Thị trường nông sản

Ngành Nông nghiệp bứt tốc và quyết tâm về đích

22/10/2026, 21:14

Ngành Nông nghiệp đang dốc toàn lực, nỗ lực bứt tốc trong những tháng cuối năm nhằm hoàn thành và vượt các mục tiêu tăng trưởng của cả năm 2026. Dù phải đối mặt với nhiều thách thức từ thiên tai và thị trường, sự chủ động triển khai đồng bộ các giải pháp sản xuất, chế biến và xúc tiến xuất khẩu đang tạo ra bệ phóng vững chắc để toàn ngành cán đích thành công.

Tăng tốc xuất khẩu 3 tháng cuối năm

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 9 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu nông - lâm - thủy sản (NLTS) đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm 2025; nhập khẩu 39,4 tỷ USD, tăng 8,%; xuất siêu 16,9 tỷ USD, tăng 7,4%.

Năm 2026, toàn ngành phấn đấu hoàn thành đạt và vượt các chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Theo đó, giữ vững mục tiêu tăng trưởng GDP khu vực NLTS cả năm đạt 4,0% (trong đó, nông nghiệp cần đạt khoảng 3,77%; lâm nghiệp 5,23%; thủy sản 5,12%; riêng giá trị sản xuất trồng trọt 2,93%, chăn nuôi  5,02%). Đáng chú ý, mục tiêu xuất khẩu NLTS cả năm đạt khoảng 74 tỷ USD.

Để đạt mục tiêu trên, trong những tháng cuối năm, Bộ cho biết, sẽ tiếp tục tập trung theo dõi sát diễn biến thời tiết, sâu bệnh, tình hình dịch bệnh trên gia súc, gia cầm, chủ động xây dựng và triển khai các kịch bản ứng phó nhằm đảm bảo điều kiện sản xuất các nhóm ngành còn dư địa gia tăng sản xuất như rau màu, cây ăn quả; chăn nuôi lợn, gia cầm.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 9 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu nông – lâm – thủy sản đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8%.

Duy trì đà tăng sản lượng tôm thẻ chân trắng, tôm sú và cá tra phục vụ chế biến, xuất khẩu. Theo dõi sát diễn biến thị trường để chủ động các giải pháp ổn định về giá nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất và giá thành sản phẩm. Bộ cũng cho hay, trong 3 tháng cuối năm cần đạt kim ngạch xuất khẩu 17,9-18 tỷ USD, trung bình mỗi tháng khoảng 5,9 - 6 tỷ USD.

Về các giải pháp, Bộ cho hay, sẽ chỉ đạo sản xuất bám sát kịch bản tăng trưởng đến từng lĩnh vực, sản phẩm: Các cục sản xuất và các đơn vị tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng của từng lĩnh vực và của toàn ngành; cập nhật sản lượng, giá trị, thị trường và các yếu tố tác động để kịp thời điều chỉnh; thực hiện quyết liệt các giải pháp gỡ cảnh báo “thẻ vàng” IUU.

Đẩy mạnh tiêu thụ trong nước và xuất khẩu nông sản: Theo dõi sát từng thị trường, ngành hàng; tháo gỡ rào cản kỹ thuật, đẩy nhanh cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, truy xuất nguồn gốc; xử lý vướng mắc đối với các ngành hàng chủ lực.

Chủ động phòng, chống thiên tai, bảo vệ trực tiếp kết quả sản xuất: Theo dõi sát diễn biến thời tiết, các cơn bão, áp thấp nhiệt đới có nguy cơ ảnh hưởng đến nước ta; chủ động triển khai quyết liệt, kịp thời, hiệu quả công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, không để bị động, bất ngờ. Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị về tăng cường chủ động phòng, chống, ứng phó với các loại hình thiên tai do ảnh hưởng của El Nino năm 2026-2027.

