
Bưởi là mặt hàng cây ăn trái có thế mạnh, diện tích ngày càng được mở rộng, từ 50.000ha (năm 2015) tăng lên hơn 100.000ha (năm 2025), tập trung tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), Đồng bằng sông Hồng và vùng Trung du miền núi phía Bắc; sản lượng đạt gần 1 triệu tấn/năm.
Riêng ĐBSCL, vùng trọng điểm bưởi da xanh có khoảng 32.000ha với sản lượng khoảng 370.000 tấn.
Các giống bưởi đặc sản như bưởi Diễn, bưởi Phúc Trạch, bưởi Đoan Hùng, bưởi Năm Roi, bưởi da xanh... có năng suất cao, chất lượng tốt, được thị trường trong và ngoài nước đánh giá cao.

Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), bưởi Việt Nam được xuất khẩu sang 14 quốc gia, trong đó có nhiều thị trường khó tính, yêu cầu tiêu chuẩn, chất lượng rất cao như Hoa Kỳ, Australia, New Zealand...
Đặc biệt, ngày 15/4 vừa qua, Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Tổng cục Hải quan Trung Quốc đã ký Nghị định thư yêu cầu kiểm dịch thực vật đối với quả bưởi và chanh tươi Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc.
Ông Nguyễn Quang Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cho biết, nhu cầu nhập khẩu bưởi của Trung Quốc gia tăng trong những năm gần đây. Nguồn cung bưởi lớn nhất cho Trung Quốc hiện nay gồm Lào, Thái Lan, Đài Loan, Israel...
Dù vậy, chanh và bưởi Việt Nam vẫn có lợi thế về hương vị, chất lượng và chi phí logistics do gần thị trường Trung Quốc.
Trước đó, ngày 13/4/2026, tại Vĩnh Long, lô bưởi da xanh đầu tiên của Việt Nam chính thức xuất khẩu sang Australia sau hơn hai năm đàm phán kỹ thuật và đáp ứng các yêu cầu kiểm dịch nghiêm ngặt. Đây là loại trái cây thứ sáu của Việt Nam vào thị trường này. Bưởi Việt Nam được đánh giá có lợi thế cạnh tranh so với sản phẩm từ các thị trường: Hoa Kỳ, Israel, Tây Ban Nha, New Zealand nhờ nguồn cung ổn định, vị ngọt thanh và mẫu mã hấp dẫn.

Bên cạnh lợi thế, ngành bưởi đang đứng trước nguy cơ tương tự sầu riêng khi diện tích tăng nhanh những năm gần đây. Nguồn cung lớn khiến giá trong nước ở mức thấp, tạo áp lực tìm kiếm thị trường xuất khẩu.
Theo các chuyên gia, để trở thành ngành hàng xuất khẩu tỷ đô, bưởi Việt Nam cần chiến lược dài hạn thay vì chỉ tận dụng cơ hội ngắn hạn.
Các HTX, người nông dân cần thay đổi từ tư duy sản xuất nông nghiệp (chú trọng số lượng) sang kinh tế nông nghiệp (chú trọng chất lượng, giá trị gia tăng, thị trường). Muốn thế, cần tập trung ứng dụng công nghệ cao, sản xuất an toàn, bền vững, và hình thành liên kết chuỗi giá trị.

Lãnh đạo Hội Làm vườn Việt Nam thăm vườn bưởi trồng theo tiêu chuẩn VietGAP ở thôn Phú Yên, xã Yên Bài (Ba Vì - Hà Nội).
Để tiến xa hơn, ngành bưởi cần tập trung vào ba giải pháp chính: Kiểm soát chặt mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói, đảm bảo tính minh bạch và khả năng kiểm tra thực tế; Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, giảm phụ thuộc vào một thị trường duy nhất; Đẩy mạnh chế biến sâu, nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm.
Là người trực tiếp sản xuất, ông Lê Văn Dương (xã Long Khánh, tỉnh Đồng Tháp) cho biết, trước đây gia đình sản xuất theo truyền thống nên thường rơi vào cảnh “được mùa, mất giá”. “Khi chuyển sang sản xuất theo hướng hữu cơ, liên kết với HTX, chúng tôi được hướng dẫn kỹ thuật, đầu ra ổn định hơn. Thu nhập vì thế cũng cải thiện rõ rệt”, ông Dương nói.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Hồ Hoàng Kha, Giám đốc HTX bưởi da xanh Sông Xoài (TP. Hồ Chí Minh), cho biết, sau khi phải tạm dừng xuất sang Hoa Kỳ do không đảm bảo sản lượng và chất lượng, nhờ tổ chức lại sản xuất và liên kết chặt chẽ, năm 2026 HTX dự kiến xuất khẩu khoảng 5.000 tấn.


