Truy xuất nguồn gốc không chỉ là công cụ quản lý, tấm “hộ chiếu” thương hiệu, mà còn là “bệ phóng” vững chắc nâng tầm giá trị và khẳng định vị thế nông sản Việt trên bản đồ quốc tế. Đây chính là nền tảng cốt lõi để xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, minh bạch thông tin, an toàn và phát triển bền vững.
Đặt nền móng cho hệ sinh thái dữ liệu nông nghiệp quốc gia
Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản chính thức vận hành từ ngày 1/7/2026 (sau 6 tháng thí điểm truy xuất nguồn gốc với trái sầu riêng) thể hiện quyết tâm của Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong việc lấy dữ liệu làm nền tảng phục vụ quản lý chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm, phát triển thị trường và nâng cao uy tín, giá trị nông sản Việt Nam.
Điều này không chỉ giúp người dân và doanh nghiệp dễ dàng tra cứu, xác thực thông tin sản phẩm, hệ thống còn hình thành nền tảng dữ liệu dùng chung, bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ và liên thông với các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và các đơn vị cung cấp giải pháp truy xuất nguồn gốc.

Hệ thống truy xuất nông sản Việt minh bạch thông tin.
Theo kết quả kiểm thử, Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản có khả năng đáp ứng khoảng 1.000 lượt tra cứu/giây; 30.000 người quét tem truy xuất đồng thời; trên 85 triệu lượt quét tem truy xuất/ngày và khoảng 50 bản tin dữ liệu dung lượng 2 MB/giây. Đây là cơ sở kỹ thuật quan trọng để hệ thống mở rộng khi triển khai trên phạm vi toàn quốc.
Đến nay, hệ thống đã tích hợp thông tin, dữ liệu truy xuất nguồn gốc của trên 18.500 sản phẩm, thuộc 181 nhóm sản phẩm của 170 doanh nghiệp tại 24/34 tỉnh, thành phố. Đối với sản phẩm sầu riêng xuất khẩu, đã có 16 doanh nghiệp tham gia thí điểm; bước đầu có 6 container của các doanh nghiệp xuất khẩu thành công sang thị trường Trung Quốc thông qua việc áp dụng truy xuất nguồn gốc điện tử trên Hệ thống của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Bên cạnh đó, Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản đã và đang được kết nối với các đơn vị cung cấp giải pháp truy xuất nguồn gốc, doanh nghiệp sản xuất, chế biến, xuất khẩu, nhập khẩu nông sản; các địa phương đã có hệ thống truy xuất nguồn gốc; đồng thời bảo đảm yêu cầu kết nối, liên thông với các bộ, ngành liên quan và Trung tâm Dữ liệu quốc gia thuộc Bộ Công an theo quy định về an toàn thông tin, an ninh mạng.
Đại diện đơn vị xây dựng Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản, ông Tô Nguyễn Thành, Công ty cổ phần Technology Convergence Corporation (Netacom), cho biết, hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản không phải là thành quả của riêng một tổ chức nào, mà là sự kết tinh từ sự chỉ đạo xuyên suốt, sát sao của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Hệ thống đã được bàn giao, cài đặt, đánh giá an toàn thông tin và chính thức chuyển giao toàn vẹn cho Bộ Nông nghiệp và Môi trường quản lý, vận hành chính thức từ ngày 1/7/2026.
“Đây hoàn toàn là dữ liệu, là tài sản của Nhà nước, của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản được vận hành chính thức chính là lời khẳng định mạnh mẽ cho tinh thần đổi mới, chuyển đổi số quốc gia và nâng tầm nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế”, ông Thành nói.
Nâng tầm nông sản Việt
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, truy xuất nguồn gốc là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh thị trường trong nước và quốc tế ngày càng coi trọng chất lượng, tính minh bạch, trách nhiệm chuỗi cung ứng và an toàn thực phẩm.
Vì vậy, việc chính thức đưa Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản vào hoạt động sẽ góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, hỗ trợ doanh nghiệp và người sản xuất chuẩn hóa dữ liệu, nâng cao giá trị sản phẩm; đồng thời tăng cường năng lực quản lý nhà nước trong giám sát, cảnh báo, truy xuất và xử lý khi phát sinh vấn đề về chất lượng, an toàn thực phẩm.