Tiếp tục đẩy mạnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; hoàn thiện các cơ sở dữ liệu của ngành; ưu tiên tổ chức thực hiện hiệu quả, đúng tiến độ 06 định hướng của Bộ Chính trị và Chiến dịch “100 ngày” tháo gỡ các điểm nghẽn trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Tập trung sản xuất, xuất khẩu những ngành hàng chủ lực

Là ngành hàng có bước tăng trưởng mạnh trong 3 quý và kỳ vọng về đích 10 tỷ USD, ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, cho rằng, một trong những yếu tố thúc đẩy xuất khẩu là việc mở rộng thị trường Trung Quốc khi số lượng mã số vùng trồng, mã số đóng gói được phê duyệt tăng lên đáng kể. 9 tháng qua, kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt gần 7,35 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, Trung Quốc chiếm 63% thị phần; giá trị xuất khẩu tăng 38,8%.

Xuất khẩu rau quả được kỳ vọng tiếp tục tăng trưởng tích cực trong những tháng cuối năm nhờ nguồn cung thuận lợi và nhu cầu thị trường gia tăng. Tháng 10 là thời điểm sầu riêng Tây Nguyên bước vào giai đoạn thu hoạch rộ cuối vụ. Trong khi đó, nguồn cung từ một số quốc gia cạnh tranh giảm theo mùa vụ, tạo lợi thế cho sầu riêng Việt Nam tại thị trường Trung Quốc.

Xuất khẩu thủy sản quý IV dự báo giảm nhịp.

Bước sang tháng 11 và tháng 12, nhu cầu hàng hóa phục vụ lễ, Tết tại Trung Quốc, Đông Bắc Á, châu Âu và Bắc Mỹ thường tăng cao. Đây là cơ hội để doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng như dừa tươi, chanh leo, bưởi, thanh long, xoài và rau quả chế biến, bù đắp sự suy giảm nguồn cung sầu riêng tươi sau vụ thu hoạch cao điểm.

Để tiếp tục chuẩn hóa chất lượng, truy xuất nguồn gốc hàng hóa trong nước hướng tới phục vụ xuất khẩu, ngành Nông nghiệp đang đẩy mạnh xây dựng hạ tầng dữ liệu, tăng khả năng kiểm soát và xác thực thông tin sản phẩm.

Theo Thứ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp, đến ngày 20/9/2026, hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản có 820.723 sản phẩm của 3.030 nông hộ và 208 doanh nghiệp tại 28/34 tỉnh, thành phố đã đăng ký; trong đó 158.796 sản phẩm của 48 nông hộ và 20 doanh nghiệp tại 16 tỉnh đã thực hiện truy xuất đầy đủ, có khả năng xác thực và đối soát trong toàn chuỗi.

Chín tháng năm 2026, Trung Quốc tiếp tục là thị trường xuất khẩu NLTS lớn nhất của Việt Nam với 24,4% thị phần, tiếp đến là Hoa Kỳ 19,8% và Nhật Bản 7,4%. Để gia tăng kim ngạch xuất khẩu, các ngành hàng cần giữ vững những thị trường đang có sức mua tốt, đồng thời chủ động nguồn cung để bảo đảm đơn hàng đã ký và sẵn sàng nhận đơn hàng mới.

Đối với thị trường trọng điểm Trung Quốc, bà Ngô Tường Vy, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn xuất nhập khẩu trái cây Chánh Thu, chia sẻ: Chánh Thu đã chủ động đi sâu vào từng vùng trên địa bàn Trung Quốc để khảo sát, trực tiếp quan sát cách khách hàng mua hàng, tìm hiểu nhu cầu thực tế, thị hiếu và hành vi tiêu dùng. Từ đó điều chỉnh quy trình sản xuất, sơ chế, đóng gói và phát triển sản phẩm phù hợp. Thực tế tại Trung Quốc, hệ thống trung tâm phân loại, chế biến rất phát triển, vì thế sản phẩm sau khi nhập khẩu có thể tiếp tục được xử lý để phù hợp khẩu vị và nhu cầu tiện dụng của người tiêu dùng. Do đó, để thu hút khách hàng, doanh nghiệp Việt Nam cần phát triển các dòng sản phẩm thuận tiện, thậm chí có thể sử dụng ngay để đi sâu vào chuỗi giá trị.

