Phát triển nông nghiệp xanh gắn với chuyển đổi số không còn là xu hướng mà đã trở thành yêu cầu tất yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh, bảo vệ môi trường và đảm bảo sinh kế bền vững cho người dân.
Lợi ích của chuyển đổi số với nông nghiệp xanh
Trong bối cảnh chuyển đổi số lan tỏa mạnh mẽ, nông nghiệp Quảng Ngãi đang bước vào giai đoạn đổi mới toàn diện, không chỉ là việc áp dụng công nghệ đơn thuần mà là một cuộc cách mạng tái cấu trúc toàn bộ chuỗi giá trị. Để đạt được mục tiêu đó, chuyển đổi số đóng vai trò then chốt, mang lại nhiều lợi ích thiết thực.

Chuyển đổi số là xu hướng tất yếu, là nhu cầu cấp thiết để nâng cao đời sống nông dân và năng lực cạnh tranh của nông nghiệp Quảng Ngãi.
Trước hết, chuyển đổi số nâng cao năng suất, chất lượng và tính bền vững của sản xuất nông nghiệp. Các công nghệ như Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI) giúp nông dân tiếp cận thông tin chính xác về môi trường, đất đai, cây trồng; từ đó đưa ra quyết định hợp lý về tưới tiêu, bón phân, phòng trừ sâu bệnh, giảm chi phí, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sản phẩm. Công nghệ số còn giúp giảm phụ thuộc nhân công, tăng năng suất và đảm bảo sản phẩm đồng đều, góp phần cải thiện thu nhập cho người dân.
Chuyển đổi số mở rộng khả năng tiếp cận thị trường. Việc ứng dụng công nghệ giúp người tiêu dùng theo dõi, truy xuất nguồn gốc nông sản, kiểm chứng chất lượng theo thời gian thực, tạo niềm tin và nâng cao giá trị sản phẩm. Sự liên kết giữa sản xuất – tiêu dùng được thắt chặt, góp phần hạn chế tình trạng “được mùa mất giá” và hướng đến sản xuất ổn định, bền vững.
Chuyển đổi số còn giúp giảm thiểu thiệt hại do thiên tai, biến đổi khí hậu và dịch bệnh. Thông qua trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu, ngành nông nghiệp có thể dự báo sớm thời tiết, chủ động phòng chống dịch bệnh, bảo vệ năng suất cây trồng, vật nuôi.
Chuyển đổi số tạo đột phá trong công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp. Từ cấp Sở đến doanh nghiệp, việc ứng dụng dữ liệu số giúp đưa ra quyết định nhanh, chính xác, minh bạch và hiệu quả hơn; đồng thời giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy hình thành nền kinh tế nông nghiệp hiện đại.
Đẩy mạnh chuyển đổi số trong nông nghiệp
Quảng Ngãi, với diện tích tự nhiên hơn 14.800 km², địa hình đa dạng, giàu tiềm năng, là nền tảng lý tưởng để phát triển nông nghiệp bền vững, ứng dụng công nghệ cao, nâng tầm giá trị gia tăng và khai thác tối đa lợi thế địa phương.
Tỉnh Quảng Ngãi đặt mục tiêu tăng trưởng giá trị nông, lâm, ngư nghiệp 3- 4%/năm, đảm bảo an ninh lương thực với sản lượng lúa ổn định 300.000 – 350.000 tấn/năm, phát triển các giống cây trồng chịu hạn, chịu mặn.

Các sản phẩm chủ lực được ưu tiên đầu tư chế biến sâu.
Các sản phẩm chủ lực như tỏi Lý Sơn, quế Trà Bồng, sâm Ngọc Linh, cà phê, hồ tiêu, cao su và thủy sản được ưu tiên đầu tư chế biến sâu, đẩy mạnh xuất khẩu với mục tiêu chiếm 50% giá trị. Ngành nông nghiệp sẽ tái cơ cấu theo mô hình kết hợp Nông – Lâm – Ngư, trong đó nông nghiệp công nghệ cao chiếm 30% giá trị sản xuất, cơ giới hóa đạt 70 – 80%, và chuyển đổi số trở thành trụ cột trong sản xuất, quản lý và tiêu thụ.
Nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đã ứng dụng dữ liệu số, liên kết doanh nghiệp – người dân trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng và phát triển nông nghiệp theo chuỗi giá trị.
Thời gian qua, Sở NN&MT Quảng Ngãi chú trọng xây dựng hạ tầng dữ liệu, đẩy mạnh cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ trong quản lý nhà nước, gắn với đề xuất, tập trung vào ứng dụng công nghệ số trong canh tác thông minh, giảm phát thải và phát triển các vùng dược liệu.
