Làm vườn và NN xanh

Từ danh mục công nghệ chiến lược đến định hướng xây dựng nhiệm vụ của ngành Nông nghiệp

07/07/2026, 07:13

Nhiệm vụ công nghệ chiến lược phải bắt đầu từ công nghệ lõi cần làm chủ, từ khoảng trống năng lực và bài toán lớn của ngành.

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu. Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược đã tạo cơ sở để các ngành lựa chọn những công nghệ cần ưu tiên đầu tư, làm chủ và phát triển. Đối với nông nghiệp, đây là cơ hội để nâng cao năng lực tự chủ, sức cạnh tranh và khả năng thích ứng. Nhưng để chính sách đi vào thực tiễn, nhiệm vụ công nghệ chiến lược phải bắt đầu từ công nghệ lõi cần làm chủ, từ khoảng trống năng lực và bài toán lớn của ngành; cây trồng, vật nuôi hay sản phẩm cụ thể nên là nơi ứng dụng và kiểm chứng công nghệ.

Từ định hướng của Nghị quyết số 57-NQ/TW, Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg; Bộ Khoa học và Công nghệ quy định trình tự, thủ tục xây dựng đề xuất nhiệm vụ. Theo đó, ý tưởng nhiệm vụ phải thể hiện tính cấp thiết, tính mới và tác động; có phương án phát triển công nghệ hoặc sản phẩm khả thi, chủ thể tiếp nhận và khả năng đưa kết quả vào thực tiễn.

Từ danh mục công nghệ chiến lược đến định hướng xây dựng nhiệm vụ của ngành nông nghiệp.

Từ danh mục công nghệ chiến lược đến định hướng xây dựng nhiệm vụ của ngành nông nghiệp.

Những yêu cầu này đặt ra câu hỏi quan trọng: nông nghiệp nằm ở đâu trong bản đồ công nghệ chiến lược quốc gia và cần tiếp cận chính sách như thế nào để hình thành được nhiệm vụ vừa đúng tiêu chí, vừa phù hợp với đặc thù của ngành? Nông nghiệp có nhiều bài toán mang ý nghĩa chiến lược như tự chủ giống và vật tư đầu vào, phòng chống dịch bệnh, thích ứng biến đổi khí hậu, giảm phát thải, chuyển đổi số, bảo quản và chế biến sâu. Tuy nhiên, tầm quan trọng của một cây trồng, vật nuôi hay ngành hàng chưa tự động làm cho nhiệm vụ liên quan trở thành nhiệm vụ công nghệ chiến lược.

“Chiến lược” không đồng nghĩa với “hiện đại”

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy công nghệ chiến lược không được lựa chọn chỉ vì mới hoặc hiện đại. Hoa Kỳ gắn công nghệ trọng yếu và mới nổi với năng lực cạnh tranh và an ninh quốc gia; Liên minh châu Âu nhấn mạnh an ninh kinh tế, khả năng chống chịu chuỗi cung ứng và mức độ phụ thuộc bên ngoài; Vương quốc Anh tiếp cận theo hệ thống, gắn công nghệ với nghiên cứu, nhân lực, hạ tầng, đầu tư, tiêu chuẩn, pháp luật và khả năng đưa sản phẩm ra thị trường.

Điểm chung là giá trị chiến lược không nằm ở tên gọi, mà ở vai trò của công nghệ đối với năng lực phát triển dài hạn. Một công nghệ rất tiên tiến nhưng chỉ được dùng như công cụ trong một đề tài riêng lẻ, không tạo ra năng lực mới và không thể duy trì hoặc mở rộng sau nhiệm vụ thì giá trị chiến lược còn hạn chế. Ngược lại, một công nghệ chưa phải mới nhất nhưng Việt Nam đang phụ thuộc lớn, có nhu cầu rõ, có khả năng làm chủ và tạo tác động rộng vẫn có thể mang ý nghĩa chiến lược.

Vì vậy, việc đưa trí tuệ nhân tạo, công nghệ gen, chỉ thị phân tử, dữ liệu lớn, cảm biến hay tự động hóa vào một nhiệm vụ KHCN chưa đủ để làm thay đổi bản chất của nhiệm vụ. Điều cần chứng minh là phần công nghệ nào sẽ được phát triển và làm chủ; năng lực nào được hình thành; công nghệ có thể tiếp tục được vận hành, nâng cấp và nhân rộng hay không.

Việc đưa trí tuệ nhân tạo, công nghệ gen... vào một nhiệm vụ KHCN chưa đủ để làm thay đổi bản chất của nhiệm vụ. Ảnh minh họa.

Việc đưa trí tuệ nhân tạo, công nghệ gen... vào một nhiệm vụ KHCN chưa đủ để làm thay đổi bản chất của nhiệm vụ. Ảnh minh họa.

