Làm vườn và NN xanh

Khi khoa học 'bước vào' chuỗi giá trị nông nghiệp

10/09/2026, 10:25

Từ công nghệ sinh học, chế biến sâu đến chuyển đổi số và phát triển xanh, khoa học đang mở thêm những hướng đi để nông nghiệp Việt Nam tạo ra giá trị cao hơn, thay vì chỉ dựa vào sản lượng và xuất khẩu nguyên liệu.

Từ thực tiễn nghiên cứu và chuyển giao tại Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh (NLU), PGS.TS. Phan Tại Huân, Phó Hiệu trưởng nhà trường cho rằng, một kết quả nghiên cứu chỉ thực sự phát huy giá trị khi có thể giải quyết vấn đề của sản xuất, doanh nghiệp và thị trường.

PV: Thưa Thầy, từ một kết quả nghiên cứu đến một sản phẩm có thể sản xuất và thương mại hóa là một hành trình không đơn giản. Những kết quả nghiên cứu nào cho thấy rõ khả năng đưa khoa học vào thực tiễn của ngành Nông nghiệp?

PGS.TS. Phan Tại Huân: Nông nghiệp Việt Nam đang chuyển từ tư duy “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp”, bao gồm toàn bộ chuỗi từ sản xuất, ứng dụng công nghệ, quản trị dữ liệu, chế biến, logistics đến thị trường và thương mại quốc tế.

Trong thời gian qua, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh có nhiều kết quả nghiên cứu đã được thương mại hóa hoặc đang được đưa vào ứng dụng ở nhiều nhóm lĩnh vực. Ở nhóm chế phẩm sinh học có TRI-CAB – chế phẩm vi sinh kháng nấm bệnh hại cây trồng, phân giải xơ và khử mùi hôi. Ở nhóm vật liệu nông nghiệp có NOLA 1 – đất sạch trồng cây và NOLARI – đất dinh dưỡng chuyên dụng. Trong lĩnh vực nấm và dược liệu có đông trùng hạ thảo (Cordyceps militaris), nấm linh chi Việt cùng các quy trình nuôi trồng và chuyển giao công nghệ. Bên cạnh đó là nhiều quy trình, thiết bị sấy và chế biến nông – thủy sản, góp phần giảm tổn thất sau thu hoạch và nâng cao giá trị nông sản.

Điều đáng chú ý là những kết quả này cho thấy phạm vi của khoa học trong kinh tế nông nghiệp không chỉ nằm ở khâu sản xuất. Công nghệ còn tham gia vào bảo quản, chế biến, phát triển sản phẩm và xử lý những vấn đề phát sinh trong toàn bộ chuỗi.

PV: Việt Nam có nguồn nông sản phong phú nhưng giá trị gia tăng của nhiều sản phẩm vẫn còn hạn chế. Theo Thầy, đâu là hướng đi để khoa học góp phần thay đổi điều này?

PGS.TS. Phan Tại Huân: Việt Nam có lợi thế lớn khi nhiều nông sản đã hiện diện tại nhiều quốc gia và giữ vị thế hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, thách thức hiện nay không chỉ là sản xuất nhiều hay xuất khẩu xa hơn, mà là phải tạo ra giá trị cao hơn, xanh hơn và bền vững hơn.

Chúng ta cần chuyển từ tư duy sản xuất sản phẩm mình có sáng tạo ra sản phẩm thị trường cần, từ bán nguyên liệu thô sang tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao, có thương hiệu và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng khắt khe.

Đây là khoảng không gian rất lớn cho khoa học và công nghệ. Các trường đại học, viện nghiên cứu có thể đẩy mạnh nghiên cứu về bảo quản sau thu hoạch, chế biến sâu, phát triển các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, chiết xuất các hợp chất sinh học có hoạt tính cao, đồng thời tận dụng phụ phẩm để tạo ra sản phẩm mới.