Ảnh: vnexpress.net
Ông Kha cũng thẳng thắn nhìn nhận, để mô hình phát triển bền vững và có thể nhân rộng, vẫn cần nhiều điều kiện hỗ trợ. Việc đào tạo kỹ thuật, hỗ trợ vốn, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường là những yếu tố then chốt. Bên cạnh đó, việc duy trì ổn định các đơn hàng xuất khẩu, đảm bảo sản lượng và chất lượng đồng đều cũng là thách thức không nhỏ. Sự phối hợp chặt chẽ giữa nông dân, HTX và doanh nghiệp trong toàn bộ chuỗi giá trị đóng vai trò quan trọng.
Ông Ngô Xuân Chinh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp (Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam), chia sẻ, việc tổ chức lại sản xuất theo hướng chuẩn hóa, kiểm soát dịch hại, quản lý dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và đảm bảo truy xuất nguồn gốc là yêu cầu bắt buộc để đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Đây là bước tiến quan trọng, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho xuất khẩu chính ngạch, đồng thời mở ra cơ hội nâng cao giá trị ngành hàng.
.jpg)
Ông Lê Chí Thiện, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp cho rằng, để phát triển bền vững ngành hàng trái cây, nhất là bưởi, ngành Nông nghiệp tỉnh đã tổ chức lại sản xuất theo hướng tập trung, đồng bộ; quản lý chặt chẽ mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, bảo đảm đáp ứng các yêu cầu của thị trường nhập khẩu; đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật, nâng cao chất lượng, an toàn thực phẩm và khả năng truy xuất nguồn gốc, từ đó nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm…
Việc áp dụng tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP cùng với quy trình sản xuất sạch đã giúp nâng giá trị trái bưởi thêm 5.000-10.000 đồng/kg. Quan trọng hơn, nó tạo nền tảng để trái bưởi ĐBSCL không còn là sản vật địa phương mà trở thành sản phẩm hàng hóa có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Thực tế, để có những thành công như lô bưởi sang Australia hay Trung Quốc không chỉ là hiện tượng đơn lẻ, việc hình thành các chuỗi giá trị có sự liên kết chặt chẽ giữa “bốn nhà” là yêu cầu sống còn. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, định hướng quy hoạch, ban hành cơ chế chính sách, hỗ trợ vốn, kỹ thuật và kiểm soát chất lượng và tạo môi trường pháp lý.

Bưởi là loại trái cây thứ 6 của Việt Nam mở cửa thành công sang thị trường Australia. Ảnh: Báo Nông nghiệp và Môi trường.
Nhà khoa học chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, công nghệ nuôi cấy mô, giống chất lượng cao và quy trình canh tác đạt chuẩn.
Nhà doanh nghiệp đầu tư vật tư đầu vào, thu mua, chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Cuối cùng, nhà nông là người trực tiếp sản xuất, tuân thủ quy trình kỹ thuật để cung ứng nguồn nguyên liệu đồng đều, chất lượng.
Nói một cách dễ hiểu, chuỗi liên kết này là mô hình khép kín từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm, giúp chuẩn hóa chất lượng, giảm rủi ro và tăng thu nhập, đây được coi là chiến lược cốt lõi cho nông nghiệp bền vững. Mô hình này sẽ giúp người nông dân liên kết với HTX, doanh nghiệp để tạo vùng nguyên liệu lớn, đồng nhất về chất lượng và tuân thủ quy trình sản xuất (hữu cơ, VietGAP, GlobalGAP), giúp người nông dân có nguồn thu nhập ổn định, nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản.
.jpg)
Các chuyên gia chỉ ra rằng, để có ngành hàng phát triển bền vững, trước hết công tác quy hoạch vùng sản xuất phải gắn với thị trường dài hạn, cùng với đó là quy hoạch hạ tầng để giảm chi phí vận chuyển, cả chi phí logistics. Thứ hai, công nghệ sinh học, nhất là công nghệ giống, cần được đầu tư nhiều hơn; phải tổ chức lại sản xuất theo chuỗi, đề cao chất lượng cùng với nâng cao năng suất để hạ giá thành. Thứ ba, sản phẩm phải đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và truy xuất được nguồn gốc…
Trong bối cảnh thế giới ngày càng coi trọng an toàn thực phẩm và tiêu chuẩn môi trường, việc tuân thủ đầy đủ quy trình kiểm dịch, chiếu xạ, bảo quản, truy xuất là “tấm hộ chiếu” bắt buộc cho mọi nông sản muốn chinh phục những thị trường phát triển. Đây được xem là hướng đi bắt buộc trong bối cảnh tiêu chuẩn xanh, phát thải thấp và truy xuất nguồn gốc đã trở thành yêu cầu bắt buộc của thị trường toàn cầu.
Do vậy, cơ quan chuyên môn tại các địa phương cần triển khai tập huấn, phổ biến các quy định về kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm; hướng dẫn thiết lập và cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói trái bưởi xuất khẩu…
Cùng với đó, trước khi xuất khẩu, doanh nghiệp phải thực hiện các biện pháp kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt để phù hợp với tiêu chuẩn thị trường; do đặc điểm mùa vụ của sản phẩm như trái cây, rau quả, việc phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý là rất cần thiết để duy trì nguồn cung ổn định.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Đình Tùng, Tổng giám đốc Vina T&T Group, chia sẻ, doanh nghiệp phải quản lý chặt mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói, vì chỉ một sai sót nhỏ về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật có thể làm mất uy tín cả ngành hàng.
Thay vì xuất hàng thô, doanh nghiệp cần đầu tư vào bao bì, nhãn mác đúng chuẩn và xây dựng câu chuyện sản phẩm để người tiêu dùng nhận diện được “đây là nông sản Việt Nam chất lượng cao”.
Ông Võ Quan Huy, Giám đốc Công ty Huy Long An, cho rằng, hoạt động xuất khẩu chanh, bưởi sang Trung Quốc khó khăn lớn hiện nay không nằm ở quy định hay tổ chức thực hiện, mà là năng lực cán bộ cơ sở và ý thức tuân thủ của người sản xuất. Ông kiến nghị Bộ tiếp tục tập huấn cho cán bộ cấp xã, phối hợp chặt với chi cục chuyên ngành để đẩy nhanh thủ tục cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói. Đồng thời, cần giao chỉ tiêu phát triển mã số vùng trồng cho từng địa phương gắn với diện tích canh tác thực tế.
“Phải nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực kỹ thuật của đội ngũ làm quản lý ở địa phương; khơi dậy tinh thần gắn kết giữa doanh nghiệp thu mua, HTX, doanh nghiệp sản xuất và bà con nông dân. Khi các bên thực sự đồng hành, cùng chia sẻ lợi ích và trách nhiệm thì những vướng mắc hiện nay sẽ từng bước được tháo gỡ. Cần có chủ trương phát triển những chuỗi liên kết thực chất, tức là liên kết thật, hợp tác thật”, ông Huy nói.
Theo Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Chánh Thu - Ngô Tường Vy, một trong những yêu cầu đáng chú ý của Nghị định thư mới là toàn bộ trái bưởi xuất khẩu phải được bao trái nhằm hạn chế sâu bệnh và giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Đây là yêu cầu quan trọng để đáp ứng tiêu chuẩn kiểm dịch và nâng cao chất lượng sản phẩm.


