Không dừng ở quảng bá một sản phẩm nông nghiệp chủ lực, lễ hội còn mở ra không gian kết nối thương mại, thúc đẩy tiêu thụ, nâng giá trị và định vị thương hiệu sầu riêng Đắk Lắk trên thị trường thế giới.
Không chỉ bán sầu riêng mà phải bán cả giá trị và thương hiệu
Những ngày giữa tháng 8, tại các vùng chuyên canh sầu riêng của Đắk Lắk như Krông Pắc, Ea Knuếc, Krông Năng, Cư M’gar… nhà vườn đang tất bật chăm sóc, kiểm tra chất lượng quả trước thu hoạch. Các hợp tác xã hoàn thiện hồ sơ, nhật ký sản xuất; doanh nghiệp tăng tốc thu mua, phân loại, đóng gói và chuẩn bị các đơn hàng.
Phía sau mỗi trái sầu riêng chuẩn bị đưa ra thị trường là một quy trình ngày càng được chuẩn hóa. Từ giống, chăm sóc, sử dụng vật tư nông nghiệp, thu hoạch đúng độ chín đến kiểm nghiệm, sơ chế, bảo quản, đóng gói và vận chuyển, các khâu đang từng bước được kiểm soát chặt chẽ hơn.

Từng trái sầu riêng được tuyển chọn, phân loại trước khi đóng gói, bảo đảm đồng đều chất lượng và yêu cầu truy xuất.
Đến năm 2026, Đắk Lắk có khoảng 41.000ha sầu riêng, sản lượng niên vụ dự kiến đạt gần 500.000 tấn; 280 mã số vùng trồng với khoảng 7.500ha và hàng chục cơ sở đóng gói được phê duyệt phục vụ xuất khẩu. Quy mô sản xuất ngày càng lớn cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với ngành hàng sầu riêng: không chỉ bán nhiều hơn mà phải bán được giá trị cao hơn.
Với ngành hàng sầu riêng, theo ông Đỗ Hữu Huy, Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk, yêu cầu đặt ra không đơn thuần là mở rộng diện tích hay tăng sản lượng. Tỉnh hướng tới chuyển mạnh từ tư duy quản lý sản lượng sang quản lý giá trị nông nghiệp, quan tâm đến giá trị tạo ra trên từng hec-ta, phần lợi ích người nông dân được hưởng, vai trò của doanh nghiệp trong chuỗi và vị thế thương hiệu Đắk Lắk trên thị trường quốc tế.

Tem nhận diện và truy xuất nguồn gốc trở thành “tấm hộ chiếu” giúp trái sầu riêng minh bạch từ vườn đến thị trường.
Thực tế từ các vùng trồng cho thấy, người nông dân cũng đang nhìn khác về đầu ra của sản phẩm. Điều họ quan tâm không chỉ là bán được sầu riêng, mà là làm thế nào để chất lượng được trả giá đúng, sản phẩm có đầu ra ổn định và công sức đầu tư nhiều tháng trời không bị quyết định bởi những cuộc mặc cả thiếu minh bạch.
Ông Nguyễn Văn Hòa, người sầu riêng ở xã Krông Pắc cho rằng, việc đưa sản phẩm đạt chuẩn vào các phiên đấu giá là tín hiệu đáng mừng. Theo ông, khi nguồn hàng được kiểm soát, giá bán được hình thành minh bạch, người sản xuất sẽ có thêm động lực đầu tư vào quy trình sản xuất sạch, giữ uy tín cho vùng trồng.
Một minh chứng là phiên đấu giá sầu riêng trước thềm lễ hội tại Krông Pắc. Hơn 350 tấn sầu riêng Dona của 10 nhà vườn, trên diện tích 14,6ha, có mã số vùng trồng và kết quả kiểm nghiệm không nhiễm Cadimi được đưa ra đấu giá với giá khởi điểm 55.000 đồng/kg.
Sau hai vòng đấu giá kín, Công ty TNHH Xuất - nhập khẩu Nông nghiệp Nguyên Thuận giành quyền thu mua với giá 68.000 đồng/kg, nâng tổng giá trị lô hàng lên khoảng 23,8 tỷ đồng.
Phiên đấu giá cho thấy một hướng tiêu thụ mới đang được hình thành: chất lượng, nguồn gốc và tính minh bạch có thể trở thành căn cứ định giá nông sản, thay vì sản phẩm chỉ phụ thuộc vào thương lái và những biến động của thị trường.
Bà Lê Thị Hạnh (xã Ea Knuếc) cho rằng, lễ hội tạo thêm cơ hội để nông dân gặp gỡ doanh nghiệp, quảng bá sản phẩm và tiếp cận cách làm bài bản hơn.
“Bà con không chỉ mong bán được giá cao, mà muốn sản phẩm của mình có thương hiệu, có thị trường ổn định. Khi người mua biết sầu riêng được sản xuất ở đâu, quy trình thế nào, chất lượng ra sao thì giá trị trái cây cũng sẽ khác”, bà Hạnh nói.
Mở “đường băng” mới cho ngành sầu riêng
Từ một sản phẩm được kiểm soát về chất lượng, bài toán tiếp theo là làm sao đưa sầu riêng đến đúng thị trường và tạo ra giá trị cao hơn trong toàn chuỗi. Đây cũng là điểm khác biệt của Lễ hội Sầu riêng Đắk Lắk 2026: sầu riêng được đặt vào chuỗi giá trị rộng hơn, gồm sản xuất, thương mại, chế biến, logistics, du lịch và chuyển đổi số.
Theo ông Huy, chuyển đổi số sẽ trở thành một trong những công cụ quan trọng để ngành hàng đi xa hơn. Từ thương mại điện tử, truyền thông số đến sự tham gia của KOL, KOC và các nhà sáng tạo nội dung, câu chuyện về vùng đất, người trồng và chất lượng sầu riêng Đắk Lắk có thể được tiếp cận thị trường bằng những phương thức mới.

