Trong bối cảnh thị trường xuất khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, chất lượng và minh bạch sản xuất, Đắk Lắk đang tăng tốc chuẩn hóa mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Việc số hóa không chỉ nhằm hoàn tất thủ tục cấp mã, mà còn đặt ra trong bài toán lớn hơn: tổ chức lại sản xuất, kiểm soát chất lượng và tạo nền tảng để nông sản chủ lực bước sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Trong hai ngày 11-12/8, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk, tổ chức chương trình truyền thông, hỗ trợ doanh nghiệp, HTX và người dân triển khai quy định về mã số vùng trồng (MSVT), mã số cơ sở đóng gói (MSCSĐG) phục vụ tiêu thụ và xuất khẩu nông sản.

Ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (thứ 3 từ trái sang), ông Đinh Văn Đang, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Đắk Lắk (thứ 2 từ trái sang) cùng đoàn công tác thăm, trao đổi với nông dân ngay tại vườn sầu riêng ở xã Cư Mgar, hướng dẫn chuẩn hóa quy trình sản xuất, truy xuất nguồn gốc và duy trì mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu.
Chương trình tập trung nâng cao năng lực cho hệ thống khuyến nông trong triển khai MSVT, MSCSĐG gắn với quy trình thao tác chuẩn (SOP) sản xuất sầu riêng phục vụ xuất khẩu. Đây cũng là dịp hướng dẫn doanh nghiệp, HTX và nông dân đăng ký, quản lý, duy trì mã số; hoàn thiện hồ sơ truy xuất nguồn gốc và tổ chức sản xuất theo yêu cầu thị trường.
Mã số vùng trồng không chỉ là một thủ tục
Điểm đáng chú ý của chương trình là hoạt động diễn ra ngay sau khi Nghị quyết 36 có hiệu lực, với nhiều quy định được điều chỉnh theo hướng đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian xử lý và phân cấp việc cấp MSVT cho Chủ tịch UBND cấp xã.

Bà Đặng Thị Thủy, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk, trao đổi về xây dựng chuỗi giá trị sầu riêng theo hướng minh bạch, an toàn và bền vững.
Theo bà Đặng Thị Thủy, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk, việc tháo gỡ những điểm nghẽn trong quy định về MSVT là bước chuyển quan trọng, giúp trách nhiệm quản lý được đặt gần hơn với địa bàn sản xuất và người trực tiếp canh tác.
Bà Thủy cho rằng, trước đây lực lượng chuyên môn cấp tỉnh khó có thể đáp ứng khối lượng công việc khi phải quản lý diện tích sản xuất rất lớn và hệ thống xã, phường ngày càng rộng. Vì vậy, việc phân cấp, cùng với sự vào cuộc của khuyến nông cấp xã sẽ giúp đưa chính sách xuống cơ sở nhanh và thực chất hơn.



Đại biểu tham dự chương trình tập huấn trong triển khai mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói phục vụ tiêu thụ và xuất khẩu nông sản.
“Càng minh bạch càng khẳng định được vị thế của ngành Trồng trọt”, bà Thủy nhấn mạnh, đồng thời cho rằng, MSVT phải được nhìn nhận như một mắt xích trong toàn bộ chuỗi sản xuất. Có mã số nhưng không duy trì được quy trình sản xuất, hồ sơ truy xuất và chất lượng thì giá trị của mã số cũng không bền vững.
Từ góc nhìn này, Đắk Lắk đang triển khai chiến dịch cao điểm “30 ngày đêm” số hóa, chuẩn hóa và cập nhật dữ liệu MSVT. Từ ngày 7/8 đến 7/9, địa phương tập trung trước mắt vào khoảng 41.000 ha sầu riêng, sau đó mở rộng số hóa khoảng 217.000 ha cà phê cùng các cây trồng chủ lực như mắc ca, ca cao, chanh leo và hơn 2.400 nhà yến. Mục tiêu không dừng ở việc “có mã”, mà hướng đến hình thành hệ thống dữ liệu sản xuất minh bạch, có thể truy xuất và quản lý xuyên suốt từ vùng nguyên liệu đến cơ sở đóng gói, tiêu thụ.

Ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, nhấn mạnh vai trò “cầm tay chỉ việc” của khuyến nông trong đưa mã số vùng trồng đến tận nông hộ.
Ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, cho rằng, việc đăng ký MSVT trên Cổng Dịch vụ công là bước tiến quan trọng, nhưng hiệu quả cuối cùng phụ thuộc vào khả năng thực thi ở cơ sở.
Theo ông Thanh, nếu người dân chưa thành thạo công nghệ, chưa hiểu quy trình hoặc không biết phải chuẩn bị hồ sơ như thế nào thì việc chuyển thủ tục lên môi trường số vẫn có thể trở thành rào cản. Vì vậy, khuyến nông phải là lực lượng “cầm tay chỉ việc”, giúp nông dân thao tác từng bước và duy trì mã số sau khi được cấp.

