Thị trường nông sản

Ngành Nông nghiệp và Môi trường quyết liệt tạo xung lực mới để đạt mục tiêu tăng trưởng

02/04/2026, 15:44

Quý I, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 16,69 tỷ USD, tăng 5,9%; nhập khẩu 11,9 tỷ USD, tăng 3,6%, xuất siêu 4,78 tỷ USD tăng 12%. Bộ tập trung nâng cao nhận thức, xác định quyết tâm chính trị mạnh mẽ, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo, tạo xung lực mới trong toàn Ngành để đạt mục tiêu tăng trưởng.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho biết, kết quả đạt được trong quý I là nhờ sự nỗ lực của toàn ngành, các địa phương, trong đó nông nghiệp tiếp tục đóng vai trò trụ đỡ.
 

Quý I: Kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt gần 17 tỷ USD

Sáng 1/4, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức họp báo thường kỳ quý I/2026, cung cấp thông tin về tình hình sản xuất, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục biến động.

Phát biểu tại họp báo, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho biết, biến động giá xăng dầu và năng lượng ảnh hưởng lớn đến sản xuất, đặc biệt trong nông nghiệp, từ khai thác thủy sản, trồng trọt đến chế biến. Cùng với đó là tác động kéo dài của xung đột Nga - Ukraine, chiến tranh thương mại và các rủi ro toàn cầu. Tuy nhiên, trong bối cảnh khó khăn, ngành vẫn duy trì được nền tảng sau hơn 40 năm tái cơ cấu và giữ vững kết quả đạt được trong năm 2025.

Theo đó, quý I/2026, tốc độ tăng trưởng GDP toàn Ngành ước đạt 3,5 – 3,7% (đạt mục tiêu đề ra tại Kịch bản tăng trưởng). Về sản xuất nông, lâm, thủy sản đạt kết quả tốt, bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm và cân đối cho xuất khẩu. Cụ thể, về lĩnh vực trồng trọt, cả nước đã gieo cấy 2,91 triệu hecta lúa Đông Xuân, giảm 1,3%; diện tích thu hoạch 529,4 nghìn hecta, giảm 5,6%; sản lượng 3,64 triệu tấn, giảm 5,5%.

Tổng sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 1,44 triệu tấn, tăng 4,9%; thịt gia cầm hơi 660,8 nghìn tấn, tăng 5,8%; thịt trâu 32,7 nghìn tấn, giảm 0,4%; thịt bò 137,7 nghìn tấn, tăng 2,1%.

Lĩnh vực Lâm nghiệp trồng mới 50,5 nghìn hecta rừng, tăng 3%; sản lượng gỗ khai thác 4,34 triệu m3, tăng 2,6%. Sản lượng thủy sản đạt 2,18 triệu tấn, tăng 3,2%; trong đó nuôi trồng 1,3 triệu tấn, tăng 5,4 %; khai thác 887,2 nghìn tấn, tăng 0,2% chu kỳ năm trước.

Đáng chú ý, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tháng 3/2026 đạt 6,02 tỷ USD, giảm 1,5%, nhập khẩu 4,47 tỷ USD, tăng 6,6%. Quý I, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 16,69 tỷ USD, tăng 5,9%; nhập khẩu 11,9 tỷ USD, tăng 3,6%, xuất siêu 4,78 tỷ USD tăng 12%.

Xét thị trường xuất khẩu theo các khu vực, châu Á là khu vực đạt 7,5 tỷ USD tăng 15,3%; châu Mỹ đạt 3,46 tỷ USD giảm 3,4%; châu Âu đạt 2,7 tỷ USD tăng 4,8%; châu Phi 352 triệu USD giảm 29%; châu Đại Dương 234 triệu USD tăng 20,1% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo thị trường chi tiết, Trung Quốc với thị phần 22,1%, Hoa Kỳ với thị phần 18,3%, và Nhật Bản với thị phần 7,1%, là 3 thị trường xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản chính lớn nhất của Việt Nam. So với cùng kỳ năm trước, ước giá trị xuất khẩu NLTS của Việt Nam 3 tháng đầu năm 2026 sang thị trường Trung Quốc tăng 37,6%, thị trường Nhật Bản tăng 0,7%, trong khi thị trường Hoa Kỳ giảm 5,2%. 

