Làm vườn và NN xanh

Nghệ An: Nhân rộng mô hình lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh

22/09/2026, 22:56

Từ những mô hình thí điểm áp dụng tưới ướt - khô xen kẽ (AWD), Nghệ An đang từng bước hình thành vùng sản xuất lúa phát thải thấp quy mô lớn. Tại Diễn đàn “Giải pháp nhân rộng mô hình canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh” ngày 22/9 tại Nghệ An, các cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và người sản xuất cùng bàn giải pháp đưa kỹ thuật từ đồng ruộng vào tổ chức sản xuất, liên kết chuỗi và thị trường carbon.

Từ những thửa ruộng thí điểm đến gần 30.000 ha

Ngày 22/9, tại Nghệ An, Trung tâm Khuyến nông quốc gia phối hợp với UBND tỉnh Nghệ An và Sở Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Diễn đàn Khuyến nông @ Nông nghiệp với chủ đề “Giải pháp nhân rộng mô hình canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh”.

Tham dự diễn đàn có  lãnh đạo Trung tâm Khuyến nông quốc gia, Viện KHKT Nông nghiệp Bắc trung bộ, lãnh đạo ngành Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Nghệ An và đại diện các địa phương, tổ chức, doanh nghiệp, bà con nông dân trên địa bàn tỉnh Nghệ An…

Toàn cảnh Diễn đàn “Giải pháp nhân rộng mô hình canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh” tại Nghệ An ngày 22/9.

Phát biểu khai mạc Diễn đàn, bà Võ Thị Nhung, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An, nhấn mạnh, trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng phức tạp, chuyển đổi sang mô hình phát triển bền vững, tăng trưởng xanh không còn là lựa chọn mà trở thành yêu cầu thực tiễn.

Theo bà Nhung, Nghệ An có diện tích tự nhiên gần 1,65 triệu ha, địa hình đa dạng, trong đó vùng đồi núi chiếm khoảng 83% diện tích. Tỉnh có trên 3,76 triệu dân và đang vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Những năm qua, dù phải đối mặt với thiên tai, dịch bệnh và nhiều khó khăn, ngành Nông nghiệp và môi trường vẫn duy trì được đà chuyển dịch theo hướng hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp xanh, tuần hoàn và bền vững.

Các đại biểu tham dự diễn đàn trao đổi về giải pháp nhân rộng mô hình canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh.

Đặc biệt, đối với sản xuất lúa, Nghệ An duy trì diện tích đất trồng lúa lớn, sản lượng hàng năm trên 1,1 triệu tấn. Đây vừa là lợi thế về sản xuất, vừa đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới phương thức canh tác để sử dụng hiệu quả nước tưới, giảm chi phí đầu vào và phát thải khí nhà kính. Những định hướng này cũng phù hợp với mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải khí mê-tan mà tỉnh đang triển khai.

Từ năm 2024, Nghệ An đã chủ động kết nối với JICA, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Trung Bộ và Công ty Green Carbon Japan để triển khai dự án thí điểm sản xuất lúa giảm phát thải bằng phương pháp tưới ướt - khô xen kẽ.

Vụ xuân 2024, mô hình mới được triển khai trên 5 huyện với 5.713,85 ha. Đến vụ hè thu cùng năm, diện tích tăng lên hơn 11.000 ha. Năm 2025 và 2026, quy mô tiếp tục được mở rộng. Theo báo cáo tại Diễn đàn, riêng Nghệ An trong vụ hè thu 2026 đã triển khai hơn 30.500 ha; tổng hợp theo chương trình nghiên cứu và nhân rộng, tỉnh đạt hơn 108.000 ha lũy kế qua các vụ.

Trên toàn vùng Bắc Trung Bộ, diện tích áp dụng các mô hình AWD giai đoạn 2024-2026 đạt hơn 159.272 ha, với 254.604 hộ dân tham gia. Nghệ An chiếm tỷ trọng lớn nhất với hơn 108.281 ha.

Đằng sau những con số ấy là một quá trình thay đổi cách làm trên đồng ruộng. Người nông dân không còn chỉ dựa vào kinh nghiệm để quyết định thời điểm tưới mà bắt đầu theo dõi mực nước bằng ống đo, ghi nhận dữ liệu và thực hiện tưới theo ngưỡng kỹ thuật.

AWD: giảm nước, giảm phát thải nhưng vẫn giữ năng suất

Theo báo cáo của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Trung Bộ, kỹ thuật AWD kết hợp hệ thống MRV số hóa đang cho thấy hiệu quả rõ rệt trong điều kiện sản xuất vùng Bắc Trung Bộ.