Sở NN&MT Quảng Ngãi đang phối hợp đề xuất triển khai hệ thống ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong dự báo sinh vật gây hại cây trồng, đồng thời từng bước tích hợp AI vào cơ sở dữ liệu chuyên ngành phục vụ công tác quản lý và điều hành…
Giải pháp thúc đẩy phát triển bền vững
Tuy nhiên, Quảng Ngãi vẫn còn nhiều khó khăn về hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt ở vùng nông thôn, miền núi. Chi phí đầu tư ban đầu cho thiết bị, cảm biến, phần mềm còn cao; trình độ, kỹ năng công nghệ của nông dân còn hạn chế; việc thay đổi thói quen sản xuất truyền thống sang mô hình số đòi hỏi thời gian và hỗ trợ đồng bộ. Bên cạnh đó, vấn đề quản lý và bảo mật dữ liệu cũng là thách thức khi lượng thông tin sản xuất và kinh doanh ngày càng lớn.

Ớt xiêm Sơn Hà được giới thiệu trên sàn OCOP Quảng Ngãi.
Ông Ưng Văn Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Ngãi cho rằng: Để chuyển đổi số thực sự đi vào sản xuất và tạo ra giá trị cho người nông dân, không thể chỉ dừng ở việc đưa máy móc, phần mềm hay các thiết bị công nghệ vào đồng ruộng, trang trại. Điều quan trọng hơn là phải hình thành được một phương thức sản xuất mới dựa trên dữ liệu, công nghệ và sự liên kết giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị. Vì vậy, cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp, trong đó lấy người nông dân và hiệu quả sản xuất làm trung tâm.
Trước hết, phải thay đổi nhận thức và cách tiếp cận về chuyển đổi số trong nông nghiệp. Các cấp ủy Đảng, chính quyền, cơ quan chuyên môn cần tăng cường tuyên truyền, quán triệt sâu rộng về vai trò, ý nghĩa và lợi ích của chuyển đổi số; tránh cách hiểu chuyển đổi số chỉ là ứng dụng một vài phần mềm hoặc thiết bị công nghệ. Đối với người sản xuất, cần chứng minh bằng những mô hình cụ thể rằng công nghệ số có thể giúp giảm chi phí đầu vào, sử dụng tiết kiệm nước, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng tiêu thụ sản phẩm. Khi người dân nhìn thấy hiệu quả và lợi ích trực tiếp, chuyển đổi số mới có thể lan tỏa và trở thành nhu cầu tự thân.
Thứ hai, phải ưu tiên đầu tư hạ tầng số và hạ tầng phục vụ sản xuất. Ở khu vực nông thôn, miền núi, vùng sản xuất tập trung, hạ tầng điện, giao thông, thủy lợi, viễn thông và internet vẫn là những điều kiện nền tảng. Cần lồng ghép, huy động nguồn lực từ ngân sách nhà nước, các chương trình mục tiêu quốc gia, doanh nghiệp và xã hội hóa để từng bước hoàn thiện hạ tầng. Đồng thời, có chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp số, nhất là các giải pháp tưới thông minh, cảm biến môi trường, tự động hóa, truy xuất nguồn gốc, quản lý trang trại và nền tảng kết nối tiêu thụ.
Thứ ba, lấy dữ liệu làm nền tảng của chuyển đổi số nông nghiệp. Cần từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu nông nghiệp thống nhất, có khả năng cập nhật từ cơ sở, kết nối giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất. Trong sản xuất, khuyến khích sử dụng nhật ký điện tử, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và các công cụ ghi nhận dữ liệu về giống, vật tư, quy trình chăm sóc, sản lượng và chất lượng. Khi dữ liệu được hình thành đầy đủ, chúng ta mới có cơ sở để dự báo sản xuất, cảnh báo sinh vật gây hại, quản lý vùng nguyên liệu, tổ chức liên kết và hoạch định chính sách một cách chính xác hơn.

Trung tâm Chuyển đổi số và Đổi mới sáng tạo tỉnh Quảng Ngãi ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác với các Trung tâm Chuyển đổi số - Đổi mới sáng tạo của các tỉnh, thành phố trên cả nước.
