Theo các chuyên gia, trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động nhanh và yêu cầu thị trường ngày càng khắt khe, ngành Nông nghiệp và Môi trường cần sớm có giải pháp tháo gỡ những điểm nghẽn; tập trung đầu tư chế biến sâu, chuẩn hóa chuỗi giá trị và mở rộng thị trường xuất khẩu nông - lâm - thuỷ sản.
Đây được xem là bước đi chiến lược để ngành hiện thực hóa mục tiêu xuất khẩu 73 - 75 tỷ USD năm 2026, tiến tới chinh phục mốc 100 tỷ USD vào năm 2030.



Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho biết, trong 40 năm đổi mới, nhất là từ khi triển khai và thể chế hóa Nghị quyết Trung ương 7 khóa X và Nghị quyết Trung ương 5 khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành và chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương triển khai đồng bộ các chương trình, đề án và cơ chế chính sách quan trọng. Nổi bật là Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và Đề án Tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
Nhờ đó, nông nghiệp được cơ cấu lại và phát triển theo hướng sinh thái, nâng cao giá trị gia tăng, duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao; thị trường tiêu thụ được mở rộng, kim ngạch xuất khẩu nông - lâm - thủy sản liên tục tăng qua các năm, nông sản Việt Nam có mặt ở gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Hiện nay, nông nghiệp Việt Nam còn nhiều dư địa để phát triển, đặc biệt là phát triển các sản phẩm chế biến, các sản phẩm có giá trị gia tăng cao và các sản phẩm ứng dụng công nghệ cao.

Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản liên tục tăng qua các năm, nông sản Việt Nam có mặt ở trên 196 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Cùng với đó, cơ chế chính sách và khung pháp lý ngày càng được hoàn thiện, thu hút, tạo động lực cho đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Các chính sách được ban hành đang phát huy hiệu quả trong huy động nguồn lực cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn; hỗ trợ người dân phát triển sản xuất kinh doanh; tạo động lực cho phát triển sản xuất nông nghiệp tập trung, quy mô lớn, xúc tiến thương mại, mở cửa thị trường, thúc đẩy xuất khẩu.
Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu của nông - lâm - thuỷ sản đạt con số kỉ lục - 70,09 tỷ USD, vượt xa kế hoạch đề ra 65 tỷ USD, trong điều kiện rất khó khăn khi thiên tai mưa lũ vượt mốc lịch sử gây thiệt hại nặng nề về kinh tế với con số “khủng” khoảng 107-108 nghìn tỷ đồng, vượt xa mức thiệt hại năm 2024 là 84-85 nghìn tỷ đồng.


Thứ trưởng Phùng Đức Tiến tự hào nói: “Năm 2025, nông nghiệp đã làm nên thành tựu to lớn rất đáng tự hào, chúng ta phá kỷ lục về xuất khẩu, xuất siêu khoảng 20,72 tỷ USD, tăng 17% so với 2024.”
Ông Trần Gia Long, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính, cho biết, tốc độ tăng trưởng GDP toàn ngành trong 3 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3,5 - 3,7%. Giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản đạt 8,93 tỷ USD, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm ngoái; giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt 197,7 triệu USD, tăng 54,3%; giá trị xuất khẩu thủy sản đạt 2,62 tỷ USD, tăng 13,3%; giá trị xuất khẩu lâm sản đạt 4,11 tỷ USD, giảm 2,4%; giá trị xuất khẩu đầu vào sản xuất đạt 834,3 triệu USD, tăng 56,7%; giá trị xuất khẩu muối đạt 3,3 triệu USD, tăng 31,7%.
Ngành rau quả Việt Nam ghi nhận đà tăng trưởng ấn tượng, với kim ngạch xuất khẩu ước đạt gần 1,53 tỷ USD, tăng 31,4%. Trung bình mỗi tháng, giá trị xuất khẩu đạt khoảng 500 triệu USD, cho thấy xu hướng phục hồi và mở rộng thị trường diễn ra tích cực.
Trung Quốc tiếp tục là thị trường xuất khẩu rau quả lớn nhất, chiếm 50,97% tổng kim ngạch trong quý I, tăng 44,73%.