Việc áp dụng AWD giúp tiết kiệm khoảng 28,6-42% lượng nước tưới mỗi vụ, đồng thời giảm số lần bơm nước từ 1,6-2,3 lần/vụ. Mức giảm phát thải khí nhà kính đạt bình quân 3,79-6,7 tấn CO₂ tương đương/ha/vụ, tương ứng giảm 53-67,83% lượng CH₄ so với phương thức ngập liên tục.

Đáng chú ý, giảm phát thải không đồng nghĩa với giảm năng suất. Kết quả tổng hợp cho thấy năng suất tại các ruộng áp dụng AWD tăng khoảng 4,6-8,6% so với đối chứng, trong khi tỷ lệ đổ ngã giảm đáng kể.

Ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia, chia sẻ về vai trò của hệ thống khuyến nông trong nhân rộng mô hình lúa phát thải thấp.

Ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia cho rằng, điểm quan trọng hiện nay là phải đưa những kết quả kỹ thuật đã được kiểm chứng vào sản xuất thực tế với quy mô lớn. Khuyến nông không chỉ dừng ở chuyển giao một quy trình kỹ thuật mà cần trở thành cầu nối giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân.

Định hướng này phù hợp với sự chuyển đổi của hệ thống khuyến nông trong giai đoạn mới: từ xây dựng các mô hình đơn lẻ sang hỗ trợ hình thành vùng sản xuất, chuẩn hóa quy trình, phát triển chuỗi giá trị và gắn sản xuất với nhu cầu thị trường.

Thực tế tại Nghệ An cho thấy vai trò của khuyến nông đang được thể hiện khá rõ. Năm 2024, Khuyến nông Nghệ An tổ chức 105 lớp tập huấn cho 5.250 người; năm 2025 tổ chức 112 lớp cho 5.600 nông dân; đến tháng 8/2026 tiếp tục tổ chức 100 lớp cho 5.000 người. Cùng với đó là các lớp đào tạo cán bộ cơ sở, hướng dẫn theo dõi mực nước và giám sát mô hình.

Nghệ An đang từng bước mở rộng vùng sản xuất lúa giảm phát thải, hướng tới mục tiêu 50.000 ha vào năm 2030.

Từ góc độ sản xuất, ông Thanh nhấn mạnh yêu cầu phải làm cho người nông dân thấy rõ lợi ích của mô hình. Giảm phát thải chỉ có thể duy trì nếu đồng thời giảm chi phí, ổn định năng suất, nâng chất lượng và tạo thêm giá trị cho hạt gạo.

Đây cũng là vấn đề được nhiều đại biểu tại diễn đàn tập trung thảo luận. Bởi nếu chỉ coi AWD là một kỹ thuật tưới nước, việc nhân rộng sẽ gặp giới hạn. Muốn hình thành vùng lúa phát thải thấp cần đồng bộ từ giống, gieo cấy, phân bón, quản lý nước, cơ giới hóa, thu gom rơm rạ đến tiêu thụ sản phẩm.

Muốn “lúa xanh” đi xa phải gắn với chuỗi giá trị

Một trong những nội dung đáng chú ý tại diễn đàn là câu chuyện tổ chức lại sản xuất. Kinh nghiệm của ThaiBinh Seed cho thấy, điểm nghẽn của sản xuất lúa không chỉ nằm ở kỹ thuật mà còn ở quy mô nhỏ lẻ, thiếu liên kết và sản xuất chưa gắn chặt với thị trường. Doanh nghiệp này đề xuất tổ chức chuỗi xuyên suốt từ giống, quy trình canh tác, tổ chức sản xuất, thu mua, chế biến đến tiêu thụ.

Các đại biểu tham dự diễn đàn tham quan gian hàng trưng bày

Cùng quan điểm cần tạo giá trị từ hạt lúa, ông Phan Văn Hòa, Giám đốc Công ty TNHH KHCN Vĩnh Hòa, mang đến diễn đàn một góc nhìn khác từ thực tiễn nghiên cứu, sản xuất giống và chế biến lúa gạo.

Ông Hòa cho biết, từ những năm 1990, doanh nghiệp đã theo đuổi hướng phát triển giống lúa thuần chất lượng cao, trong đó có AC5, sau đó nghiên cứu các dòng lúa Thảo dược Vĩnh Hòa. Theo tham luận, doanh nghiệp đã đầu tư nghiên cứu, phát triển các giống lúa với nhiều màu sắc và định hướng nâng cao giá trị dinh dưỡng, đồng thời phát triển sản phẩm chế biến từ gạo.