Ở một số ngành hàng khác, ngoài đầu ra sản phẩm còn cần giải pháp cho cả nguồn cung. Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) Lê Hằng nhận định: Sau giai đoạn tăng tốc trong quý III, xuất khẩu thủy sản quý IV dự báo giảm nhịp. Nhiều đơn hàng phục vụ tiêu dùng cuối năm đã được nhập khẩu và giao sớm cho nên nhu cầu mua bổ sung khó duy trì mức cao như những tháng vừa qua. Ví dụ tôm, cá tra và cá rô phi đều đối mặt với hạn chế về nguyên liệu trong khi hải sản khai thác cũng khó mở rộng sản lượng xuất khẩu do thiếu nguyên liệu phù hợp và năng lực đáp ứng yêu cầu về nguồn gốc. “Vì vậy, ngay cả khi một số thị trường còn nhu cầu thì khả năng đáp ứng đơn hàng vẫn có thể bị giới hạn”, bà Lê Hằng nhấn mạnh.

Tình trạng tương tự cũng xuất hiện ở ngành điều khi giá trị xuất khẩu tăng nhưng sản lượng giảm, một phần do nguồn nguyên liệu chế biến trong nước chịu sức ép. Nguyên nhân là các nước cung cấp nguyên liệu lớn hiện đang đẩy mạnh chế biến tại chỗ, nguồn hàng xuất khẩu không còn dồi dào, đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải sớm chủ động vùng nguyên liệu đạt yêu cầu.

Quý IV là chặng nước rút của năm, giai đoạn cao điểm để các ngành hàng đẩy mạnh xuất khẩu, đóng góp quan trọng vào mục tiêu tăng trưởng chung. Để tận dụng cơ hội đó, cần có kế hoạch tổ chức sản xuất hợp lý hơn tại các vùng nguyên liệu nhằm đáp ứng đủ nguồn cung, đồng thời kiểm soát chặt chất lượng để sản phẩm đưa ra thị trường được “định giá” cao hơn.

Với kết quả hiện tại, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đánh giá, kim ngạch cả năm vẫn có khả năng đạt hoặc vượt mục tiêu nếu những nhóm hàng chủ lực tiếp tục giữ được nhịp tăng và thị trường không xuất hiện biến động lớn.

Mở rộng thị trường mới, khai thác hiệu quả thị trường tiềm năng

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2026 là năm đầu triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030 với mục tiêu tăng trưởng cao, trong khi bối cảnh thế giới tiếp tục biến động phức tạp, khó lường; xung đột chính trị leo thang ở Trung Đông làm gia tăng rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng, tăng chi phí logistics và vận tải quốc tế.

Việc Hoa Kỳ tăng thuế đối ứng tác động làm suy giảm tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường lớn thứ hai này (3 tháng đầu năm 2026 giảm 5,2%), đòi hỏi các giải pháp ứng phó dài hạn từ phía cơ quan quản lý và doanh nghiệp.

Thời gian tới, Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) sẽ tiếp tục theo dõi sát diễn biến quốc tế; phối hợp với các hiệp hội và cơ quan thương vụ đánh giá tác động để hỗ trợ doanh nghiệp duy trì sản xuất, giữ vững thế cạnh tranh; đẩy mạnh cập nhật thông tin thị trường; tiếp tục củng cố thị trường truyền thống và khai thác hiệu quả các thị trường tiềm năng (thủy sản sang Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, ASEAN; gỗ sang EU, Nhật Bản, Trung Quốc; rau gia vị và trái cây tươi sang các thị trường khu vực).