Một trong những vấn đề nổi cộm được Thứ trưởng chỉ ra là sự thiếu hụt nguồn vốn đầu tư. Theo yêu cầu của Nghị quyết Trung ương 19, đầu tư cho nông nghiệp cần tăng gấp đôi trong vòng 10 năm. Tuy nhiên, giai đoạn 2021 - 2025 mới chỉ đạt hơn 70% kế hoạch đề ra.
Áp lực càng lớn hơn khi bước sang giai đoạn 2026 - 2030, nhu cầu vốn lên tới 186.500 tỷ đồng nhưng hiện mới cân đối được khoảng 127.000 tỷ đồng và thậm chí còn có nguy cơ bị cắt giảm.
Không chỉ thiếu vốn, hệ thống hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp cũng bộc lộ nhiều bất cập. Thứ trưởng dẫn chứng tình trạng sạt lở tại miền núi, ngập lụt ở Đồng bằng sông Hồng, hạn hán tại miền Trung hay sạt lở nghiêm trọng ở ĐBSCL, tất cả cho thấy hệ thống thủy lợi và hạ tầng hiện nay chưa đủ sức ứng phó với biến đổi khí hậu ngày càng cực đoan. Chưa kể, hạ tầng cho phát triển thủy sản, nuôi biển hay chế biến cũng còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, làm giảm đáng kể sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam so với các nước trong khu vực.
Đặc biệt, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhấn mạnh đến rào cản thủ tục hành chính. Có dự án vay vốn phải mất nhiều năm mới hoàn tất các thủ tục phê duyệt, chủ yếu do quy trình phức tạp giữa các bộ, ngành.
Ông Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, các tiêu chuẩn ngày càng cao và khắt khe tại những thị trường cao cấp như EU hay Bắc Mỹ đang buộc doanh nghiệp phải thay đổi toàn diện phương thức sản xuất. Chuyển đổi số giúp minh bạch hóa chuỗi cung ứng, từ vùng trồng, vùng nuôi đến khâu chế biến và phân phối. Việc ứng dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc, dữ liệu lớn hay AI không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý, mà còn tạo niềm tin với người tiêu dùng.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy quá trình chuyển đổi này vẫn còn manh mún. Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa đủ nguồn lực để đầu tư công nghệ, trong khi nông dân vẫn sản xuất theo tập quán truyền thống.
Ông Trương Sỹ Bá, Chủ tịch Tập đoàn Tân Long cho rằng, chi phí chuyển đổi đang là rào cản lớn nhất. Để đáp ứng tiêu chuẩn xanh, doanh nghiệp phải đầu tư từ giống, quy trình sản xuất đến hệ thống chế biến và logistics. Nếu không có chính sách hỗ trợ về tín dụng và thuế thì rất khó để mở rộng quy mô.
Thị trường EU chiếm gần 12% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đang ngày càng siết chặt các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, kiểm dịch và truy xuất nguồn gốc. Đặc biệt, khi EU đưa ra các quy định mới về kiểm dịch động thực vật (SPS) đối với thực phẩm nhập khẩu.
Ngoài thủy sản, nhiều mặt hàng nông sản khác cũng gặp khó khăn khi xuất khẩu sang EU do tần suất kiểm tra cao, dao động từ 20-50%. Các sản phẩm như thanh long, đậu bắp, ớt, cùng một số loại gia vị khác đang chịu sự giám sát chặt chẽ.
Đối với ngành rau quả, theo Hiệp hội Rau quả Việt Nam, xuất khẩu rau quả gặp khó khăn do Hoa Kỳ, EU và Đài Loan (Trung Quốc) siết chặt kiểm tra dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Trong khi đó, nhu cầu từ Trung Quốc suy giảm do các quy định kiểm dịch nghiêm ngặt hơn, gây ảnh hưởng nặng nề đến ngành rau quả.
