy - người đúc kết và truyền bá mô hình VAC - từng nói: VAC không chỉ là giải pháp kinh tế hộ gia đình xuất sắc mà còn là chiến lược an ninh thực phẩm tuyệt vời. Nó giúp cung cấp nguồn dinh dưỡng tại chỗ (rau xanh, cá, thịt), cải thiện triệt để bữa ăn của người nông dân và góp phần làm giảm mạnh tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng. Sáng kiến này đã được FAO đánh giá cao và khuyến khích nhân rộng ra nhiều quốc gia đang phát triển trên thế giới.

Theo PGS.TS Trần Thanh Dương, Viện trưởng Viện Dinh dưỡng quốc gia, chăm sóc sức khỏe chủ động không bắt đầu từ bệnh viện mà bắt đầu từ những lựa chọn thực phẩm hằng ngày. Đầu tư cho dinh dưỡng chính là đầu tư cho sức khỏe của hôm nay, cho chất lượng dân số của ngày mai và cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Kinh tế VAC đóng vai trò nền tảng trong việc tự túc, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng nguồn dinh dưỡng trực tiếp cho các hộ gia đình. Các hoạt động trồng trọt, nuôi thủy sản và chăn nuôi gia súc, gia cầm là các hoạt động chính của kinh tế vườn và có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo nên hệ thống canh tác tổng thể, giúp sử dụng hợp lý hơn nguồn tài nguyên đất đai, nguồn nước và năng lượng mặt trời để đạt tới hiệu quả kinh tế cao với mức đầu tư thấp.

TS. Phan Huy Thông, Phó Chủ tịch Hội Làm vườn Việt Nam, cho biết: “Ngoại trừ các đại điền trang quy mô lớn của các công ty, tập đoàn kinh tế lớn trong nông nghiệp, còn lại các loại hình vườn hộ, trang trại, gia trại nhỏ và vừa của các hộ gia đình, tổ hợp tác, hợp tác xã đều thuộc phạm vi kinh tế VAC. Theo thống kê sơ bộ, kinh tế VAC chiếm hơn 80% sản lượng rau, quả, hơn 60% sản lượng thịt, trứng và khoảng 70% sản lượng nuôi trồng thủy sản và hơn 70% số sản phẩm OCOP cũng xuất phát từ đây”.

Kinh tế VAC là chuỗi cung ứng thực phẩm tươi sống tại chỗ ngắn nhất và hiệu quả nhất. Tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số – nơi hệ thống logistics và siêu thị chưa thể phủ kín, không đủ điều kiện thuận lợi để canh tác lúa – mảnh vườn đóng vai trò quyết định cấu trúc bữa ăn. Nó cung cấp rau xanh, trái cây, trứng, cá liên tục quanh năm. Đây là chìa khóa then chốt để Bộ Y tế và Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp thực hiện mục tiêu quốc gia: Hạ thấp tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em Việt Nam xuống dưới mức bền vững.

Hộ gia đình chỉ thực sự an toàn về lương thực khi họ có năng lực tài chính để mua thực phẩm. Kinh tế VAC tạo ra dòng tiền hằng ngày (tiền bán rau, quả ngắn ngày, trứng gà, vịt...). Dòng tiền này tuy nhỏ nhưng đều đặn, hoạt động như một bộ đệm giảm sốc kinh tế. Khi thị trường lao động biến động, hoặc khi thiên tai, dịch bệnh tràn qua, chính nguồn thu từ mảnh vườn giúp người nông dân giữ vững sức mua, không rơi vào bẫy nghèo đói và bảo vệ được rổ thực phẩm thiết yếu của gia đình.

Đại diện Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận định: “Chúng ta không thể bảo đảm ANLT bền vững nếu chỉ nhìn vào kho thóc. Hệ thống lương thực, thực phẩm của Việt Nam đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng tích hợp đa giá trị. Kinh tế vườn không còn là kinh tế tự cấp tự túc ‘bờ xôi ruộng mật’ xưa kia, mà đã trở thành các chuỗi vùng trồng chuyên canh đạt chuẩn toàn cầu, đóng góp trực tiếp vào an sinh và túi tiền của người nông dân”.

Chuyển đổi theo hướng xanh - xu thế tất yếu

Việt Nam có khoảng 10,3 triệu hecta đất nông nghiệp và ngành Nông nghiệp đang phải đối mặt đồng thời với biến đổi khí hậu, suy thoái tài nguyên và áp lực môi trường ngày càng lớn. Trước bối cảnh đó, việc chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm theo hướng xanh, ít phát thải và bền vững không còn là lựa chọn mà là con đường tất yếu.

