Cụ thể, 8 tháng năm 2026, tổng giá trị xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt gần 49,31 tỷ USD, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, các mặt hàng nông sản đạt 25,66 tỷ USD, tăng 2,7%; sản phẩm chăn nuôi đạt 511,9 triệu USD, tăng 30%; thủy sản đạt 7,94 tỷ USD, tăng 10,9%; lâm sản đạt 12,57 tỷ USD, tăng 5,4%; đầu vào sản xuất đạt 2,61 tỷ USD, tăng 64,8%; muối đạt 10,4 triệu USD, tăng 44,4%.
Về cơ cấu thị trường, châu Á tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của các mặt hàng nông lâm thủy sản chính của Việt Nam, chiếm 45,5% thị phần. Châu Mỹ với 21,5% và châu Âu 13,4%. Cuối cùng là Châu Phi và châu Đại Dương chiếm 2,3% và 1,5%.
Trong đó, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn nhất đối với các mặt hàng nông, lâm, thủy sản chính của Việt Nam, chiếm 22,7% thị phần. Hoa Kỳ chiếm 19,1% và Nhật Bản chiếm 6,8%. Trong 8 tháng, giá trị xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 221%, Nhật Bản tăng 2%, trong khi Hoa Kỳ giảm 0,4%.

Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt gần 49,3 tỷ USD sau 8 tháng.
Trung Quốc cũng là thị trường nổi bật đối với nhiều mặt hàng. Xuất khẩu rau quả sang thị trường này tăng 33,1% trong 7 tháng đầu năm; thủy sản tăng 37,1%; hạt điều tăng 18,3%. Ngược lại, cao su xuất khẩu sang Trung Quốc giảm 20,3%, cho thấy diễn biến giữa các nhóm hàng vẫn có sự phân hóa rõ rệt.
Theo Bộ NN&MT, rau quả tiếp tục là một trong những điểm sáng của xuất khẩu nông, lâm, thủy sản. Tháng 8, kim ngạch xuất khẩu rau quả ước đạt 1,24 tỷ USD, đưa tổng giá trị 8 tháng lên 6,02 tỷ USD, tăng 24,9% so với cùng kỳ năm trước. Trung Quốc chiếm tới 58,9% thị phần, tiếp đến là Hoa Kỳ 7,6% và Hàn Quốc 4,2%.
Thủy sản cũng duy trì đà tăng trưởng tích cực với kim ngạch 8 tháng đạt 7,94 tỷ USD, tăng 10,9%. Riêng tháng 8 đạt khoảng 1,08 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường lớn nhất với 24% thị phần, tiếp đến là Hoa Kỳ 15,6% và Nhật Bản 13,7%.
Xuất khẩu hạt tiêu cũng duy trì đà tăng. Tháng 8/2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 21,2 nghìn tấn hạt tiêu, trị giá 138,6 triệu USD. Lũy kế 8 tháng năm 2026 đạt 190,1 nghìn tấn, trị giá 1,24 tỷ USD, tăng 14,5% về khối lượng và 9,6% về giá trị so với cùng kỳ năm trước.
Hoa Kỳ, Đức và Thái Lan là ba thị trường tiêu thụ hạt tiêu lớn nhất, với thị phần lần lượt 27,2%, 6,2% và 4,5%. Giá trị xuất khẩu sang Hoa Kỳ tăng 20,6%, Thái Lan tăng 64,4%, trong khi Đức giảm 17%.
Đối với hạt điều, tháng 8/2026 xuất khẩu ước đạt 61,9 nghìn tấn, trị giá 445,4 triệu USD. Tính chung 8 tháng, xuất khẩu đạt 474 nghìn tấn và 3,35 tỷ USD, giảm 1,7% về khối lượng nhưng tăng 2% về giá trị.
Trái với đà tăng của rau quả và thủy sản, cà phê và gạo chịu sức ép từ giá xuất khẩu giảm. Cà phê xuất khẩu đạt khoảng 1,3 triệu tấn, tăng 13,1% về lượng, nhưng kim ngạch giảm 9,1%, còn 6 tỷ USD. Giá xuất khẩu bình quân khoảng 4.538 USD mỗi tấn, giảm gần 20%.
Xuất khẩu gạo đạt khoảng 6 triệu tấn, trị giá 2,86 tỷ USD, lần lượt giảm 6,3% và 11,9%. Giá xuất khẩu bình quân giảm 6%, còn 480,9 USD mỗi tấn. Philippines tiếp tục là khách hàng lớn nhất, chiếm 43,2% thị phần. Kim ngạch sang thị trường này giảm 5,1%, trong khi xuất khẩu sang Trung Quốc tăng hơn 92%.
Một số mặt hàng khác cũng giảm. Xuất khẩu cao su đạt 1,86 tỷ USD, giảm 6,2%; chè đạt gần 143 triệu USD, giảm 2%; sắn và sản phẩm từ sắn đạt gần 837 triệu USD, giảm 2,5%./.