Bên cạnh đó, cần phải nhìn nhận sự hạn chế ngay chính từ nội tại ngành hàng. Theo ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Làm vườn Việt Nam, ngành vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục như chất lượng sản phẩm chưa ổn định, hệ thống truy xuất nguồn gốc chưa hoàn chỉnh, công tác quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và hoạt động kiểm tra, giám định còn bất cập, ảnh hưởng đến xuất khẩu, đặc biệt tại thị trường Trung Quốc…
Ngoài ra, còn phải kể đến năng suất lao động trong nông nghiệp thấp so với các ngành khác. Lao động nông nghiệp đang giảm dần về số lượng, khiến tăng trưởng của ngành ngày càng phụ thuộc vào vốn đầu tư và tiến bộ khoa học công nghệ.
Các yếu tố bên ngoài như biến đổi khí hậu, rủi ro địa chính trị hay chi phí logistics cao cũng tác động mạnh đến hoạt động sản xuất và xuất khẩu nông sản. Chi phí logistics hiện chiếm khoảng 20–25% giá thành nông sản, cao hơn nhiều so với mức trung bình của nền kinh tế, làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm.

Việt Nam đã trở thành “mắt xích” quan trọng trong chuỗi giá trị nông sản toàn cầu. Những nỗ lực áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế như GlobalGAP, HACCP, Organic... giúp nông sản Việt chinh phục thành công nhiều thị trường khó tính, với kim ngạch xuất khẩu ngày càng cao.
Không ít doanh nghiệp lớn đã dẫn dắt, hình thành các chuỗi liên kết từ đồng ruộng đến bàn ăn thế giới, biến nông sản Việt từ “cái tên” thành “thương hiệu” trên thị trường quốc tế, chẳng hạn như chuỗi cà phê của Vinacafe, chuỗi thanh long Bình Thuận...
Theo ông Nguyễn Đình Tùng, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Vina T&T Group, chìa khóa để nâng vị thế nông sản Việt không chỉ nằm ở sản lượng mà ở tư duy dẫn dắt thị trường. Doanh nghiệp muốn dẫn dắt chuỗi giá trị cần chủ động phân tích thị trường từng tuần, từng thị trường; xây dựng hợp đồng dài hạn với nông dân; hỗ trợ kỹ thuật, đầu tư giống, vật tư và quan trọng nhất là tạo niềm tin bằng cam kết tiêu thụ ổn định.
“Khi doanh nghiệp đóng vai trò “nhạc trưởng”, tín hiệu thị trường được truyền xuống vùng trồng, nông dân sản xuất theo đơn hàng, tránh dư thừa cục bộ và giảm rủi ro rớt giá theo mùa vụ. Đây cũng là cách duy nhất để nông sản Việt chuyển từ cạnh tranh bằng giá sang cạnh tranh bằng chất lượng và tiêu chuẩn”, ông Tùng nhấn mạnh.
Để nâng giá trị cho nông sản, ông Nguyễn Văn Toàn Cơ, sáng lập và Tổng giám đốc Công ty cổ phần Giải pháp Công nghệ Felix (FELIXTECH), cho rằng, cần đẩy nhanh chuyển đổi số nông nghiệp, đặc biệt là chuẩn hóa mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc toàn diện, kết nối thương mại điện tử - logistics - thanh toán - tài chính. Đồng thời, cần đầu tư mạnh vào trung tâm chế biến hiện đại tại vùng nguyên liệu và phát triển công nghệ sau thu hoạch nhằm nâng giá trị xuất khẩu.

Khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng công nghệ đẩy mạnh chế biến và chế biến sâu là “chìa khóa” để Đồng Tháp khai thác tốt chuỗi giá trị ngành hàng xoài.
Theo ông Trần Văn Lật, Chủ tịch HĐQT Công ty CP phát triển thuỷ sản Lộc Kim Chi, sức ép thuế đối ứng của Hoa Kỳ (20%), ảnh hưởng địa chính trị toàn cầu với những diễn biến hết sức khó lường đang là áp lực rất lớn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam. Và đó chính là một trong những lý do bắt buộc các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thuỷ sản phải thay đổi tư duy, “tìm lối đi riêng” thông qua việc liên kết sâu rộng với các đối tác ở nước ngoài, bằng nhiều hình thức khác nhau để tìm kiếm đơn hàng.
