Với sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền địa phương trong triển khai các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất tạo sinh kế cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, trong đó, trọng tâm là phát triển kinh tế vườn, rừng, đến nay, Biển Động còn 161 hộ nghèo, chiếm 4,1%; 177 hộ cận nghèo, chiếm 4,5%,...
Tỷ lệ hộ nghèo giảm
Thông tin từ UBND xã Biển Động, từ đầu năm tới nay, xã tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện các chương trình mục tiêu Quốc gia trên địa bàn; công tác giảm nghèo tiếp tục được quan tâm chỉ đạo; UBND xã quan tâm triển khai các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo sinh kế, hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm, hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn.
Bài 1: Khai thác hiệu quả tiềm năng địa phương

Những năm qua, từ phát triển kinh tế vườn, rừng, nhiều gia đình ở Biển Động có doanh thu hàng trăm triệu đồng mỗi năm.
Chia sẻ về công tác giảm nghèo, anh Hoàng Văn Tịch, Trưởng thôn Cầu Ván cho biết, thôn có 221 hộ, trong đó có 18 hộ nghèo. Nhờ phát triển kinh tế vườn, rừng mà tỷ lệ hộ nghèo trong thôn liên tục giảm. Trước năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo còn trên 50%; từ năm 2015-2017, tỷ lệ này giảm còn trên 30%; sau năm 2020 giảm còn dưới 20%. Đến nay, thôn chỉ còn khoảng 6% hộ nghèo.
Trao đổi với phóng viên, anh Mã Văn Mòn, Phó Trưởng thôn Đồng Láy cho biết, thôn có 272 hộ, với 720 nhân khẩu. Hiện, thôn có 20/272 hộ nghèo, 16 hộ cận nghèo, so với những năm trước tỷ lệ này giảm dần, thu nhập của người dân từng bước được cải thiện, đời sống tinh thần ngày một nâng cao.
Theo ông Bàng Văn Xuân, Phó Trưởng phòng Kinh tế xã Biển Động, qua điều tra tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn xã giảm đều qua các năm. Trung bình giảm từ 1-3%. Thu nhập bình quân đầu người năm 2025 đạt hơn 30 triệu đồng; dự kiến năm 2026, tỷ lệ hộ nghèo còn 4,15% (161 hộ), cận nghèo (177 hộ), tương đương 4,5%.
Thời gian tới, chính quyền địa phương tiếp tục tuyên truyền, vận động bà con chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi có giá trị, mang lại hiệu quả kinh tế góp phần vào công tác giảm nghèo. Cùng với đó, quan tâm công tác xúc tiến thương mại, tiêu thụ sản phẩm để giúp bà con có đầu ra thuận lợi.
Ông Nguyễn Tân Hiệp Thành, Phó Chủ tịch UBND xã Biển Động, cho biết, cấp ủy, chính quyền xã xác định phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm. Đảng ủy đã ban hành Đề án “Phát triển nông, lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao và sản phẩm OCOP xã Biển Động giai đoạn 2025–2030”, trong đó có phát triển cây ăn quả và kinh tế rừng trồng. Từ đó, cấp ủy, chính quyền, các chi bộ tích cực vào cuộc ban hành các Nghị quyết chuyên đề để triển khai thực hiện Đề án của Đảng ủy xã.
Thế mạnh của xã là cây ăn quả, cam, táo, hồng, rừng trồng và các sản phẩm đặc trưng. Kinh tế vườn, rừng đã và đang đóng góp vào nâng cao đời sống của nhân dân, trọng tâm là hộ nghèo, hộ kinh tế khó khăn đang từng bước được ổn định, vươn lên khá giả, làm giàu. Biển Động phấn đấu thoát khỏi xã vùng đặc biệt khó khăn trước năm 2030.