Tại Hội nghị “Thúc đẩy nông nghiệp sinh thái và chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm nhằm ứng phó biến đổi khí hậu, tăng cường đa dạng sinh học và cải thiện sinh kế”, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan khẳng định: “Nông nghiệp sinh thái không chỉ là một phương thức canh tác, mà đó là cách chúng ta lắng nghe và tôn trọng thiên nhiên... Đó là tầm nhìn dài hạn để Việt Nam thực hiện các cam kết toàn cầu về biến đổi khí hậu, hướng tới phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050”.

Trong bối cảnh xâm nhập mặn khốc liệt tại miền Tây và hạn hán kéo dài tại Tây Nguyên, cây lúa và các loại hoa màu ngắn ngày gặp thách thức rất lớn về nguồn nước ngọt. Ngược lại, kinh tế vườn cho phép người dân linh hoạt lựa chọn các giống cây chịu hạn, chịu mặn tốt, áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt tiết kiệm nước. Đa dạng hóa cây trồng trong vườn cũng làm giảm rủi ro trắng tay so với việc độc canh một loại nông sản.

Từ những vùng mặn - ngọt ven biển, câu chuyện nông nghiệp sinh thái tiếp tục đi vào những cánh đồng lúa nội đồng. Ở đó, bài toán không còn là đưa nước ngọt vào hay rửa mặn để xuống giống mà là câu hỏi tưởng như đơn giản: chân ruộng này có nhất thiết phải trồng lúa quanh năm?

Trên những diện tích canh tác lúa hiệu quả thấp ở An Giang, câu trả lời đang dần thay đổi. Thay vì giữ cây lúa bằng mọi giá, nhiều nơi lựa chọn cây trồng, vật nuôi phù hợp hơn với đất đai, nguồn nước và nhu cầu thị trường. Chuyển đổi vì thế không đồng nghĩa bỏ cây lúa. Đó là cách sử dụng đất linh hoạt hơn, để mỗi chân ruộng được bố trí đúng cây, đúng mùa và có cơ hội mang lại sinh kế tốt hơn.

Ở xã Hòa Điền (An Giang), sau vụ đông xuân, thay vì tiếp tục ép đất vào một vụ lúa có hiệu quả thấp, nông dân đưa khoai môn xuống ruộng. Màu xanh của những luống khoai thay thế cho một vụ lúa không còn nhiều lợi thế. Mô hình cho thấy khoai môn có thể mang lại lợi nhuận khoảng 12 triệu đồng trên 1.000m². Nhưng với người dân, ý nghĩa lớn hơn những con số nằm ở chỗ gia đình có thêm lựa chọn sinh kế, giảm phụ thuộc hoàn toàn vào giá lúa.

Ở Chợ Mới, những ruộng đậu nành rau lại kể một câu chuyện khác. Cây trồng được tổ chức theo hướng phục vụ chế biến và xuất khẩu. Từ một thửa ruộng vốn quen gieo lúa, người nông dân phải bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến giống, quy trình chăm sóc, chất lượng sản phẩm, thời gian thu hoạch và yêu cầu của doanh nghiệp.

Đó chính là điểm chuyển biến quan trọng. Nông dân không còn đợi đến khi thu hoạch mới hỏi “bán cho ai”, mà bài toán thị trường phải được đặt ra ngay trước khi xuống giống. Ông Nguyễn Minh Hoàng, Tổng Giám đốc Công ty CP Rau quả Thực phẩm An Giang (Antesco), nhìn vấn đề từ vai trò của người liên kết sản xuất với nông dân, hợp tác xã. Một nhà máy muốn hoạt động ổn định trước hết phải có vùng nguyên liệu ổn định. Vì vậy, người nông dân không thể mãi đứng ở vị trí người bán nông sản sau thu hoạch, mà cần trở thành một mắt xích, thậm chí là đối tác trong toàn bộ chuỗi sản xuất.

Antesco liên kết với hàng nghìn nông hộ để phát triển vùng nguyên liệu rau màu, đậu nành rau, bắp non và các loại nông sản phục vụ chế biến. Trước khi cây giống được đưa xuống đất, nhu cầu thị trường đã phải được tính toán: nhà máy cần loại nguyên liệu nào, tiêu chuẩn ra sao, khối lượng bao nhiêu, mùa vụ nào phù hợp? Từ đó, người dân điều chỉnh lịch xuống giống, quy trình chăm sóc và thời điểm thu hoạch. Doanh nghiệp có nguyên liệu ổn định hơn, còn người sản xuất giảm phần nào nỗi lo đầu ra.