.jpg)
Ảnh: Báo Nông nghiệp và Môi trường; Báo Dân Việt
.jpg)
Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam Đặng Phúc Nguyên cho rằng, vấn đề then chốt hiện nay là phải kiểm soát tốt chất lượng sản phẩm, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và tuân thủ đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật của Nghị định thư ký với Trung Quốc. Những vùng trồng có năng suất thấp hoặc chất lượng chưa ổn định cần tiếp tục cải tạo và điều chỉnh quy trình canh tác để đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.
Nhiều năm qua, việc quản lý mã số vùng trồng thường bị xem là thiếu hành lang pháp lý đủ mạnh, dẫn tới tình trạng triển khai thiếu đồng bộ giữa các địa phương.
Trao đổi với các địa phương, doanh nghiệp, Thứ trưởng Hoàng Trung nhấn mạnh hai nhiệm vụ trọng tâm là triển khai Nghị định thư xuất khẩu chanh, bưởi sang Trung Quốc và thực hiện Nghị định số 38/2026/NĐ-CP về quản lý mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói. Các yêu cầu kỹ thuật về vùng trồng, cơ sở đóng gói, kiểm soát sinh vật gây hại, bao bì, nhãn mác đã được phổ biến đầy đủ để địa phương, doanh nghiệp triển khai thống nhất.
Theo Thứ trưởng Hoàng Trung, Nghị định 38 là hành lang pháp lý quan trọng nhằm siết chặt việc cấp, quản lý mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói, lĩnh vực đang phát sinh nhiều sai phạm. Dù đã phân cấp cho địa phương, diện tích được cấp mã số hiện vẫn thấp, đặc biệt ở các ngành hàng xuất khẩu lớn, dẫn tới tình trạng gian lận, sử dụng mã số sai quy định, ảnh hưởng uy tín nông sản Việt.


Ảnh: Thanh Sơn.
Hiện nay, diện tích bưởi được cấp mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu sang Trung Quốc còn khá thấp. Nhiều mã số trước đây chỉ phục vụ các thị trường khác và chưa cập nhật theo yêu cầu mới của phía Trung Quốc.
Trước thực trạng này, Thứ trưởng Hoàng Trung yêu cầu Sở Nông nghiệp và Môi trường, chi cục chuyên môn các địa phương hoàn tất việc rà soát, cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói đối với bưởi và chanh trước ngày 30/5/2026.
Truy xuất nguồn gốc đã trở thành yêu cầu bắt buộc của nhiều thị trường nhập khẩu lớn, trong đó có Trung Quốc, EU và Hoa Kỳ. Lãnh đạo Bộ cho rằng, việc mở cửa thị trường chỉ là bước khởi đầu, còn duy trì ổn định và phát triển bền vững mới là bài toán lâu dài của ngành Nông nghiệp và Môi trường.
Với Nghị định 38 cùng các Nghị định thư xuất khẩu mới, ngành Nông nghiệp và Môi trường đang từng bước hoàn thiện chuỗi sản xuất - đóng gói - truy xuất nguồn gốc theo hướng chuyên nghiệp và minh bạch hơn, qua đó tạo nền tảng để trái cây Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu trong thời gian tới.