“Doanh nghiệp sẽ không còn cách nào khác ngoài việc chủ động tìm kiếm khách hàng ở các thị trường khác nhau để tồn tại. Tuy nhiên, đây là một vấn đề nan giải nếu không có sự đồng hành của các cơ quan Nhà nước. Trong đó, những chính sách của Nhà nước về phát triển hạ tầng, đối thoại, kết nối và xúc tiến thương mại sẽ là “đòn bẩy” để doanh nghiệp vượt qua khó khăn trong bối cảnh hiện nay. Quan trọng hơn, việc này không chỉ giúp cho các doanh nghiệp và ngành thuỷ sản phát triển ổn định, mà còn tạo động lực, hỗ trợ cho cả nền kinh tế trước những biến động khó lường như hiện nay”, ông Lật nói.
Trong ngành gỗ, theo ông Lê Mạnh, Chủ tịch HĐQT Công ty Leglor, việc chênh lệch thuế đối ứng giữa Việt Nam (20%) với các đối thủ như: Indonesia, Malaysia (19%), mặc dù không đáng kể. Song, về lâu dài, các doanh nghiệp lớn, đặc biệt là những doanh nghiệp có quy mô bài bản, đầu tư dây chuyền công nghệ hiện đại, có số lượng lao động lớn và đang phải duy trì đơn hàng phải hết sức chú ý. Trong đó, điều kiện tiên quyết là cần phải có kế hoạch cụ thể, rõ ràng để đàm phán linh hoạt, nếu không rủi ro sẽ rất cao.
Ông Phan Minh Thông, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn Phúc Sinh (Phuc Sinh Group) cho biết, năm 2025, doanh thu của doanh nghiệp đạt khoảng 350 triệu USD, tăng hơn 20% so với năm 2024. Riêng xuất khẩu cà phê tại thị trường châu Á tăng trưởng trên 22%, tiếp tục là động lực quan trọng trong cơ cấu kinh doanh.
Năm 2026, bối cảnh được dự báo khó khăn hơn khi thị trường toàn cầu biến động liên tục, nhu cầu tiêu dùng thay đổi nhanh, chi phí logistics và rào cản kỹ thuật gia tăng. Trước áp lực đó, Phúc Sinh xác định yếu tố cốt lõi là nâng cao năng lực thích ứng, hiểu sâu hơn về đối tác và thị trường để duy trì chuỗi cung ứng ổn định.
Công ty xác định 2026 là năm bản lề để đẩy mạnh đầu tư vào chế biến sâu và phát triển hệ thống nhà máy. Theo ông Phan Minh Thông, khi nhiều đơn vị còn thận trọng, việc chủ động đầu tư dài hạn sẽ tạo lợi thế cạnh tranh trong trung và dài hạn.
Song song với đầu tư công nghệ, vấn đề nhân lực chất lượng cao cũng được đặt lên hàng đầu. Doanh nghiệp tăng cường đào tạo đội ngũ quản lý, kỹ thuật và vận hành nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu nông sản sang EU, Hoa Kỳ và Bắc Mỹ. Đồng thời, việc mở rộng sang các nước châu Á được coi là hướng đi giúp phân tán rủi ro và tạo dư địa tăng trưởng mới.
Cùng lựa chọn con đường chế biến sâu, Công ty cổ phần Hà Mỵ (Đồng Nai) xem đây là giải pháp căn cơ để tạo khác biệt. Ông Phạm Ngọc Thành, Phó Tổng giám đốc phụ trách kinh doanh Công ty cổ phần Hà Mỵ cho hay, nếu chỉ dừng lại ở hạt điều rang muối, một sản phẩm đã phổ biến, doanh nghiệp sẽ rất khó tạo dấu ấn. Công ty đang khởi công xây dựng nhà máy chế biến các sản phẩm từ hạt điều như sữa hạt điều, bơ hạt điều, muối vừng hạt điều…, hướng tới các phân khúc chuyên biệt như người ăn chay, trẻ nhỏ, người cao tuổi, du lịch.