Ở những nơi có điều kiện thích hợp, quá trình chuyển đổi còn đi xa hơn. Tại xã Bình An, mô hình trồng xen canh khóm - cau - dừa tạo nên một hệ sinh thái nông nghiệp đặc thù cho vùng đất phèn, mặn giáp cửa biển. Các loại cây trồng được bố trí hợp lý tạo nên hệ sinh thái ba tầng không chỉ làm thay đổi cảnh quan mà còn thể hiện một tư duy sản xuất khôn ngoan của người nông dân với điều kiện đất đai.

Phủ xanh đất trống đồi trọc, nâng cao thu nhập

Ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, những nơi không có điều kiện thuận lợi để canh tác lúa, mô hình VAC là  lựa chọn hợp lý, không chỉ góp phần khai thác hiệu quả tiềm năng đất đai, phủ xanh đất trống đồi trọc mà còn là cách tăng thu nhập cho nông dân, giúp bà con xoá đói giảm nghèo.

Cách đây vài chục năm, người dân vùng đồi Lục Ngạn (Bắc Ninh) vẫn chìm trong đói nghèo bởi chẳng có loại cây nào sống nổi trên những quả đồi khô cằn, điều kiện đất đai lại không thích hợp cho việc trồng lúa. Thế rồi cây vải đã đứng chân được trên đất này, tạo ra một cuộc hồi sinh, giúp người dân không chỉ xoá nghèo mà còn vươn lên trở thành những triệu phú, tỷ phú.

Cây vải thiều giúp người dân Lục Ngạn (Bắc Ninh) xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập. Ảnh: ND

Lục Ngạn hiện có 3.320ha vải thiều, trong đó có 2.164 ha vải thiều sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP. Toàn xã có 20 vùng sản xuất vải với tổng diện tích gần 2.400 ha được cấp mã vùng trồng xuất khẩu (gồm Nhật Bản, Hoa Kỳ, Australia, Thái Lan, Trung Quốc); có 14 cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu.

Mô hình kinh tế VAC với cây chủ lực là vải, kết hợp chăn nuôi gia súc, gia cầm và đào ao thả cá được nông dân Lục Ngạn thực hiện đã tạo ra dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Dù trải qua nhiều thăng trầm, có lúc được mùa, mất giá nhưng cây vải và mô hình VAC vẫn là sự lựa chọn phù hợp cho vùng đất đồi Lục Ngạn.

Ở dải đất miền Trung, nơi chỉ có gió Lào và cát trắng, mô hình VAC vẫn có thể hình thành và phát triển bền vững, không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn có ý nghĩa về mặt môi trường sinh thái.

Trên vùng đất cát vốn chịu nhiều tác động của thời tiết, ông Trần Văn Bang, xã Trung Thuần, tỉnh Quảng Trị (địa phận huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình cũ) lựa chọn cách làm “lấy ngắn nuôi dài”, kết hợp chăn nuôi, trồng cây ăn quả, cây cảnh và 11ha keo lai. Cách làm này giúp gia đình có nguồn thu thường xuyên, đồng thời tạo giá trị lâu dài và phân tán rủi ro trong sản xuất.

Xuất thân trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, năm 1995, ông Nguyễn Xuân Ánh đến xã Hội Sơn (Gia Lai) xây dựng trang trại trồng trọt kết hợp chăn nuôi trên cát trắng. Hiện anh Ánh sở hữu 6,2ha điều, năng suất 12 tấn/năm; 3ha keo lai, năng suất 50 tấn/năm; nuôi 18 con bò sinh sản, vỗ béo, 300 con gà và trồng thêm cây ngắn ngày để tăng thu nhập... Mỗi năm, gia đình anh thu lãi khoảng 350 triệu đồng.

Mô hình VAC trên cát được Quảng Trị, Gia Lai... thực hiện đã giải quyết tốt vấn đề ANLT và góp phần cải tạo đất. Để khắc phục tình trạng thiếu nước, người dân nghĩ ra cách đào ao tích trữ nước ngay trên đồi cát, dưới đáy hồ trải bạt để chống thẩm thấu, kết hợp thả cá. Xung quanh trồng các loại cây công nghiệp, cây lương thực hoặc cây ăn quả có khả năng chịu hạn tốt. Từ hiệu quả và tính khả thi của mô hình, đến nay, nhiều địa phương đã áp dụng cách làm này.