Tham mưu văn bản chỉ đạo định hướng các địa phương phát triển vùng nguyên liệu bền vững gắn với tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc và an toàn thực phẩm; đẩy mạnh xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm nông sản đặc sản chủ lực. Xây dựng lộ trình và giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ nội địa đối với các mặt hàng nông sản có tính thời vụ cao; kiểm soát biến động giá cả nông sản, thủy sản và vật tư nông nghiệp thiết yếu.

Triển khai hiệu quả “Kế hoạch phát triển hệ thống logistics nhằm nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam giai đoạn 2026-2030” nhằm nâng cao chất lượng, giảm chi phí và gia tăng năng lực cạnh tranh cho nông sản Việt.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định tiếp tục đa dạng hóa thị trường, khai thác tốt hơn các thị trường EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và các nước thuộc CPTPP, RCEP; đồng thời mở rộng dư địa tại Trung Đông, Nam Á, châu Phi và Mỹ Latinh đối với gạo, cà phê, hồ tiêu, rau quả chế biến, thủy sản và sản phẩm chăn nuôi.

Cùng với mở rộng thị trường, Bộ sẽ tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về thủ tục thông quan, tiêu chuẩn, kiểm nghiệm, truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng, vùng nuôi, cơ sở đóng gói, tín dụng, logistics và kho lạnh; tăng liên kết giữa doanh nghiệp chế biến với vùng nguyên liệu.

Tại cuộc họp bàn về thúc đẩy xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản mới đây, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng nhấn mạnh, ngành Nông nghiệp phải chuyển từ tư duy “mở cửa thị trường” sang “mở được, vào được và giữ được thị trường”.

Trong quý IV, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định giữ vững ba nhóm hàng chủ lực gồm gỗ, thủy sản và rau quả; đồng thời tháo gỡ khó khăn cho những mặt hàng còn hụt kế hoạch.

Chỉ đạo toàn ngành, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu, phát triển NLTS cần hướng tới một nền nông nghiệp hiện đại, sinh thái, có giá trị gia tăng cao và phát triển bền vững. Theo định hướng này, cách tổ chức sản xuất cũng cần thay đổi theo hướng bám sát nhu cầu thị trường ngay từ đầu, thay vì sản xuất xong mới tìm đầu ra.

Điều đó đồng nghĩa với chuyện nghiên cứu thị trường phải đi trước một bước, từ đó xác định quy mô vùng nguyên liệu, cơ cấu giống, tiêu chuẩn đầu vào, phương thức chế biến, xây dựng thương hiệu và tổ chức phân phối phù hợp. Khi chuỗi sản xuất được thiết kế theo nhu cầu của thị trường, khả năng kiểm soát chất lượng và nâng giá trị sản phẩm cũng sẽ rõ ràng hơn.

Với mục tiêu tăng trưởng GDP toàn ngành 4% và kim ngạch xuất khẩu trên 74 tỷ USD trong năm 2026, chặng cuối năm sẽ là giai đoạn quan trọng để kiểm chứng khả năng chuyển dịch của ngành Nông nghiệp. Tăng kim ngạch vẫn là mục tiêu trước mắt, nhưng về dài hạn, sức cạnh tranh của nông sản Việt sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào chất lượng, chế biến sâu, thương hiệu và khả năng đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường quốc tế.

Định hướng xuyên suốt được Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt ra là chuyển mạnh từ tăng trưởng dựa vào sản lượng sang chất lượng, giá trị gia tăng, thương hiệu và chuyển đổi số; lấy thị trường làm định hướng, chất lượng và tiêu chuẩn làm nền tảng, doanh nghiệp làm trung tâm, người sản xuất là chủ thể, qua đó phấn đấu hoàn thành mục tiêu tăng trưởng trong năm 2026 và làm nền tảng phát triển cho năm 2027.

Nguồn: THANH TÂM/Kinhtenongthon.vn