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản dự báo gặp khó khăn trong thời gian tới do tác động của cuộc xung đột quân sự tại Trung Đông, làm gia tăng rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí năng lượng và vận tải quốc tế, ảnh hưởng đến tuyến đường xuất khẩu nông, lâm, thủy sản sang Trung Đông và xuất khẩu sang các thị trường Bắc và Trung Phi, Nam Âu, Trung Âu, Tây Âu, và Bắc Âu.

Hiện nay, một số ngành hành vẫn duy trì tăng trưởng (rau quả tăng 32,1%, thủy sản tăng 13,3%, hồ tiêu tăng 28,8%), nhưng một số nhóm ngành hàng chủ lực đang có dấu hiệu suy giảm, điển hình là gỗ và sản phẩm gỗ (giảm 3,5%), cà phê (giảm 6,4%), hạt điều (giảm 1,8%). Nguyên nhân suy giảm một phần do chi phí xăng dầu, logistics cả trong và ngoài nước tăng đột biến thời gian qua.

Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu nông lâm thuỷ sản trong 3 tháng đầu năm 2026. (Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Môi trường).
 

Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cho biết, trong bối cảnh nhiều khó khăn, ngành vẫn duy trì được các chỉ tiêu, đồng thời lĩnh vực môi trường có xu hướng giảm ô nhiễm không khí. Nhiều đề án, dự án, nhiệm vụ về tài nguyên, khoáng sản, biến đổi khí hậu, xây dựng cơ sở dữ liệu, bản đồ và kiện toàn tổ chức bộ máy đang được triển khai. Hiện có hơn 200 nhiệm vụ khoa học công nghệ đang được thực hiện đồng bộ.

Kết quả đạt được trong quý I là nhờ sự nỗ lực của toàn ngành, các địa phương, trong đó nông nghiệp tiếp tục đóng vai trò trụ đỡ. Tuy nhiên, một số mặt hàng xuất khẩu như cà phê có xu hướng giảm, trong khi thủy sản vẫn tăng trưởng khoảng 13,3%.

Thứ trưởng nhấn mạnh, trong thời gian tới, Bộ sẽ tiếp tục hoàn thiện các báo cáo chuyên đề, xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm bảo đảm mục tiêu tăng trưởng, đồng thời cảm ơn các cơ quan báo chí đã đồng hành, góp phần tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững, đặc biệt trong giai đoạn 2026–2030, với năm 2026 là năm bản lề tạo đà tăng trưởng cho các năm tiếp theo.

Tạo xung lực mới trong toàn Ngành để đạt mục tiêu tăng trưởng

Ông Trần Gia Long, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính cho biết, ngay từ đầu năm 2026, tình hình thế giới tiếp tục biến động rất khó lường, đặc biệt là xung đột quân sự tại Trung Đông, chính sách thuế quan của Hoa Kỳ và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn. Tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại, tiềm ẩn nhiều rủi ro, nguy cơ mất an ninh năng lượng, lạm phát gia tăng, giá hàng hóa thế giới tăng cao. Chính sách tiền tệ của nhiều quốc gia chuyển sang thắt chặt, làm tăng chi phí vốn; thị trường tài chính, chứng khoán, tiền tệ, năng lượng, vàng và kim loại quý biến động mạnh. Các tổ chức quốc tế lớn đều điều chỉnh dự báo tăng trưởng toàn cầu theo hướng thận trọng hơn, phản ánh tác động đa chiều của xung đột Trung Đông, trong đó có ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam.

Ông Trần Gia Long cho biết, dự báo thời gian tới còn nhiều khó khăn do tác động của xung đột Trung Đông, làm gia tăng rủi ro chuỗi cung ứng, chi phí năng lượng và vận tải, ảnh hưởng đến xuất khẩu sang Trung Đông và một số khu vực như Bắc Phi, Trung Phi, Nam Âu, Trung Âu, Tây Âu và Bắc Âu.

Quý I, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 16,69 tỷ USD, tăng 5,9%; nhập khẩu 11,9 tỷ USD, tăng 3,6%, xuất siêu 4,78 tỷ USD tăng 12%.
 

Về mục tiêu, năm 2026 ngành đặt tăng trưởng khoảng 3,7% và phấn đấu đạt 4%; trong đó nông nghiệp 3,86%, thủy sản 4,42%, lâm nghiệp 5,51%. Kim ngạch xuất khẩu dự kiến đạt 73–74 tỷ USD, phấn đấu 75 tỷ USD.