Đảm bảo hệ thống lương thực bền vững

Kinh tế VAC và kinh tế trang trại đang phải đối mặt với biến đổi khí hậu, suy thoái tài nguyên và yêu cầu phát triển bền vững, ảnh hưởng đến mục tiêu bảo đảm ANLT quốc gia. Không còn đơn thuần là việc tăng sản lượng, bài toán ANLT thời đại mới đòi hỏi hệ thống trang trại phải dịch chuyển từ “sản xuất thô” sang “kinh tế nông nghiệp tuần hoàn và đa giá trị”.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng nhận định: “Để phát triển kinh tế trang trại hiện đại và bền vững, chúng ta bắt buộc phải thay đổi tư duy cũ. Ngành Nông nghiệp cần những cơ chế chính sách vượt trội để thúc đẩy tích tụ đất đai, thu hút dòng vốn đầu tư lớn, từ đó chuyển hóa các trang trại đơn lẻ thành những hạt nhân của chuỗi giá trị nông sản xanh, tuần hoàn”.

Vườn dưa lưới của HTX Nông - Lâm nghiệp Kim Bình (Tuyên Quang). Ảnh: Nguyễn Thị Long

Theo thống kê, cả nước hiện có gần 28.000 trang trại đang hoạt động. Diện tích bình quân đạt 3,52 ha/trang trại với số lao động thường xuyên trung bình 3,8 người/trang trại. Khu vực này đóng góp khoảng 10,3% GDP toàn ngành, chiếm 9,3% doanh thu và đóng vai trò then chốt khi tạo ra 17,7% kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của quốc gia. Giá trị sản xuất bình quân của mỗi trang trại đạt khoảng 4 tỷ đồng/năm.

Theo lãnh đạo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường): Nhiều chủ trang trại VAC vẫn giữ tư duy “có gì bán nấy” chứ chưa chuyển sang tư duy “thị trường cần gì sản xuất nấy”. Mô hình VAC tạo ra sản phẩm đa dạng nhưng sản lượng lại phân tán, nhỏ lẻ, thiếu tính đồng nhất về chất lượng. Điều này khiến các nhà vườn rất khó ký kết hợp đồng dài hạn với các siêu thị lớn hoặc các doanh nghiệp xuất khẩu. Muốn giải bài toán này, các trang trại VAC bắt buộc phải đứng chung dưới một mái nhà là hợp tác xã để chuẩn hóa quy trình VietGAP, GlobalGAP.

Một chuyên gia kinh tế nông nghiệp từ FAO khuyến nghị: “ANLT của Việt Nam không chỉ là câu chuyện sản xuất đủ lượng gạo hay thịt. Bản chất của vấn đề hiện nay nằm ở năng lực chống chịu của hệ thống trước rủi ro. Các mô hình trang trại, gia trại phải chuyển dịch từ mục tiêu tối đa hóa năng suất sang tối ưu hóa giá trị thông qua nông nghiệp chính xác và giảm thiểu lãng phí trong chuỗi cung ứng sản xuất”.

Ông Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho rằng, chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm không chỉ là xu hướng mà đã trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên, yêu cầu bảo đảm an ninh lương thực và dinh dưỡng ngày càng cao.

Theo ông Tuấn, thay vì chỉ tập trung vào gia tăng sản lượng, Việt Nam cần chuyển sang tạo ra nhiều giá trị hơn thông qua một hệ thống lương thực thực phẩm xanh, an toàn, phát thải thấp và có khả năng chống chịu cao.

“Đây là nền tảng để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành nông nghiệp, đồng thời đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững”, ông Tuấn nói.

TS. Nguyễn Sỹ Linh (Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường) cho biết, để từng bước phát triển, chuyển đổi hệ thống lương thực bền vững từ các mô hình nông nghiệp sinh thái, cần thực hiện các chuyển đổi cơ bản như: chuyển đổi từ hộ riêng lẻ sang vùng sinh thái; chuyển đổi từ sản phẩm sang chuỗi giá trị; chuyển đổi từ quản lý đầu vào sang quản lý kết quả; chuyển đổi từ trợ cấp mô hình sang đầu tư cho năng lực hệ thống do hỗ trợ nông dân mua vật tư chỉ giải quyết một phần vấn đề, quan trọng là cần phải đầu tư phát triển hệ sinh thái hỗ trợ như hạ tầng thủy lợi, kho và logistics, dữ liệu...

Nâng tầm mô hình kinh tế VAC

Những thách thức trong vấn đề ANLT hiện nay đòi hỏi phải có những thay đổi để nâng cao vị thế của mô hình kinh tế VAC, đạt ứng được yêu cầu của thị trường.

TS. Nguyễn Thị Thanh Thủy, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội làm vườn Việt Nam, cho biết, VAC là mô hình canh tác tích hợp, tiết kiệm chi phí, có khả năng thích ứng cao với BĐKH và dễ nhân rộng, phát triển dựa trên tri thức bản địa kết hợp với đổi mới sáng tạo theo hướng kinh tế tuần hoàn.