Đến nay, theo báo cáo của doanh nghiệp, bộ giống Thảo dược Vĩnh Hòa đã được triển khai tại 18 tỉnh, với 9 sản phẩm chế biến từ lúa gạo, trong đó có 4 sản phẩm đạt OCOP 3 sao.

Từ câu chuyện của doanh nghiệp, ông Hòa đặt vấn đề phải tiếp tục ứng dụng khoa học công nghệ để nâng giá trị hạt lúa, thay vì chỉ dừng ở bán lúa hàng hóa. Theo tham luận, doanh nghiệp định hướng xây dựng các mô hình cánh đồng thông minh, sản xuất giống gắn với công nghệ cao và chế biến sâu.

Ông Phan Văn Hòa, Giám đốc Công ty TNHH KHCN Vĩnh Hòa với sản phẩm gạo thảo dược Vĩnh Hoà đạt sản phẩm OCOP 3 sao.

Những chia sẻ này bổ sung một góc nhìn quan trọng cho bài toán phát triển lúa phát thải thấp: giảm phát thải phải đi cùng nâng giá trị sản phẩm.

Ở chiều ngược lại, nếu vùng nguyên liệu được tổ chức tốt, doanh nghiệp có thể tham gia sâu hơn vào việc cung ứng giống, hướng dẫn quy trình, thu mua và phát triển thị trường. Hợp tác xã trở thành đầu mối điều phối nông dân, còn người sản xuất được hưởng lợi từ quy trình thống nhất, giảm đầu vào và đầu ra ổn định.

Đây cũng là hướng mà ngành Nông nghiệp Nghệ An đang hướng tới. Tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 có 50.000 ha lúa sản xuất theo quy trình giảm phát thải. Để đạt mục tiêu này, diễn đàn xác định cần chuyển mạnh từ hỗ trợ từng hộ sang tổ chức sản xuất theo vùng, thống nhất giống, thời vụ, quy trình quản lý nước và thu hoạch.

Tại diễn đàn, một vấn đề khác được các đại biểu đặt ra thảo luận là tín chỉ carbon. Khi dữ liệu về mực nước, diện tích, tọa độ GPS, nhật ký sản xuất và kết quả đo phát thải được chuẩn hóa, minh bạch, đây sẽ là cơ sở để xác thực kết quả giảm phát thải và tiến tới thương mại hóa tín chỉ carbon.

Tuy nhiên, để làm được điều đó, hệ thống thủy lợi phải đáp ứng yêu cầu điều tiết nước linh hoạt; hợp tác xã phải đủ năng lực tổ chức vùng; cán bộ khuyến nông phải làm chủ kỹ thuật và dữ liệu; doanh nghiệp phải tham gia liên kết đầu ra.

Thông điệp đó cũng là điểm gặp nhau của các tham luận tại diễn đàn: lúa phát thải thấp không thể phát triển bằng một kỹ thuật đơn lẻ. Đó phải là một quá trình tổ chức lại sản xuất, trong đó khoa học công nghệ, khuyến nông, hợp tác xã, doanh nghiệp và người nông dân cùng tham gia.

Các đại biểu, chuyên gia, doanh nghiệp và đại diện địa phương trao đổi về liên kết sản xuất, tiêu thụ và xây dựng chuỗi giá trị lúa gạo phát thải thấp.

Phát biểu kết thúc diễn đàn, bà Võ Thị Nhung cho rằng, Diễn đàn là cơ hội để các cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp, địa phương và nông dân cùng nhìn lại những kết quả đã đạt được, chia sẻ kinh nghiệm, nhận diện điểm nghẽn và tìm giải pháp căn cơ để nhân rộng mô hình.

Từ gần 30.000 ha đang được triển khai, Nghệ An đã có nền tảng thực tiễn quan trọng để tiến tới mục tiêu 50.000 ha. Chặng đường phía trước không chỉ là mở rộng diện tích, mà quan trọng hơn là nâng chất lượng vùng sản xuất, kiểm soát dữ liệu, xây dựng chuỗi giá trị và tạo lợi ích thực chất cho người trồng lúa.

Khi đó, những thay đổi bắt đầu từ việc rút nước đúng lúc trên từng thửa ruộng sẽ có thể mở rộng thành một phương thức sản xuất mới, góp phần đưa ngành lúa gạo Nghệ An nói riêng và ngành Nông nghiệp Việt Nam nói chung tiến gần hơn tới mục tiêu sản xuất xanh, phát thải thấp và tăng trưởng bền vững.

Nguồn: NGỌC LAN/Kinhtenongthon.vn