Cùng với đó, Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản cũng tạo nền tảng quan trọng để các địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất và các chủ thể trong chuỗi giá trị nông sản từng bước chuẩn hóa, cập nhật, chia sẻ dữ liệu về vùng trồng, cơ sở sản xuất, cơ sở đóng gói, chế biến, phân phối, xuất khẩu và tiêu thụ sản phẩm. Qua đó, hệ thống được kỳ vọng sẽ góp phần hình thành hệ sinh thái dữ liệu nông nghiệp thống nhất, đồng bộ, phục vụ chuyển đổi số ngành Nông nghiệp và phát triển kinh tế số nông nghiệp.
Thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp và các đơn vị công nghệ để mở rộng phạm vi triển khai hệ thống; ưu tiên các nhóm sản phẩm nông, lâm, thủy sản chủ lực, sản phẩm xuất khẩu, sản phẩm có yêu cầu cao về chất lượng, an toàn thực phẩm và minh bạch nguồn gốc.
Đồng thời, cơ quan quản lý Nhà nước về lĩnh vực Nông nghiệp và Môi trường cũng sẽ tăng cường hướng dẫn, hỗ trợ địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân tham gia cập nhật, khai thác, sử dụng Hệ thống một cách hiệu quả, góp phần xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, minh bạch, bền vững và có sức cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế.
Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, hệ thống đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Tại Hà Nội, hệ thống truy xuất nguồn gốc đã cấp tài khoản cho hơn 3.000 cơ sở sản xuất, kinh doanh; hơn 12.000 sản phẩm được gắn mã QR, giúp cơ quan quản lý kiểm soát chất lượng, doanh nghiệp minh bạch thông tin và người tiêu dùng dễ dàng truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
Ông Tạ Văn Cường, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, cho biết, đến nay, Hà Nội đã hoàn tất chuẩn hóa và kết nối dữ liệu với hệ thống quốc gia, đồng bộ 2.823 tài khoản cơ sở sản xuất, kinh doanh cùng hơn 10.100 mã sản phẩm nông, lâm, thủy sản.
Việc liên thông này không chỉ tạo điều kiện cho doanh nghiệp minh bạch thông tin mà còn giúp thành phố quản lý hiệu quả nguồn nông sản từ gần 1.500 chuỗi cung ứng của các địa phương đưa về thị trường Hà Nội.
Ở góc độ doanh nghiệp, đại diện Công ty Masan MEATLife cho biết, truy xuất nguồn gốc không chỉ là yêu cầu quản lý mà còn là nền tảng xây dựng niềm tin với người tiêu dùng. Hiện doanh nghiệp đã áp dụng truy xuất đối với 100% sản phẩm thịt, số hóa toàn bộ dữ liệu chuỗi sản xuất và sẵn sàng kết nối với hệ thống của Bộ nhằm nâng cao tính minh bạch và giá trị sản phẩm.
Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản được xây dựng gồm 3 hợp phần chính: Hợp phần dành cho người dân tra cứu thông tin; hợp phần quản trị phục vụ cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các chủ thể tham gia chuỗi; ứng dụng cài đặt trên điện thoại di động, thiết bị thông minh.
Điểm mới quan trọng của hệ thống là khả năng xác thực, minh bạch và bảo đảm toàn vẹn dữ liệu thông qua ký số điện tử, công nghệ chuỗi khối; định danh sản phẩm theo chuẩn GS1 quốc tế, mã QR theo GS1 Digital Link; trao đổi dữ liệu theo chuẩn thống nhất, tạo điều kiện để nhiều đơn vị giải pháp cùng tham gia, không phụ thuộc vào một nhà cung cấp công nghệ riêng lẻ.
Triển khai đồng bộ và toàn diện
Theo ông Cao Bá Đăng Khoa, Tổng thư ký Hiệp hội Dừa Việt Nam, truy xuất nguồn gốc là nền tảng của mọi hoạt động phát triển nông nghiệp trong giai đoạn tới, không chỉ để đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu mà còn phục vụ công tác quản lý của ngành Nông nghiệp. Việc đưa vào vận hành hệ thống truy xuất nguồn gốc quốc gia là bước đi đầu tiên trong lộ trình xây dựng bản đồ nông nghiệp quốc gia do Bộ Nông nghiệp và Môi trường triển khai. Bản đồ này sẽ bao quát toàn bộ lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản. Muốn xây dựng được hệ thống đó thì trước hết phải có dữ liệu truy xuất nguồn gốc.

Truy xuất nguồn gốc không còn là yêu cầu riêng lẻ mà đã trở thành xu thế tất yếu trong quản lý chất lượng và bảo vệ người tiêu dùng.