Theo kịch bản, quý I tăng khoảng 3,6–3,7%; 6 tháng đạt 3,7%; 9 tháng khoảng 3,7–3,9%; cả năm khoảng 3,7%. Để đạt mục tiêu, ngành sẽ khai thác hiệu quả các nguồn lực về đất đai, tài nguyên, khoáng sản, nước, rừng; thúc đẩy khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo; đẩy mạnh giải ngân đầu tư công và phát triển thị trường.

Thứ trưởng Phùng Đức Tiến cũng cho biết các nhiệm vụ, giải pháp trước mắt ứng phó với tác động của cuộc xung đột quân sự Trung Đông tới sản xuất và xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đó là tập trung ổn định nguồn cung và giá phân bón, xăng dầu để duy trì sản xuất, giảm chi phí đầu vào. Triển khai mua dự trữ lúa gạo theo quy định khi giá xuống thấp.

Đồng thời, theo dõi sát diễn biến chiến sự và rủi ro logistics quốc tế: Tăng cường cập nhật thông tin về tình hình an ninh hàng hải tại khu vực Vùng Vịnh, Biển Đỏ và kênh đào Suez; đánh giá kịp thời tác động đến chi phí vận tải, bảo hiểm và thời gian giao hàng. Thiết lập cơ chế cảnh báo sớm cho doanh nghiệp về rủi ro vận chuyển và thanh toán.

Triển khai các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp có hợp đồng bị đình trệ hoặc chậm thanh toán, bao gồm giãn nợ, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, hỗ trợ lưu kho, bảo quản hàng hóa (đặc biệt đối với thủy sản và rau quả). Tăng cường vai trò của hệ thống Thương vụ Việt Nam tại các nước Trung Đông trong việc kết nối, xử lý tranh chấp thương mại.

Cơ cấu xuất khẩu nông lâm thuỷ sản 3 tháng đầu năm phân theo nhóm sản phẩm. (Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Môi trường).


Đẩy mạnh xúc tiến thương mại và đa dạng hóa thị trường: Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại tại các thị trường thay thế tiềm năng như Đông Á, Nam Á, EU, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Tận dụng hiệu quả các FTA đã ký kết để mở rộng thị phần. Hỗ trợ doanh nghiệp tham gia hội chợ, kết nối giao thương trực tuyến và phát triển thương mại điện tử xuyên biên giới.

Bộ cũng sẽ tăng cường phối hợp với hiệp hội ngành hàng (điều, cà phê, hồ tiêu, thủy sản, lúa gạo, rau quả…) cập nhật tình hình đơn hàng, tồn kho, giá cả và đề xuất giải pháp linh hoạt tháo gỡ khó khăn theo từng ngành.

Về giải pháp trung và dài hạn, Bộ tập trung nâng cao nhận thức, xác định quyết tâm chính trị mạnh mẽ, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo, tạo xung lực mới trong toàn Ngành để đạt mục tiêu tăng trưởng. Đặc biệt chú trọng hoàn thiện cơ chế, chính sách; thực hiện đồng bộ, hiệu quả các nghị quyết, chiến lược, chương trình, đề án, quy hoạch, kế hoạch phát triển Ngành.

Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cơ cấu lại ngành, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng sản phẩm và hiệu quả sản xuất, kinh doanh nông lâm nghiệp và thủy sản. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính phục vụ người dân, doanh nghiệp. Tăng cường chuyển đổi số; thực hiện đột phá trong ứng dụng, chuyển giao khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo

Tập trung thúc đẩy phát triển thị trường trong nước và xuất khẩu: Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở cửa thị trường, đàm phán để tháo gỡ rào cản kỹ thuật, rào cản thương mại và mở cửa xuất khẩu chính ngạch thêm nhiều nông sản vào thị trường truyền thống, các thị trường có tổng kim ngạch xuất khẩu lớn (Trung Quốc, Hoa Kỳ, EU, Nga, Brazil, Nhật Bản, Hàn Quốc...); mở cửa các thị trường mới, còn nhiều tiềm năng với phương châm đa dạng hóa sản phẩm, đa dạng hóa thị trường, góp phần từng bước giảm xuất khẩu tiểu ngạch qua biên giới phía Bắc. Có lộ trình, phương án giải pháp rõ ràng đẩy mạnh tiêu thụ nội địa đối với những sản phẩm có tính thời vụ cao (như rau, hoa, quả).

Bên cạnh đó, thúc đẩy mạnh mẽ các ngành, lĩnh vực hỗ trợ sản xuất nông, lâm, thủy sản. Đẩy mạnh truyền thông phát triển nông nghiệp và bảo vệ môi trường.


Nguồn: THANH TÂM/kinhtenongthon.vn