Trung tâm Khuyến nông Quốc gia trao tặng tài liệu “Hướng dẫn đăng ký, thực hiện và duy trì mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói" theo Nghị định số 38/2026/NĐ-CP và Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP” phục vụ công tác đào tạo, tập huấn và hướng dẫn thực hành cho cán bộ khuyến nông các cấp, đồng thời là tài liệu tham khảo hữu ích cho cán bộ Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan chuyên môn, hợp tác xã, doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân liên quan.
“Có MSVT mới chỉ là điều kiện ban đầu. Muốn đưa sầu riêng vào thị trường xuất khẩu, nông dân còn phải tổ chức sản xuất theo quy trình, kiểm soát chất lượng, liên kết với doanh nghiệp và hình thành chuỗi sản xuất ổn định”, ông Thanh nhấn mạnh.
“30 ngày đêm” số hóa, nhưng phải giữ được giá trị sau mã số
Thực tế tại Đắk Lắk cho thấy, thách thức lớn nhất không chỉ nằm ở tốc độ cấp MSVT mà còn ở việc duy trì và quản lý mã số lâu dài. Đây là lý do lực lượng khuyến nông cấp xã và Tổ khuyến nông cộng đồng được xác định là “cánh tay nối dài” tại vùng sản xuất.

Cán bộ khuyến nông hướng dẫn kiểm soát rủi ro trên toàn chuỗi giá trị sầu riêng xuất khẩu, từ sản xuất, thu gom, đóng gói đến vận chuyển và tiêu thụ.
Theo ông Lê Quốc Thanh, khuyến nông cơ sở phải thành thạo từ đăng ký MSVT trên hệ thống dịch vụ công, hướng dẫn hồ sơ, quy trình sản xuất đến cập nhật những yêu cầu mới của từng thị trường. Khi nông dân muốn đưa sản phẩm vào một thị trường cụ thể, cán bộ khuyến nông phải biết thị trường đó yêu cầu gì và hướng dẫn người dân đáp ứng từ đầu.


Cán bộ, chuyên gia và đại biểu trao đổi sôi nổi về những điểm nghẽn trong sản xuất, truy xuất nguồn gốc và quản lý mã số vùng trồng.
Đồng quan điểm, bà Thủy cho rằng, khi trách nhiệm được phân cấp về cơ sở, cán bộ khuyến nông xã càng phải nâng cao năng lực, đồng hành thường xuyên với nông dân. Đây cũng là điều kiện để chính quyền địa phương kiểm soát tốt hơn vùng sản xuất và giảm nguy cơ phát sinh sai phạm liên quan đến mã số.
Ông Nguyễn Cừ, nông dân trồng sầu riêng tại xã Krông Pắc chia sẻ, trước đây việc tiếp cận các thủ tục liên quan đến mã số còn khá khó khăn, nhất là đối với người lớn tuổi, ít sử dụng điện thoại thông minh. Nếu cán bộ khuyến nông trực tiếp hướng dẫn từng bước, việc kê khai và hoàn thiện hồ sơ sẽ thuận lợi hơn rất nhiều.

Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia Lê Quốc Thanh trao đổi về sự hợp tác trong công tác khuyến nông với Công ty Chánh Thu Group tại cơ sở sơ chế, đóng gói sầu riêng xuất khẩu của đơn vị, hướng tới một chuỗi sản xuất minh bạch.
Còn bà Hồ Thị Hoa, đại diện hộ sản xuất khác tại xã Ea Bá cho rằng, điều người trồng sầu riêng cần nhất không chỉ là được cấp mã số mà còn được hướng dẫn cách duy trì mã, ghi chép nhật ký sản xuất, sử dụng vật tư đúng quy định và đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp thu mua. Khi vùng trồng được quản lý chặt, nông dân cũng có thêm cơ sở để nâng chất lượng và bảo vệ đầu ra.
Theo lãnh đạo Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, thời gian tới, đơn vị sẽ tăng cường tập huấn cho lực lượng khuyến nông xã, khuyến nông cộng đồng và các thành phần liên quan trong chuỗi sản xuất. Mục tiêu là thống nhất cách hiểu, cách làm và biến các quy định thành thao tác cụ thể tại vùng trồng.

Lãnh đạo Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cùng lãnh đạo sở, ngành, các học viên tham gia chương trình tập huấn tại cơ sở sơ chế, đóng gói sầu riêng xuất khẩu của Công ty Chánh Thu Group.
Ông Thanh khẳng định, đây là thời điểm khuyến nông phải chuyển mạnh từ tuyên truyền sang hành động. Người làm khuyến nông không chỉ truyền đạt chính sách mà phải đủ kiến thức, kỹ năng và khả năng kết nối để hỗ trợ nông dân tổ chức sản xuất, “mua chung, bán chung”, liên kết thành chuỗi và tiếp cận doanh nghiệp.
Đây cũng là bước khởi đầu trong chuỗi hành động của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia với lực lượng khuyến nông của các địa phương với mong muốn là đưa ngay được tất cả các quyết định, các nghị định, các văn bản chỉ đạo của Chính phủ vào thực tiễn sản xuất và trực tiếp là người nông dân phải là người được hưởng những chủ trương, chính sách của Đảng, của Nhà nước.
Với Đắk Lắk, chiến dịch “30 ngày đêm” vì thế không đơn thuần là cuộc chạy đua hoàn thiện dữ liệu MSVT. Xa hơn, đây là bước tái cấu trúc phương thức quản lý vùng nguyên liệu, lấy dữ liệu và truy xuất nguồn gốc làm nền tảng để nâng chất lượng nông sản. Khi mỗi vùng trồng được định danh, mỗi cơ sở đóng gói được kiểm soát và từng quy trình sản xuất được chuẩn hóa, nông sản Đắk Lắk sẽ có thêm tấm “hộ chiếu” đáng tin cậy để bước vào thị trường trong nước và quốc tế./.
Nguồn: DƯƠNG HÙNG/kinhtenongthon.vn