Thứ tư, phải coi đào tạo kỹ năng số cho nông dân là một nhiệm vụ trọng tâm của khuyến nông. Chuyển đổi số sẽ khó thành công nếu người trực tiếp sản xuất không sử dụng được công nghệ. Vì vậy, nội dung đào tạo cần thiết thực, dễ tiếp cận, bắt đầu từ những kỹ năng cơ bản như sử dụng điện thoại thông minh, các nền tảng số, nhật ký điện tử, truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử, tiếp cận thông tin thị trường và ứng dụng các thiết bị thông minh trong sản xuất. Cùng với đó, cần xây dựng đội ngũ nông dân tiên phong, hợp tác xã tiên phong và mô hình sản xuất tiên phong để làm hạt nhân lan tỏa.
Thứ năm, phát huy mạnh hơn vai trò của khuyến nông trong quá trình chuyển đổi số. Khuyến nông có lợi thế rất lớn là lực lượng trực tiếp làm việc với nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp tại cơ sở. Vì vậy, khuyến nông không chỉ làm nhiệm vụ chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mà phải trở thành lực lượng trung gian thúc đẩy chuyển đổi số ở cơ sở, giúp người dân tiếp cận, lựa chọn và ứng dụng công nghệ phù hợp với điều kiện sản xuất. Cần đẩy mạnh xây dựng các mô hình khuyến nông số, ứng dụng nền tảng số trong tư vấn kỹ thuật, đào tạo trực tuyến, quản lý mô hình, giám sát sản xuất và kết nối tiêu thụ.
Đặc biệt, cần chuyển từ tư duy “làm mô hình để trình diễn” sang “làm mô hình để nhân rộng và tạo giá trị”. Mỗi mô hình khuyến nông ứng dụng công nghệ số phải xác định rõ hiệu quả kinh tế, hiệu quả môi trường, khả năng áp dụng của nông dân và khả năng nhân rộng. Những mô hình hiệu quả cần được chuẩn hóa thành quy trình, dữ liệu và tài liệu hướng dẫn để có thể phổ biến rộng rãi trên môi trường số.
Thứ sáu, chuyển đổi số phải gắn chặt với xây dựng chuỗi giá trị và thị trường. Không nên ứng dụng công nghệ chỉ để sản xuất nhiều hơn, mà phải hướng đến sản xuất đúng nhu cầu thị trường, có truy xuất nguồn gốc, đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng và nâng cao giá trị sản phẩm. Khuyến khích các hợp tác xã, doanh nghiệp đưa sản phẩm lên các nền tảng thương mại điện tử, xây dựng thương hiệu số, quảng bá sản phẩm OCOP và từng bước hình thành các kênh tiêu thụ ổn định. Khi dữ liệu sản xuất được kết nối với dữ liệu thị trường, người nông dân sẽ chuyển dần từ sản xuất theo kinh nghiệm sang sản xuất theo nhu cầu và tín hiệu thị trường.
Cuối cùng, cần có cơ chế, chính sách đủ mạnh để tạo động lực cho chuyển đổi số nông nghiệp. Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo, dẫn dắt ở những khâu mà doanh nghiệp và người dân khó tự thực hiện, đồng thời tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp công nghệ tham gia. Cần ưu tiên nguồn lực cho những lĩnh vực có khả năng tạo tác động lan tỏa cao, nhất là xây dựng dữ liệu, đào tạo nhân lực, phát triển mô hình sản xuất thông minh, truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải và kết nối thị trường.
Theo ông Ưng Văn Thanh, chuyển đổi số trong nông nghiệp phải bắt đầu từ cơ sở, lấy người nông dân làm trung tâm, lấy dữ liệu làm nền tảng, công nghệ làm công cụ và thị trường làm mục tiêu. Trong quá trình đó, khuyến nông có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đưa chủ trương, chính sách và tiến bộ khoa học công nghệ đến với người sản xuất; đồng thời phản ánh nhu cầu, khó khăn từ cơ sở để tham mưu ngược trở lại cho cơ quan quản lý. Đây chính là hướng để xây dựng nền khuyến nông hiện đại, chuyên nghiệp, số hóa, góp phần thúc đẩy nông nghiệp Quảng Ngãi phát triển xanh, thông minh, hiệu quả và bền vững.
|
Chuyển đổi số là xu hướng tất yếu, là nhu cầu cấp thiết để nâng cao đời sống nông dân và năng lực cạnh tranh của nông nghiệp Quảng Ngãi. Với quyết tâm của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, sự phối hợp của các sở, ngành, doanh nghiệp và người dân, Quảng Ngãi hoàn toàn có thể khai thác tối đa tiềm năng, vượt qua thách thức, xây dựng nền nông nghiệp xanh, thông minh, bền vững, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và khẳng định vị thế của Quảng Ngãi trong kỷ nguyên số. |
Nguồn: HẢI YẾN/kinhtenongthon.vn