Khi phụ phẩm được tiếp tục khai thác thay vì trở thành chất thải, giá trị của nguyên liệu được kéo dài sang những sản phẩm khác. Đây cũng là hướng gắn với kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, giúp tận dụng tốt hơn nguồn tài nguyên và nâng cao hiệu quả của chuỗi sản xuất.

Bên cạnh giá trị gia tăng, một yêu cầu ngày càng rõ của thị trường là giảm phát thải. Giá trị nông sản trong thời gian tới không chỉ được đo bằng chất lượng và giá bán mà còn bằng dấu chân carbon, tức tổng lượng khí nhà kính phát sinh trong quá trình sản xuất, vận chuyển và tiêu thụ.

Những sản phẩm có khả năng đo lường và chứng minh mức giảm phát thải sẽ có lợi thế cạnh tranh rõ rệt trên thị trường quốc tế. Vì vậy, chuyển đổi xanh không chỉ là câu chuyện môi trường mà ngày càng trở thành một yếu tố kinh tế của sản phẩm nông nghiệp.

Một trong những khoảng cách lớn hiện nay là nghiên cứu có thể tốt nhưng chưa chắc tạo ra sản phẩm phù hợp với thị trường. Làm thế nào để rút ngắn khoảng cách này?

PGS.TS. Phan Tại Huân: Khoa học không nên dừng ở khâu tạo ra sản phẩm rồi mới tìm cách thương mại hóa, nghiên cứu cần gắn với thị trường ngay từ đầu. Điều đó có nghĩa là nhà khoa học phải hiểu nhu cầu người tiêu dùng, các tiêu chuẩn về an toàn, truy xuất nguồn gốc cũng như câu chuyện về dinh dưỡng, văn hóa và sinh thái mà sản phẩm có thể mang lại.

Một trường hợp đáng chú ý là Nonglamfood, doanh nghiệp từng là thành viên của Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Công nghệ của Trường. Đây là một ví dụ cho mô hình từ phòng thí nghiệm qua vườn ươm đến doanh nghiệp và thị trường.

Từ trường hợp này có thể thấy, để một kết quả nghiên cứu đi xa cần nhiều yếu tố cùng lúc: nghiên cứu phải xuất phát từ nhu cầu thực tế; có quy trình R&D đủ mạnh để biến kết quả khoa học thành sản phẩm; có hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp; nhà khoa học phải gắn với doanh nghiệp và thị trường; cuối cùng, sản phẩm phải tạo ra giá trị thực sự.

Như vậy, thương mại hóa không phải là công việc của riêng nhà khoa học. Đó là quá trình kết nối nhiều chủ thể, trong đó thị trường là nơi kiểm chứng cuối cùng của giá trị nghiên cứu.

PV: Vậy sự kết nối giữa nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất cần được tổ chức như thế nào để công nghệ thực sự đi vào chuỗi giá trị? Đâu là những điểm nghẽn cần tháo gỡ?

PGS.TS. Phan Tại Huân: NLU đang định hướng chuyển từ mô hình nghiên cứu và chuyển giao theo từng khâu sang xây dựng hệ sinh thái hợp tác và liên kết theo chuỗi giá trị. Doanh nghiệp cần tham gia ngay từ quá trình xác định bài toán, đặt hàng nghiên cứu, thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ đến thương mại hóa. Nhà trường cũng chú trọng các mô hình trình diễn, thí điểm để công nghệ được kiểm chứng trong điều kiện sản xuất trước khi nhân rộng.

Điều quan trọng là thay đổi vai trò của các chủ thể. Nhà khoa học không đứng ngoài sản xuất, doanh nghiệp không chỉ xuất hiện ở cuối quá trình nghiên cứu và người nông dân không chỉ là người tiếp nhận công nghệ.

