Năm 2025, diện tích nuôi tôm nước lợ đạt khoảng 750.000ha, sản lượng ước đạt 1,29 triệu tấn, với kim ngạch xuất khẩu khoảng 4,6 tỷ USD, chiếm trên 40% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Những con số này không chỉ phản ánh quy mô lớn của ngành mà còn cho thấy vai trò trụ cột của tôm nước lợ trong cấu trúc xuất khẩu thủy sản quốc gia.

Diện tích thả nuôi tôm đạt khoảng 750.000ha
Sau hơn hai thập kỷ phát triển, ngành tôm hiện vươn lên trở thành trụ cột của thủy sản Việt Nam. Tuy nhiên, trước áp lực môi trường, dịch bệnh và cạnh tranh quốc tế, ngành tôm đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ để phát triển bền vững hơn.
Điểm sáng của ngành thủy sản
Trong quá trình phát triển, ngành tôm đã trải qua nhiều giai đoạn chuyển đổi, từ mở rộng diện tích nuôi sang gia tăng thâm canh và gần đây là ứng dụng công nghệ cao gắn với hình thành chuỗi giá trị ngày càng hoàn chỉnh.
Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào mở rộng diện tích và gia tăng cường độ sản xuất đang dần bộc lộ những giới hạn. Áp lực môi trường tại các vùng nuôi tập trung gia tăng, dịch bệnh diễn biến phức tạp, biến đổi khí hậu làm tăng tính bất định của điều kiện sản xuất, trong khi thị trường quốc tế ngày càng đặt ra các yêu cầu khắt khe về truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và tính bền vững. Đồng thời, cạnh tranh toàn cầu trong chuỗi cung ứng tôm ngày càng gay gắt.
Giai đoạn 1995-2010 đánh dấu thời kỳ tăng trưởng nhanh về quy mô không gian sản xuất, gắn với quá trình đổi mới, phát triển kinh tế tư nhân và hội nhập thương mại quốc tế. Trước nhu cầu thị trường thế giới gia tăng và giá trị kinh tế cao của tôm xuất khẩu, nhiều địa phương ven biển đã đẩy mạnh chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả, đất hoang hóa và một phần diện tích ven rừng ngập mặn sang nuôi tôm. Mô hình phổ biến trong thời kỳ này là quảng canh cải tiến và bán thâm canh, với mức đầu tư và trình độ kỹ thuật còn hạn chế.
Theo số liệu của Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), từ năm 2010-2025, diện tích nuôi tôm nước lợ chỉ tăng chậm, trung bình khoảng 0,95%/năm, từ khoảng 644.000 ha lên gần 750.000 ha. Điều này cho thấy dư địa mở rộng không gian nuôi ngày càng hạn chế và tăng trưởng ngành chuyển dần sang dựa vào năng suất và cường độ sản xuất.
Trong khi tổng diện tích nuôi tương đối ổn định, cơ cấu loài nuôi đã có sự chuyển dịch rõ rệt. Diện tích tôm sú nhìn chung duy trì ổn định trong các hệ sinh thái như tôm - rừng và tôm - lúa, trong khi tôm thẻ chân trắng tăng nhanh và trở thành động lực chính của tăng trưởng nhờ chu kỳ nuôi ngắn, năng suất cao và phù hợp với các hệ thống thâm canh. Nhờ đó, sản lượng tôm nước lợ tăng bình quân 6-7%/năm, từ 443.700 tấn năm 2010 lên khoảng 1,29 triệu tấn vào năm 2025. Trong cơ cấu sản lượng này, tôm thẻ chân trắng chiếm tỷ trọng ngày càng lớn, trong khi tỷ trọng tôm sú có xu hướng giảm dần.
Sự đa dạng hệ thống nuôi dẫn đến phân hóa mạnh về yêu cầu kỹ thuật. Nhóm tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh đòi hỏi hạ tầng đồng bộ, nguồn điện và nước ổn định, quản lý chất rắn, vi sinh và an toàn sinh học nghiêm ngặt. Nhóm thâm canh phụ thuộc vào kiểm soát nước đầu vào, đáy ao và quan trắc định kỳ. Trong khi đó, các mô hình bán thâm canh và sinh thái có rủi ro công nghệ thấp hơn nhưng phụ thuộc nhiều vào điều kiện thủy văn và thời vụ.
Tôm - lúa: Kết hợp để đạt hiệu quả cao
Trong bối cảnh ngành thủy sản đối mặt nhiều biến động về thị trường, môi trường và dịch bệnh, TP. Cần Thơ đã chủ động xây dựng kế hoạch phát triển sản xuất vùng tôm - lúa năm 2026 nhằm ổn định sinh kế cho người dân.
Tại vùng sản xuất lúa-tôm đẩy mạnh triển khai gói kỹ thuật canh tác bền vững ở TP.Cần Thơ.