Theo ông Thành, hạt điều phải trở thành nền tảng cho hệ sinh thái sản phẩm đa dạng, có hàm lượng kỹ thuật và giá trị gia tăng cao hơn. Trong đó, việc kể câu chuyện sản phẩm từ lợi ích sức khỏe đến nguồn gốc nguyên liệu được xem là cách để sản phẩm “chạm” vào người tiêu dùng. Khi khách hàng đã tin tưởng một sản phẩm, khả năng mở rộng sang các dòng sản phẩm khác sẽ thuận lợi hơn, tạo vòng tròn tiêu dùng khép kín trong hệ sinh thái thương hiệu.

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu ngày càng bất định, việc tìm kiếm những động lực tăng trưởng “hai con số” không còn là lựa chọn mang tính chiến lược, mà đã trở thành yêu cầu cấp thiết để đất nước vươn mình.
Với nông nghiệp, mục tiêu xuất khẩu 73 - 75 tỷ USD trong năm 2026, 100 tỷ USD vào năm 2030 không chỉ là bài toán kim ngạch, mà còn là phép thử tư duy của nông dân, doanh nghiệp Việt Nam: Phải chuyển từ “sản xuất cái mình có” sang “sản xuất cái thị trường cần”; chinh phục những hàng rào tiêu chuẩn khắt khe bằng chất lượng, minh bạch và chuỗi giá trị xanh.
TS. Trần Công Thắng, Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường cho biết, con số tăng trưởng của nông nghiệp có thể không bứt phá mạnh mẽ như một số lĩnh vực công nghiệp hay dịch vụ, nhưng điểm khác biệt nằm ở sự ổn định và bền vững; đặc biệt là khi so sánh với các quốc gia có nền tảng nông nghiệp tương đương.

Thực tế hiện nay, các thị trường nhập khẩu lớn như EU hay Hàn Quốc đang dựng lên những hàng rào tiêu chuẩn kỹ thuật vô cùng khắt khe. Theo TS. Trần Công Thắng, nông sản chỉ có thể đi từ “cửa ải” này sang “cửa ải” khác nếu đáp ứng các quy định về chất lượng. Nếu thất bại ở bất kỳ tiêu chuẩn nào, cánh cửa thị trường sẽ lập tức đóng lại.
Mọi quy trình canh tác phải bám sát tín hiệu thị trường, đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm và minh bạch truy xuất nguồn gốc.
Ngoài ra, để hiện thực hóa các mục tiêu tăng trưởng, ông Thắng cho rằng, cần xây dựng các vùng nguyên liệu đạt chuẩn thông qua ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số. Việc tăng cường đầu tư vào công nghệ chế biến sâu sẽ là “cú hích” để nâng cao giá trị thặng dư, thay vì chỉ dừng lại ở xuất khẩu thô. Đồng thời, công tác nghiên cứu giống cây trồng, vật nuôi cần được ưu tiên để cải thiện trực tiếp năng suất và chất lượng nông sản.
Theo Nguyễn Minh Tiến, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại nông nghiệp, chuỗi giá trị cần được tổ chức lại một cách đồng bộ: từ vùng nguyên liệu, chế biến, logistics đến phân phối và xây dựng thương hiệu. Sản xuất phải gắn với đơn hàng, vùng trồng phải gắn với nhà máy chế biến, còn chế biến phải kết nối trực tiếp với hệ thống phân phối toàn cầu.

Chế biến tôm phục vụ nhu cầu xuất khẩu.
Trong bối cảnh thế giới tiềm ẩn nhiều biến động, đa dạng hóa thị trường được xem là yêu cầu bắt buộc. Việc phụ thuộc vào một số thị trường lớn có thể mang lại lợi ích ngắn hạn, nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro khi chính sách thay đổi hoặc rào cản thương mại gia tăng. Do đó, bên cạnh việc giữ vững các thị trường truyền thống, nông sản Việt cần mở rộng sang những khu vực tiềm năng, đồng thời tăng hiện diện trong các kênh bán lẻ hiện đại và thương mại điện tử xuyên biên giới.