Container lạnh sẵn sàng vận chuyển những lô sầu riêng đạt chuẩn, nối vùng nguyên liệu Đắk Lắk với các thị trường xa hơn.
Mục tiêu là hình thành hệ sinh thái liên kết giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp, cơ sở đóng gói, chế biến, logistics, nhà phân phối và nhà nhập khẩu. “Vươn xa không đơn thuần là xuất khẩu được nhiều hơn; mà phải xuất khẩu được giá trị cao hơn, đến nhiều thị trường hơn và từng bước đi bằng chính thương hiệu của mình”, ông Huy khẳng định.
Để làm được điều đó, chất lượng phải bắt đầu từ chính vùng nguyên liệu. Mã số vùng trồng không thể chỉ được xem như “tấm vé” để xuất khẩu, mà phải là cam kết về vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất, truy xuất nguồn gốc, chất lượng và trách nhiệm.
Đây là yêu cầu ngày càng rõ khi quy mô ngành hàng sầu riêng Việt Nam tiếp tục tăng. Năm 2026, diện tích sầu riêng cả nước khoảng 200.000ha, sản lượng dự kiến hơn 2 triệu tấn. Quy mô lớn mở ra cơ hội xuất khẩu nhưng đồng thời cũng đặt ra sức ép về chất lượng, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và tính bền vững.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng cho rằng, trong bối cảnh Tây Nguyên bước vào cao điểm thu hoạch, ngành sầu riêng cần nhìn thẳng vào những điểm nghẽn để tháo gỡ, đồng thời đặt nền móng cho sự phát triển lâu dài.
Theo ông Hưng, ngành sầu riêng phải chuyển từ tăng trưởng nhanh sang phát triển bền vững; giảm tiền kiểm nhưng tăng hậu kiểm, đẩy mạnh số hóa và phân cấp phải gắn với trách nhiệm. Ông đánh giá cao Đắk Lắk triển khai chiến dịch cao điểm “30 ngày đêm” nhằm số hóa, chuẩn hóa dữ liệu mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và kết nối hệ thống truy xuất nguồn gốc.
Ông Lê Minh Hoan, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, nhấn mạnh, chuyển đổi số không bắt đầu từ phần mềm mà từ dữ liệu chính xác. Nhật ký sản xuất sai, mã số vùng trồng chỉ tồn tại trên giấy thì công nghệ cũng không thể bảo vệ uy tín sầu riêng Việt Nam.

Ông Lê Minh Hoan, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, nhấn mạnh, chuyển đổi số không bắt đầu từ phần mềm mà từ dữ liệu chính xác.
Theo ông Hoan, hợp tác xã phải trở thành “thiết chế kinh tế” của nông dân, cùng xây dựng quy trình, kiểm soát chất lượng, thương hiệu và truy xuất nguồn gốc. Doanh nghiệp cũng cần tham gia từ trước mùa vụ, thay vì chỉ xuất hiện khi sầu riêng chuẩn bị thu hoạch. Cùng với thị trường xuất khẩu chủ lực, ngành hàng cần đầu tư vào chế biến sâu, tạo ra các sản phẩm giá trị gia tăng và mở rộng thị trường trong nước.
Với Đắk Lắk, đó cũng là bài toán của giai đoạn phát triển mới. Khi diện tích và sản lượng tăng nhanh, thị trường sẽ không còn dễ tính. Các yêu cầu về dư lượng, truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng, an toàn thực phẩm và tính ổn định của chất lượng sẽ ngày càng khắt khe.
Vì vậy, giá trị của Lễ hội Sầu riêng không chỉ nằm ở số lượng khách tham quan hay các hoạt động quảng bá. Quan trọng hơn là từ không gian này, các mối liên kết thương mại được mở rộng, sản phẩm được nhận diện rõ hơn, doanh nghiệp có thêm cơ hội tiếp cận vùng nguyên liệu và người trồng có thêm cơ hội tiếp cận thị trường.
Khi những mắt xích ấy ngày càng chặt chẽ, sầu riêng Đắk Lắk không chỉ được bán như một loại trái cây, mà từng bước được đưa ra thị trường bằng chất lượng, giá trị và thương hiệu của chính vùng đất đã tạo nên nó./.