Theo đánh giá của Sở Nông nghiệp và Môi trường Cần Thơ, thời gian qua hoạt động sản xuất trong vùng tôm - lúa của thành phố gặp không ít khó khăn. Đối với cây lúa, năng suất không đạt kỳ vọng, giá cả bấp bênh, hiệu quả kinh tế thấp. Trong khi đó, con tôm cũng đối mặt với dịch bệnh diễn biến phức tạp, chi phí đầu vào tăng cao và giá tôm biến động mạnh, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của nông dân.
Trước thực tế đó, UBND thành phố đã chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường theo dõi sát tình hình. Đồng thời xây dựng kế hoạch triển khai sản xuất vùng tôm - lúa. Mục tiêu của kế hoạch là vừa ổn định sinh kế cho người dân, vừa duy trì và phát triển mô hình tôm - lúa như một giải pháp sản xuất bền vững, thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt.
Theo kế hoạch phát triển vùng sản xuất tôm - lúa năm 2026, thành phố duy trì diện tích nuôi tôm - lúa năm là 5.979 ha. Sản lượng lúa đạt 33.447 tấn, sản lượng tôm đạt 7.376 tấn. Thành phố hướng tới mục tiêu 100% hộ nuôi tôm trong vùng tôm - lúa được cấp Giấy xác nhận đăng ký nuôi trồng đối tượng thủy sản nuôi chủ lực (Hòa Tú, Gia Hòa, Ngọc Tố, Nhu Gia, Lương Tâm và Vĩnh Viễn). Xây dựng 3 mô hình hỗ trợ phát triển sản xuất tôm - lúa tại các xã Lương Tâm, Ngọc Tố và Hòa Tú để làm mô hình điểm từ đó nhân rộng.
Cần Thơ sẽ xây dựng bản đồ vùng nuôi tôm - lúa thông qua bản đồ canh tác nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản ở địa phương. Căn cứ vào điều kiện tự nhiên thực tế ở từng khu vực (Độ mặn, độ sâu mặt trảng, triều cường hoặc khu vực sản xuất có đê bao...), UBND xã, phường chỉ đạo các cơ quan chuyên môn trực thuộc xây dựng, phát triển mô hình nuôi tôm - lúa với các đối tượng nuôi phù hợp như: tôm càng xanh, tôm thẻ, tôm sú, tôm kết hợp với thủy sản khác... từ nguồn ngân sách của địa phương.
Theo đó, TP. Cần Thơ sẽ tăng cường chủ động trong công tác quản lý nhà nước chuyên ngành nuôi trồng thủy sản và quan trắc cảnh báo kịp thời chất lượng nước, dịch bệnh ngoài môi trường và trong ao nuôi, từ đó đưa ra những khuyến cáo cho người nuôi chọn lựa thời điểm tốt nhất để thả giống và có giải pháp phòng ngừa trong quá trình nuôi để hạn chế thiệt hại ở mức thấp nhất. Đặc biệt, tăng cường công tác quan trắc, cảnh báo môi trường các vùng nuôi tôm tập trung, đánh giá, tính toán chỉ số chất lượng nước cho vùng nuôi thủy sản lợ và mặn để kịp thời đưa ra những cảnh báo, khuyến cáo nhằm giúp người nuôi hạn chế thấp nhất thiệt hại trước diễn biến phức tạp của thời tiết, biến đổi khí hậu
Nhiều thách thức
Sự phát triển nhanh và mức độ thâm canh hóa cao đã giúp ngành tôm nước lợ Việt Nam đạt nhiều thành tựu về sản lượng và giá trị xuất khẩu. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng dựa vào gia tăng cường độ sản xuất và tập trung không gian nuôi đang bộc lộ các thách thức mang tính cấu trúc, liên quan đến giới hạn môi trường, tổ chức sản xuất và biến đổi khí hậu.
Tại các vùng nuôi tập trung như Đồng bằng sông Cửu Long và Nam Trung Bộ, mật độ ao nuôi cao và lượng chất thải lớn gây áp lực lên hệ thống thủy vực, làm suy giảm chất lượng nước và gia tăng nguy cơ dịch bệnh. Trong khi các mô hình thâm canh, siêu thâm canh chỉ chiếm diện tích nhỏ nhưng tiêu thụ nhiều thức ăn, năng lượng và hóa chất, làm tăng “dấu chân môi trường”. Hạ tầng xử lý và quản lý vùng nuôi chưa theo kịp khiến một số khu vực tiệm cận hoặc vượt ngưỡng sức tải.
Rủi ro dịch bệnh và biến đổi khí hậu tiếp tục làm gia tăng bất định thông qua nắng nóng, mưa trái mùa, biến động độ mặn và các hiện tượng cực đoan. Các hệ thống nuôi thâm canh, dù năng suất cao, lại nhạy cảm với biến động môi trường và sự cố kỹ thuật, làm gia tăng rủi ro không chỉ ở cấp trại nuôi mà còn ở quy mô toàn ngành.