Thông qua hợp tác chặt chẽ với các cơ quan nhà nước, tổ chức quốc tế, viện nghiên cứu, hợp tác xã và nông dân, Hội góp phần nâng cao năng lực cộng đồng, đảm bảo ANLT và thúc đẩy phát triển bền vững - bắt nguồn từ tri thức bản địa, hướng tới tầm nhìn toàn cầu.

Hiện nay, Hội huy động sức mạnh tập thể từ các chuyên gia, hiệp hội ngành nghề, doanh nghiệp, mạng lưới nông dân và hợp tác xã để cùng giải quyết các thách thức về khí hậu và tài nguyên. Chúng tôi hướng đến một nền nông nghiệp xanh, đa dạng và có khả năng mở rộng trên khắp các vùng nông nghiệp sinh thái của Việt Nam.

Trong 40 năm qua, phong trào phát triển kinh tế VAC do Hội Làm vườn Việt Nam khởi xướng phát động liên tục được nâng tầm, từ VAC - Vườn nhà với những ô dinh dưỡng, phong trào cải tạo vườn tạp, ao hoang, chuồng trống đã đưa VAC lan ra đồng, leo lên đồi, tràn ra vùng cát trắng ven biển, lấn vào vùng trũng…, tạo nên những miệt vườn trù phú, giàu đẹp mà trước đó là đồi trọc, vùng trũng, vùng cát hoang hóa. Từ đây, số nhà vườn có thu hàng trăm triệu, thậm chí trên chục tỷ đồng mỗi năm xuất hiện ngày càng nhiều, ở khắp mọi vùng. Kinh tế VAC từ đồng bằng đã vươn lên trung du miền núi và trở thành thế mạnh của nhiều địa phương miền núi.

Phát triển mô hình VAC trong giai đoạn mới, theo TS. Phan Huy Thông,  phải dựa trên ba trụ cột: tri thức – công nghệ – liên kết chuỗi. Khi nông dân được đào tạo, hợp tác xã được hỗ trợ và nhà khoa học đồng hành, VAC sẽ trở thành trụ cột của nền nông nghiệp xanh, đa giá trị và hội nhập.

“VAC hôm nay không chỉ là phương thức sản xuất, mà là tư duy phát triển nông nghiệp xanh – kinh tế tuần hoàn – nông thôn mới hiện đại. Khi mô hình này được phát huy đúng hướng, nó sẽ trở thành nền tảng cho nền nông nghiệp Việt Nam bền vững, đa giá trị và hội nhập quốc tế”, TS. Thông nói.

VAC đã thực sự là mô hình của mọi nhà, là nhân tố quan trọng trong quá trình xoá đói giảm nghèo. Mô hình kinh tế VAC giúp người dân nâng cao thu nhập, đóng vai trò là một mắt xích chiến lược và “điểm tựa xanh” vững chắc trong việc bảo đảm ANLT quốc gia và thúc đẩy nông nghiệp bền vững. Việc tiếp tục đầu tư, hoàn thiện và nhân rộng mô hình kinh tế tuần hoàn này là chìa khóa để Việt Nam chủ động nguồn cung thực phẩm, đảm bảo ANLT bền vững và khẳng định vị thế nông nghiệp xanh trên trường quốc tế.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ANLT hiện nay không chỉ lúa gạo mà còn cả thực phẩm. Việt Nam có thể sản xuất rau quả với 19 triệu tấn, 7,6 tấn thịt các loại, 18,5 tỷ quả trứng, 1,2 triệu tấn sữa, thủy sản trên 9 triệu tấn... Đây cũng là yếu tố quan trọng giúp Việt Nam luôn đảm bảo ANLT trong mọi hoàn cảnh.

Nghị quyết 34/NQ-CP ngày 25/3/2021 của Chính phủ về việc bảo đảm ANLT quốc gia đến năm 2030 xác định, ANLT quốc gia luôn là vấn đề thiết yếu, cấp bách khi nguồn cung và khả năng tiếp cận lương thực đang chịu tác động lớn của biến đổi khí hậu, thiên tai, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh xuyên biên giới ngày càng khốc liệt, khó lường; quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ.

Nghị quyết đặt ra mục tiêu chung là bảo đảm đủ lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng trong nước trong mọi tình huống và một phần cho xuất khẩu; nâng cao thu nhập cho người dân để bảo đảm tiếp cận được lương thực chất lượng, an toàn thực phẩm; từng bước nâng cao tầm vóc, thể lực, trí lực người dân Việt Nam.

 

Nguồn: NGỌC THỦY/kinhtenongthon.vn