“Ở góc độ thị trường, truy xuất nguồn gốc trước hết giúp tạo dựng niềm tin cho người tiêu dùng. Trước đây, phần lớn nông sản bán trên thị trường nội địa chưa có truy xuất nguồn gốc rõ ràng, trong khi những sản phẩm đạt tiêu chuẩn thường được ưu tiên xuất khẩu. Người tiêu dùng trong nước vì vậy khó biết chính xác sản phẩm mình mua được sản xuất ở đâu hay có đúng xuất xứ được giới thiệu hay không. Ví dụ như cùng một loại nông sản nhưng có thể được đưa từ địa phương này sang địa phương khác rồi gắn tên vùng trồng khác để bán. Điều này làm giảm tính minh bạch của thị trường. Khi có hệ thống truy xuất nguồn gốc, người tiêu dùng có thể xác định được chính xác xuất xứ sản phẩm; cơ quan quản lý có thêm công cụ để quản lý vùng trồng trên phạm vi toàn quốc theo chủ trương mà Chính phủ đặt ra từ vài năm trước”, ông Khoa nhận định.
Đại diện Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cũng thừa nhận việc truy xuất nguồn gốc xuyên suốt và có khả năng kết nối đang trở thành nền tảng bắt buộc đối với ngành Thủy sản. Trước áp lực ngày càng lớn từ nhà đầu tư, cơ quan quản lý và đối tác chuỗi cung ứng, doanh nghiệp buộc phải minh bạch và chứng minh nguồn gốc sản phẩm.
Ông Nguyễn Văn Mười, Phó Trưởng Chi nhánh phía Nam Hội Làm vườn Việt Nam, Phó Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, nhận định, việc đưa hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản quốc gia vào vận hành là bước đi cần thiết và lẽ ra phải được triển khai từ nhiều năm trước, bởi truy xuất nguồn gốc là yêu cầu đặc biệt quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp hiện đại.
“Nếu không minh bạch được toàn bộ quá trình canh tác thông qua nhật ký điện tử và hệ thống truy xuất nguồn gốc thì rất khó chứng minh sản phẩm được sản xuất theo quy trình an toàn, sạch và đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng. Việc đưa hệ thống truy xuất nguồn gốc quốc gia vào vận hành sẽ tạo điều kiện để nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chứng minh toàn bộ quá trình sản xuất một cách minh bạch. Khi chứng minh được quy trình sản xuất rõ ràng, các đối tác và khách hàng sẽ có thêm cơ sở để tin tưởng, từ đó yên tâm hơn trong quyết định mua hàng cũng như hợp tác lâu dài”, ông Mười nói.
Ông Mười cho rằng, công nghệ truy xuất nguồn gốc chỉ là công cụ hỗ trợ minh bạch thông tin chứ không thể tự nâng cao chất lượng nông sản. Yếu tố quyết định chất lượng vẫn là quy trình sản xuất.
“Nếu chỉ đưa công nghệ vào mà quy trình sản xuất chưa được chuẩn hóa thì việc truy xuất nguồn gốc cũng không thể làm thay đổi chất lượng nông sản. Điều quan trọng nhất hiện nay là phải giúp nông dân chuẩn hóa quy trình sản xuất, kiểm soát chặt chẽ các yếu tố đầu vào và thực hiện đúng quy trình kỹ thuật. Khi đó, hệ thống truy xuất nguồn gốc mới phát huy đầy đủ giá trị”, ông Mười nhấn mạnh.
Đối với ngành khai thác biển, việc truy xuất nguồn gốc còn khó khăn hơn. Theo VASEP, trong khi các doanh nghiệp nuôi trồng, chế biến nỗ lực khép kín chuỗi sản xuất, xây dựng được thương hiệu và uy tín đối với khách hàng quốc tế thì thực trạng hiện nay trong việc khai thác biển vẫn còn nhiều khoảng trống, khiến quá trình truy xuất gặp khó khăn. Đơn cử các sản phẩm như ruốc biển, ghẹ và một số nguồn lợi khai thác ven bờ có giá trị kinh tế, sinh kế và xuất khẩu, nhưng với hiện trạng tàu nhỏ, nghề nhỏ, chuỗi thu mua nhỏ lẻ thì vẫn có nguy cơ khó đáp ứng yêu cầu hồ sơ, truy xuất và chứng nhận xuất khẩu.
Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp và các đơn vị công nghệ để mở rộng phạm vi triển khai hệ thống; ưu tiên các nhóm sản phẩm nông, lâm, thủy sản chủ lực, sản phẩm xuất khẩu, sản phẩm có yêu cầu cao về chất lượng, ATTP và minh bạch nguồn gốc. Song song đó, Bộ sẽ tăng cường hướng dẫn, hỗ trợ địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân tham gia cập nhật, khai thác, sử dụng hệ thống một cách hiệu quả, góp phần xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, minh bạch, bền vững và có sức cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế.
Xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, minh bạch, an toàn, bền vững
Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng đánh giá cao Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã rất nỗ lực để xây dựng, đưa Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản vào vận hành, theo chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; cũng như nhiệm vụ Chính phủ giao cho Bộ.
Theo Phó Thủ tướng, đây là bước tiến quan trọng trong chuyển đổi số của ngành Nông nghiệp và Môi trường, góp phần minh bạch hóa toàn bộ chuỗi sản xuất, truy xuất được nguồn gốc xuất xứ nông sản, từ đó bảo đảm chất lượng, giữ vững uy tín và nâng cao giá trị nông sản Việt Nam.
Không chỉ mang ý nghĩa về mặt kỹ thuật, việc đưa hệ thống vào vận hành diễn ra trong bối cảnh ngành Nông nghiệp đang đứng trước nhiều yêu cầu mới. Là trụ đỡ của nền kinh tế, nông nghiệp Việt Nam tiếp tục duy trì tăng trưởng tích cực. Giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 35,88 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ năm trước.
Tuy nhiên, mục tiêu xuất khẩu trên 74 tỷ USD trong năm 2026 đang đặt ra áp lực lớn khi các thị trường ngày càng siết chặt yêu cầu về minh bạch thông tin và truy xuất nguồn gốc.
Phó Thủ tướng cho rằng, truy xuất nguồn gốc hiện không còn là yêu cầu riêng lẻ mà đã trở thành xu thế tất yếu trong quản lý chất lượng và bảo vệ người tiêu dùng. Muốn phát triển bền vững, nông sản Việt Nam buộc phải xây dựng thương hiệu và đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế.
Dù vậy, việc triển khai cũng đối mặt nhiều thách thức khi sản xuất nông nghiệp trong nước vẫn chủ yếu ở quy mô nhỏ lẻ, phân tán với số lượng hộ sản xuất rất lớn. Vì vậy, theo Phó Thủ tướng, cần có lộ trình phù hợp, triển khai từ trọng tâm đến mở rộng để bảo đảm hiệu quả và tính khả thi.
Trước mắt, Phó Thủ tướng đề nghị ưu tiên triển khai truy xuất nguồn gốc đối với các ngành hàng chủ lực, sản phẩm có sản lượng lớn, giá trị kinh tế cao, phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, đặc biệt hướng đến các thị trường trọng điểm như Trung Quốc, EU và Hoa Kỳ.
Trên nền tảng đó, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, tiêu chuẩn, hạ tầng dữ liệu và Hệ thống truy xuất nguồn gốc; đồng thời từng bước mở rộng sang các nhóm sản phẩm có yêu cầu quản lý cao, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn thực phẩm hoặc phải đáp ứng các quy định nghiêm ngặt của từng thị trường.
Bên cạnh đó, Phó Thủ tướng đề nghị các Bộ Công an, Khoa học và Công nghệ, Công Thương, Tài chính cùng các địa phương tăng cường phối hợp, chuẩn hóa, hoàn thiện cơ chế kết nối, liên thông, chia sẻ và xác thực dữ liệu.
Phó Thủ tướng cũng nhấn mạnh cần hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất tham gia hệ thống, coi truy xuất nguồn gốc là công cụ để kiểm soát, nâng cao chất lượng, giá trị và sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam, thay vì trở thành một thủ tục hành chính phát sinh. Đặc biệt, việc triển khai phải đơn giản, hiệu quả và phù hợp với tập quán, kinh nghiệm canh tác của người dân.
Ở góc độ quản lý Nhà nước, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các bộ, ngành tiếp tục rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính, đồng thời không “hành chính hóa” các điều kiện kỹ thuật hay quy trình nội bộ - những yếu tố rất dễ bị lợi dụng nếu không được kiểm soát chặt chẽ.
Phó Thủ tướng bày tỏ tin tưởng, với sự vào cuộc đồng bộ của các bộ, ngành, địa phương cùng sự tham gia tích cực của cộng đồng doanh nghiệp và người dân, Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản sẽ trở thành hạ tầng số quan trọng, góp phần xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, minh bạch, an toàn và phát triển bền vững./.
Nguồn: THANH TÂM/kinhtenongthon.vn