Ngành tôm Việt Nam đang đối mặt với cạnh tranh gay gắt từ các quốc gia sản xuất lớn như Ecuador, Ấn Độ và Indonesia, vốn có lợi thế về quy mô, chi phí thấp và tổ chức sản xuất tập trung. Trong khi đó, sản xuất trong nước vẫn chủ yếu dựa vào hộ nuôi nhỏ lẻ, chuỗi cung ứng phân tán và chi phí đầu vào cao, làm gia tăng chi phí sản xuất và tuân thủ các tiêu chuẩn thị trường.
Liên kết dọc giữa doanh nghiệp và người nuôi chưa bền vững do thiếu cơ chế chia sẻ lợi ích và rủi ro, cùng với tình trạng phá vỡ hợp đồng khi giá biến động. Bên cạnh đó, quy hoạch vùng nuôi, hạ tầng và quản lý đầu vào chưa đồng bộ.
Phát triển xanh để ngành tôm Việt Nam giữ vững vị thế trên thị trường thế giới
Ngành tôm đang bước vào giai đoạn chuyển đổi với trọng tâm là "xanh hóa" sản xuất và phát triển kinh tế tuần hoàn.
Trước những thách thức trên, ngành tôm đang bước vào giai đoạn chuyển đổi với trọng tâm là "xanh hóa" sản xuất và phát triển kinh tế tuần hoàn.
Các mô hình nuôi thân thiện môi trường như tôm – rừng, tôm – lúa, nuôi sinh thái ngày càng được khuyến khích. Đồng thời, công nghệ cao như biofloc, hệ thống tuần hoàn (RAS), cảm biến môi trường, trí tuệ nhân tạo… đang được ứng dụng rộng rãi nhằm kiểm soát rủi ro và nâng cao hiệu quả.
Theo ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), ngành tôm đã có nhiều mô hình mới như tôm – rừng, tôm – lúa, nuôi công nghệ cao, góp phần nâng cao giá trị. Tuy nhiên, quá trình thâm canh hóa nhanh cũng làm gia tăng "dấu chân môi trường" và đặt ra yêu cầu tái cấu trúc ngành theo hướng bền vững hơn.
Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Trần Đình Luân cho biết, trong cơ cấu ngành thủy sản Việt Nam, tôm giữ vai trò đặc biệt quan trọng, hằng năm đóng góp hơn 45% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành. Trong thời gian tới, phát triển xanh sẽ là xu hướng tất yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh và gia tăng giá trị cho sản phẩm tôm Việt Nam. Phát triển xanh không chỉ là xu hướng mà còn là điều kiện tiên quyết để ngành tôm Việt Nam giữ vững vị thế trên thị trường thế giới. Thông qua ứng dụng công nghệ tiên tiến, kiểm soát tốt dịch bệnh và đẩy mạnh kinh tế tuần hoàn, ngành tôm nước lợ Việt Nam không chỉ hướng tới tăng trưởng về sản lượng mà còn xây dựng nền sản xuất an toàn, hiệu quả và bền vững.
Nguyên Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Minh Hoan nhiều lần nhấn mạnh, ngành tôm cần chuyển từ "tư duy sản lượng" sang "tư duy giá trị và bền vững". Theo ông, phát triển ngành không chỉ dựa vào công nghệ mà còn phải dựa vào tổ chức sản xuất, liên kết chuỗi và trách nhiệm với môi trường.
Thực tiễn cho thấy, những mô hình biết cân bằng giữa lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường sẽ có khả năng trụ vững lâu dài. Việc đầu tư hạ tầng vùng nuôi, hoàn thiện thể chế, thúc đẩy liên kết chuỗi và hỗ trợ hộ nuôi nhỏ tiếp cận công nghệ sẽ là những yếu tố quyết định.
Ngành tôm đang đứng trước một bước ngoặt quan trọng. Những bài học từ chính quá trình phát triển – từ thâm canh nóng đến khủng hoảng dịch bệnh – đang đặt ra yêu cầu phải thay đổi. Phát triển xanh, quản trị tốt và liên kết hiệu quả sẽ là chìa khóa để tôm Việt Nam không chỉ giữ vững vị thế mà còn vươn lên trong chuỗi giá trị toàn cầu.
|
Năm 2025, quy mô thị trường tôm toàn cầu đạt mức 45,68 tỷ USD, dự kiến sẽ tăng lên 48,71 tỷ USD trong năm 2026. Với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm đạt 7,41% trong giai đoạn 2026-2034, thị trường được kỳ vọng sẽ chạm mốc ấn tượng 86,29 tỷ USD vào năm 2034. Sự đổi mới công nghệ trong nuôi trồng và các phương pháp thu hoạch thương mại đang tạo ra những thay đổi tích cực lớn cho toàn ngành./. |
Nguồn: CHANH/kinhtenongthon.vn