Nên bắt đầu từ khoảng trống công nghệ

Trong nghiên cứu nông nghiệp, tổ chức nhiệm vụ theo cây trồng, vật nuôi hoặc ngành hàng là cách tiếp cận hợp lý đối với các chương trình chuyên ngành. Mỗi đối tượng có đặc điểm sinh học, điều kiện sản xuất và thị trường riêng. Tuy nhiên, khi xây dựng nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược, điểm xuất phát cần được nâng lên một cấp độ khác: ngành đang thiếu năng lực công nghệ nào, sự thiếu hụt đó đang cản trở việc giải quyết bài toán gì và nếu được khắc phục sẽ tạo tác động đến đâu?

Khoảng trống công nghệ có thể nằm ở dữ liệu, quy trình, thiết bị, phần mềm, năng lực kiểm định, khả năng sản xuất ở quy mô lớn hoặc khả năng làm chủ một khâu quan trọng đang còn phụ thuộc bên ngoài. Xác định đúng khoảng trống này sẽ giúp nhiệm vụ tập trung vào phần công nghệ thực sự cần phát triển, thay vì bắt đầu từ một đối tượng cụ thể rồi mới lựa chọn công nghệ để áp dụng.

Công nghệ chiến lược trong nông nghiệp thường được hình thành từ sự tích hợp của nhiều công nghệ, trong đó công nghệ sinh học, dữ liệu và công nghệ số có mối liên kết ngày càng chặt chẽ. Vì vậy, sản phẩm đầu ra cần là một gói công nghệ, kỹ thuật đồng bộ, thay vì một quy trình hoặc công cụ riêng lẻ.

Làm rõ ba lớp kết quả của nhiệm vụ

Sau khi xác định được khoảng trống công nghệ và công nghệ cần làm chủ, đề bài nhiệm vụ phải làm rõ các kết quả dự kiến. Có thể phân thành ba lớp có quan hệ nối tiếp với nhau.

Thứ nhất, công nghệ lõi là năng lực công nghệ cốt yếu mà nhiệm vụ hướng tới làm chủ, như quy trình kỹ thuật, hệ thống tái sinh và chỉnh sửa gen, công nghệ tạo vật liệu sạch bệnh, công nghệ lên men, thiết bị cảm biến hoặc nền tảng quản trị dữ liệu.

Thứ hai, sản phẩm công nghệ là kết quả cho thấy công nghệ lõi đã được hình thành, hoàn thiện và có thể vận hành, kiểm chứng hoặc chuyển giao. Đó có thể là quy trình, phần mềm, bộ chỉ thị, thiết bị, bộ dữ liệu chuẩn hóa, hệ thống pilot, tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc gói công nghệ.

Thứ ba, sản phẩm ứng dụng là kết quả tạo ra khi công nghệ được áp dụng vào một đối tượng cụ thể, như giống mới, cây giống sạch bệnh, vaccine, mô hình sản xuất hoặc sản phẩm chế biến.

Phải xác định rõ kết quả trực tiếp cần đạt và bước tiếp theo để đưa công nghệ vào xây dựng nhiệm vụ của ngành nông nghiệp. Ảnh minh họa.

Phải xác định rõ kết quả trực tiếp cần đạt và bước tiếp theo để đưa công nghệ vào xây dựng nhiệm vụ của ngành nông nghiệp. Ảnh minh họa.

Ba lớp kết quả phải gắn kết nhưng không đồng nhất. Một giống mới có thể là sản phẩm ứng dụng có giá trị, nhưng ý nghĩa chiến lược của nhiệm vụ sẽ rõ hơn khi phía sau nó là công nghệ đã được làm chủ và có khả năng tiếp tục tạo ra các sản phẩm khác. Tùy vị trí của nhiệm vụ trong chuỗi phát triển, có thể chưa hoàn thành đồng thời cả ba lớp, nhưng phải xác định rõ kết quả trực tiếp cần đạt và bước tiếp theo để đưa công nghệ vào ứng dụng, chuyển giao hoặc sản xuất.

Thiết kế phù hợp với chu kỳ phát triển của nông nghiệp

Nông nghiệp có những đặc thù không thể bỏ qua. Đối tượng nghiên cứu là cơ thể sống, chịu tác động mạnh của môi trường và có chu kỳ phát triển riêng. Kết quả trong phòng thí nghiệm chưa đồng nghĩa với hiệu quả ổn định ngoài đồng ruộng. Giống mới phải được đánh giá qua nhiều vụ, nhiều vùng sinh thái; cây lâu năm, cây lâm nghiệp và vật nuôi cần thời gian kiểm chứng dài hơn. Nhiều công nghệ còn liên quan đến an toàn sinh học, an toàn thực phẩm, môi trường, đa dạng sinh học và yêu cầu quản lý chuyên ngành.

Vì vậy, nhiệm vụ nên được thiết kế theo chuỗi phát triển: hình thành dữ liệu và nguyên lý; xây dựng, tối ưu quy trình; tạo vật liệu hoặc sản phẩm; kiểm chứng trong điều kiện đại diện; xây dựng hệ thống pilot; hoàn thiện tiêu chuẩn kỹ thuật và yêu cầu pháp lý; chuyển giao và mở rộng sản xuất. Không nhất thiết mọi bước đều phải hoàn thành trong một nhiệm vụ, nhưng hồ sơ cần chỉ rõ nhiệm vụ giải quyết khâu nào của chuỗi, sản phẩm cuối đạt mức nào và chủ thể nào tiếp tục thực hiện bước tiếp theo.