Tuy nhiên, khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường vẫn là một điểm nghẽn. Nhiều kết quả mới được kiểm chứng ở quy mô nhỏ, trong khi doanh nghiệp cần công nghệ ổn định ở quy mô pilot và công nghiệp. Bên cạnh đó, hạn chế về vốn, cơ chế hỗ trợ thương mại hóa và nguồn lực cho sở hữu trí tuệ, phát triển nguyên mẫu, thử nghiệm và sản xuất thử.

Vì vậy, thương mại hóa cần sự tham gia sớm của doanh nghiệp, nhà đầu tư, chuyên gia sở hữu trí tuệ và thị trường. Khi các chủ thể cùng tham gia ngay từ đầu, kết quả nghiên cứu sẽ có thêm cơ hội được hoàn thiện, ứng dụng và chuyển hóa thành giá trị thực tế.

PV: Nông nghiệp đang chuyển từ tư duy sản xuất sang kinh tế nông nghiệp, kéo theo yêu cầu ngày càng cao về công nghệ, dữ liệu và quản trị chuỗi giá trị. Theo Thầy, nguồn nhân lực nông nghiệp cần thay đổi như thế nào để đáp ứng yêu cầu này?

PGS.TS. Phan Tại Huân: Nông nghiệp Việt Nam đang chuyển từ tư duy “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp”, bao gồm toàn bộ chuỗi từ sản xuất, công nghệ, dữ liệu, chế biến, logistics đến thị trường và thương mại quốc tế.

Điều này đặt ra yêu cầu mới đối với nguồn nhân lực. Kỹ sư nông nghiệp tương lai không chỉ cần chuyên môn mà còn phải có năng lực ứng dụng AI, IoT, dữ liệu lớn, GIS, tự động hóa và các công nghệ số, đồng thời có tư duy kinh doanh, khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn và hiểu thị trường.

Đây cũng là nơi vai trò của các cơ sở đào tạo chuyên sâu về nông nghiệp như NLU được thể hiện: đào tạo nhân lực, tạo tri thức và kết nối tri thức đó với nhu cầu của nền kinh tế. Trong thời gian tới, NLU tiếp tục tập trung vào những hướng nghiên cứu gắn với các vấn đề lớn của nông nghiệp như nông nghiệp thông minh, ứng dụng AI, công nghệ sinh học, công nghệ sau thu hoạch và chế biến sâu, tận dụng phụ phẩm và kinh tế tuần hoàn, nông nghiệp xanh, phát thải thấp, thích ứng biến đổi khí hậu, chuyển đổi số và phát triển sản phẩm có khả năng thương mại hóa.

Nhưng điều đáng chú ý không chỉ nằm ở danh mục công nghệ, mà ở cách nhìn về hiệu quả của nghiên cứu.

Ngoài ra, thành công của hoạt động khoa học công nghệ không nên chỉ được đo bằng số lượng bài báo, bằng sáng chế hay đề tài nghiệm thu. Cần nhìn vào những câu hỏi cụ thể hơn: có bao nhiêu công nghệ được chuyển giao, bao nhiêu sản phẩm được thương mại hóa, bao nhiêu doanh nghiệp và hợp tác xã sử dụng, bao nhiêu nông dân được hưởng lợi, giá trị sản phẩm tăng bao nhiêu và phát thải giảm được bao nhiêu?

Suy cho cùng, giá trị của khoa học không chỉ nằm ở một công trình được nghiệm thu hay một công nghệ được tạo ra, mà ở khả năng công nghệ ấy đi vào sản xuất, tạo ra sản phẩm, giúp người sản xuất nâng hiệu quả và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường.

Đó cũng là bước chuyển mà nông nghiệp Việt Nam đang hướng tới: từ làm ra nhiều sang tạo ra nhiều giá trị hơn. Trong hành trình ấy, khoa học không đứng ngoài chuỗi giá trị mà ngày càng trở thành một mắt xích quan trọng, góp phần nâng chất lượng nông sản, thúc đẩy chế biến sâu, phát triển xanh và tăng sức cạnh tranh.


Nguồn: /Kinhtenongthon.vn