Nếu như trước đây vải thiều là cây xóa đói, giảm nghèo thì nay một số loại cây trồng khác đang cho giá trị kinh tế cao hơn.
Có thể thấy, từ thế mạnh của địa phương, những năm qua Biển Động đang từng bước biến lợi thế đất đai thành tiềm lực kinh tế. Khi kinh tế vườn, rừng đang dần gắn với sản xuất hàng hóa, nâng cao chất lượng và xây dựng thương hiệu sản phẩm, đây là cơ hội để người dân nâng cao thu nhập, từng bước giảm tỷ lệ hộ nghèo.
|
Thu nhập bình quân đầu người trong 9 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn xã đạt 41/37 triệu đồng, bằng 110,8% so với Kế hoạch HĐND xã giao; đạt 41/49,2 triệu đồng/người, bằng 83,3% so với Kế hoạch tỉnh giao. |
Kỳ vọng từ Đề án phát triển nông, lâm nghiệp
Theo kế hoạch, Biển Động phấn đấu sẽ thoát khỏi xã vùng đặc biệt khó khăn trước năm 2030. Để góp phần thực hiện thành công kế hoạch, Đảng bộ xã Biển động ban hành Đề án “Phát triển nông, lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao và sản phẩm OCOP xã Biển Động giai đoạn 2025–2030”, trong đó trọng tâm là đưa ra các giải pháp phát triển cây ăn quả, rừng sản xuất từ đó góp phần nâng cao giá trị sản phẩm, từng bước giảm tỷ lệ hộ nghèo, tăng tỷ lệ hộ khá giả.
Theo đó, xã Biển Động xác định 100% diện tích vải thiều, táo, cây có múi được quản lý, sản xuất theo hướng an toàn sinh học, hữu cơ hoặc VietGAP/GlobalGAP. Giảm diện tích vải thiều còn 950ha; tăng diện tích táo lên 650 ha, diện tích hồng lên 180 ha. 60% diện tích vải thiều và 50% diện tích táo áp dụng công nghệ cao trong chăm sóc, bảo quản, truy xuất nguồn gốc.
Ít nhất có 07 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên, trong đó có 05 sản phẩm đạt 4 sao (vải thiều và táo Biển Động). Phát triển ít nhất 02 vùng sản xuất tập trung ứng dụng công nghệ cao cho vải thiều và táo. Hình thành 01 hợp tác xã nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao hoạt động hiệu quả gắn với vùng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. 90% diện tích rừng có chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC.
Đối với diện tích cây hồng, xã xác định tận dụng các vùng không phù hợp với vải thiều hoặc táo để chuyển sang trồng cây hồng, giống cây ăn quả có giá trị cao trên thị trường. Đưa các giống cây hồng chất lượng cao và quy trình canh tác hữu cơ để sản xuất trái hồng an toàn, có chứng nhận GAP.
Rà soát, đánh giá các vùng trồng vải thiều không hiệu quả, có năng suất thấp, và chuyển đổi sang các cây trồng có giá trị kinh tế cao hơn như cây hồng, cây lâm nghiệp lấy nhựa, lấy quả và cây lấy gỗ.

Năm nay, với sản lượng đạt khoảng 15-16 tấn, gia đình anh Tịch kỳ vọng thu về khoảng 300 triệu đồng từ cây quýt sim.
Sản phẩm vải thiều, táo, hồng có mã vùng trồng, mã cơ sở đóng gói. Phát triển các mã vùng trồng cho cây ăn quả, đặc biệt là vải thiều, táo và hồng, để đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. Hỗ trợ nông dân xây dựng cơ sở đóng gói đạt chuẩn, gắn mã QR, chứng nhận sản phẩm đạt tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP.
Đối với phát triển kinh tế rừng, Biển Động xác định hỗ trợ người dân về giống cây, kỹ thuật trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng. Khuyến khích người dân trồng các loại gỗ lớn, cây bản địa như lim, lát, dẻ, giổi, trám với quy trình kỹ thuật nghiêm ngặt, đảm bảo chất lượng gỗ đạt tiêu chuẩn quốc tế (FSC) và một số loại cho thu hoạch nhựa, quả, hạt giá trị kinh tế cao.
Cải tạo và mở rộng diện tích rừng sản xuất. Tập trung trồng rừng gỗ lớn ở các vùng đất cao, đất trũng ít giá trị trong sản xuất nông nghiệp. Hỗ trợ các hộ gia đình trồng rừng theo chu kỳ kinh doanh, với thời gian thu hoạch từ 8-12 năm để tăng hiệu quả kinh tế rừng lâu dài.
Khuyến khích các chủ rừng trong xã tham gia các chương trình cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC), từ đó nâng cao giá trị và khả năng xuất khẩu sản phẩm gỗ. Đào tạo kỹ năng phòng cháy chữa cháy rừng cho cộng đồng, xây dựng các phương án dự phòng, hệ thống báo cháy sớm. Thiết lập đội ngũ bảo vệ rừng để giám sát và bảo vệ tài nguyên rừng.
Nguồn: HOÀNG VĂN/kinhtenongthon.vn