Từ danh mục quốc gia đến đề bài của ngành

Danh mục công nghệ chiến lược của quốc gia mới là định hướng chung. Để triển khai trong nông nghiệp, cần chuyển từ tên gọi công nghệ sang những bài toán cụ thể của ngành và xác định rõ năng lực nào cần được hình thành. Chẳng hạn, “Công nghệ sinh học” là một phạm vi rất rộng; vì vậy, ngành cần xác định rõ trong từng giai đoạn sẽ ưu tiên công nghệ chọn giống chính xác, tái sinh và chỉnh sửa gen, vaccine, chẩn đoán, lên men, giống sạch bệnh hay công nghệ vi sinh.

Xác định rõ từng giai đoạn để lựa chọn ưu tiên công nghệ phù hợp. Ảnh minh họa.

Xác định rõ từng giai đoạn để lựa chọn ưu tiên công nghệ phù hợp. Ảnh minh họa.

Quá trình hình thành đề bài có thể đi theo 4 bước:

- Xác định bài toán lớn và khoảng trống công nghệ;

- Lựa chọn công nghệ lõi có khả năng giải quyết bài toán; 

- Xác định sản phẩm công nghệ, đối tượng kiểm chứng và chủ thể tiếp nhận;

- Thiết kế lộ trình từ nghiên cứu đến sản xuất, pháp lý và thị trường.

Để hỗ trợ quá trình này, ngành nông nghiệp cần có bức tranh tổng thể về năng lực công nghệ và những khoảng trống cần khắc phục: công nghệ nào đã có nền tảng, công nghệ nào còn phụ thuộc bên ngoài, dữ liệu và hạ tầng ở đâu, đơn vị nào có năng lực nghiên cứu và doanh nghiệp nào có khả năng tiếp nhận. Trên cơ sở đó, có thể ưu tiên một số nền tảng dùng chung cho nhiều ngành hàng, đồng thời vẫn duy trì các nhiệm vụ chuyên sâu theo đối tượng khi thực tiễn đòi hỏi.

Trước khi lập hồ sơ đầy đủ, nên có bước tiền sàng lọc với sáu câu hỏi: công nghệ nào cần làm chủ; khoảng trống hiện nằm ở đâu; sản phẩm công nghệ trực tiếp là gì; đối tượng nào được lựa chọn để kiểm chứng; ai tiếp nhận, đầu tư tiếp và đưa kết quả vào sản xuất; công nghệ có thể mở rộng sang đối tượng khác hay không.

Cùng với đó, cần hướng dẫn rõ cách xác định mức độ làm chủ công nghệ, tỷ lệ nội địa hóa, giá trị gia tăng, sản phẩm trung gian và lộ trình thương mại hóa phù hợp với đặc thù sinh học của nông nghiệp. Mục tiêu không phải là giảm yêu cầu, mà giúp tiêu chí được áp dụng đúng bản chất và có thể đo lường.

Để chính sách tạo ra năng lực thực chất

Phát triển công nghệ chiến lược là cơ hội để nông nghiệp chuyển từ tiếp nhận, ứng dụng sang từng bước làm chủ những nền tảng công nghệ có ý nghĩa lâu dài. Muốn vậy, nhiệm vụ cần bắt đầu từ công nghệ, từ khoảng trống năng lực và từ bài toán lớn của ngành; trên cơ sở đó mới lựa chọn cây trồng, vật nuôi hoặc ngành hàng phù hợp để ứng dụng, kiểm chứng và hoàn thiện công nghệ.

Phát triển công nghệ chiến lược là cơ hội để nông nghiệp chuyển từ tiếp nhận sang từng bước làm chủ công nghệ. Ảnh minh họa.

Phát triển công nghệ chiến lược là cơ hội để nông nghiệp chuyển từ tiếp nhận sang từng bước làm chủ công nghệ. Ảnh minh họa.

Khi công nghệ lõi được xác định rõ, đối tượng nông nghiệp sẽ là nơi kiểm chứng; còn sản phẩm ứng dụng là bằng chứng về hiệu quả của công nghệ trong thực tiễn. Giá trị chiến lược của nhiệm vụ nằm ở năng lực công nghệ được hình thành, khả năng tiếp tục và phát triển, nhân rộng và tạo tác động đối với nhiều đối tượng hoặc chuỗi giá trị.

Với cách tiếp cận đó, ngành nông nghiệp có thể xây dựng những nhiệm vụ vừa đáp ứng tiêu chí chung, vừa phù hợp với đặc thù của lĩnh vực; qua đó đưa chính sách công nghệ chiến lược đi vào thực tiễn và tạo ra năng lực thực chất cho phát triển lâu dài.

TS. Nguyễn Thị Thanh Thủy
Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Làm vườn Việt Nam

 

Nguồn: /Báo NNMT