Cùng với đó, xúc tiến thương mại cũng phải thay đổi cách làm. Thay vì chỉ dừng ở hội chợ hay kết nối giao thương đơn lẻ, xúc tiến cần trở thành công cụ chiến lược. Điều này bao gồm việc nghiên cứu thị trường, dự báo xu hướng tiêu dùng, cập nhật chính sách nhập khẩu và hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng thương hiệu dài hạn. Khi được thực hiện bài bản, xúc tiến thương mại sẽ giúp doanh nghiệp tiếp cận trực tiếp với nhà mua hàng quốc tế, từ đó nâng cao vị thế trong chuỗi cung ứng.
Ở góc độ doanh nghiệp, vai trò trung tâm trong chuỗi giá trị ngày càng rõ nét. Tuy nhiên, để doanh nghiệp thực sự “lớn mạnh”, cần có sự hỗ trợ đồng bộ từ Nhà nước và các tổ chức liên quan. Những yếu tố như phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn, đầu tư chế biến sâu, hệ thống kho lạnh, logistics, truy xuất nguồn gốc hay chứng nhận xanh sẽ quyết định khả năng cạnh tranh của nông sản Việt trên thị trường quốc tế.
Đặc biệt, xây dựng thương hiệu nông sản không thể tách rời thương hiệu quốc gia. Khi nhắc đến nông sản Việt Nam, thị trường quốc tế không chỉ quan tâm đến sản lượng, mà còn đánh giá về chất lượng, độ an toàn, tính minh bạch và trách nhiệm với môi trường. Đây chính là những tiêu chí cốt lõi trong xu hướng tiêu dùng mới, nơi yếu tố “xanh” và “bền vững” ngày càng được đặt lên hàng đầu.

“Thành tựu xuất khẩu hơn 70 tỷ USD trong năm 2025 là dấu mốc quan trọng, nhưng chưa phải là giới hạn. Mục tiêu 100 tỷ USD vào năm 2030 sẽ chỉ khả thi nếu nông nghiệp Việt Nam thực sự chuyển mình: từ “lượng” sang “chất”, từ “gia công” sang “giá trị”, từ “xuất khẩu hàng hóa” sang “xuất khẩu thương hiệu””, ông Nguyễn Minh Tiến nhấn mạnh.
Trong hành trình đó, nâng cao năng lực cạnh tranh, thích ứng linh hoạt với biến động toàn cầu và chủ động hội nhập sẽ là những yếu tố quyết định. Khi làm được điều này, nông sản Việt không chỉ gia tăng kim ngạch xuất khẩu mà còn khẳng định vị thế vững chắc hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu trở thành quốc gia xuất khẩu nông - lâm - thủy sản và thực phẩm chất lượng cao, có vị thế vững chắc trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Trên cơ sở Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu nông - lâm - thủy sản giai đoạn 2026 - 2030 đạt 6 - 8%/năm, gắn với hoan thiện the che, phát trien chuoi cung ứng bền vững, tai chính xanh, logistics, che biến sâu và xây dựng thương hiệu; trong trường hợp không xảy ra các biến động lớn về thị trường và tác động đột biến của yếu tố thời tiết, dịch bệnh tới sản xuất, dự báo kim ngạch xuất khẩu nông - lâm - thủy sản đến năm 2030 ước đạt 95 - 100 tỷ USD.
Thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, đặc biệt là thúc đẩy chế biến sâu, phát triển chuỗi cung ứng bền vững, tài chính xanh, logisticsvà xây dựng thương hiệu nông, lâm, thủy sản, coi đây là khâu then chốt để nâng cao giá trị gia tăng và đạt mục tiêu xuất khẩu 100 tỷ USD.
Bộ cũng sẽ tiếp tục rà soát, điều chỉnh các luật, chính sách để phù hợp với thực tiễn, cải cách hành chính và yêu cầu phát triển mới, trong đó khoa học - công nghệ được xác định là động lực trực tiếp cho sản xuất, thu hoạch, sơ chế và chế biến sâu, nhằm nâng cao giá trị nông sản.
Nguồn: NGỌC THỦY/kinhtenongthon.vn