Làm vườn và NN xanh/NN hữu cơ

Nâng cao năng suất và tăng cường chuỗi giá trị vừng tại Việt Nam

08/05/2026, 21:37

Phó vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Phạm Ngọc Mậu cho biết: Vừng là cây trồng truyền thống, có khả năng thích ứng tốt với điều kiện khô hạn và biến đổi khí hậu.

Tuy nhiên, sản xuất hiện nay còn phân tán, thiếu liên kết chuỗi và giá trị gia tăng chưa tương xứng với tiềm năng. Vì vậy, việc đầu tư đồng bộ cho chuỗi giá trị vừng không chỉ nhằm nâng cao năng suất, mà còn hướng tới tái tổ chức sản xuất, phát triển chế biến và mở rộng thị trường xuất khẩu theo hướng bền vững.

Ông Mậu cho biết như vậy tại Hội nghị Khởi động Dự án “Nâng cao năng suất và tăng cường chuỗi giá trị vừng tại Việt Nam”. Dự án có thời gian thực hiện từ năm 2025 - 2027 với tổng vốn 6 tỷ won. Đây là mô hình hợp tác ODA không chỉ dừng lại ở hỗ trợ thiết bị hay đào tạo, mà hướng tới xây dựng một hệ sinh thái sản xuất - chế biến - tiêu thụ bền vững, có khả năng nhân rộng sau dự án. Dự án không chỉ đơn thuần là hỗ trợ kỹ thuật nông nghiệp mà còn mang ý nghĩa chính trị - ngoại giao sâu sắc, thắt chặt mối quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Hàn Quốc. Dự án được triển khai tại hai vùng sinh thái đại diện là Nghệ An và Đồng Tháp, nơi có diện tích vừng lớn nhưng đang đứng trước nguy cơ sụt giảm diện tích do thiếu hiệu quả kinh tế.

Dự án được triển khai tại hai vùng sinh thái đại diện là Nghệ An và Đồng Tháp, nơi có diện tích vừng lớn nhưng đang đứng trước nguy cơ sụt giảm diện tích do thiếu hiệu quả kinh tế.

Tiềm năng và hạn chế

Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) nhận định, vừng là giống cây công nghiệp, cây thực phẩm ngắn ngày cho giá trị dinh dưỡng cao. Hạt vừng có hàm lượng dầu và protein cao nên được sử dụng nhiều để chế biến làm thức ăn. Đặc biệt, vừng có nhiều lợi thế so với cây trồng khác nhờ đặc tính dễ trồng, thời gian sinh trưởng ngắn (khoảng 70-80 ngày), phát triển tốt ở điều kiện nắng nóng khô hạn, đồng thời gieo trồng hiệu quả trên các vùng đất bạc màu, thiếu nước, ít đòi hỏi thâm canh.

Từ những yếu tố trên, ngành Nông nghiệp xác định vừng là một trong những cây trồng quan trọng trong kế hoạch chuyển dịch cơ cấu cây trồng hiện nay ở Việt Nam, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu trầm trọng khiến tình trạng hạn hán ngày càng khốc liệt.

Việt Nam hiện có khoảng 56.000ha trồng vừng, tập trung tại các tỉnh Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, quy mô sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ, chưa được chuẩn hóa quy trình canh tác, chưa ứng dụng công nghệ cao nên năng suất thấp, chỉ đạt trung bình 0,8 tấn/ha, chưa tương xứng với tiềm năng.

Hiện, Nghệ An có diện tích sản xuất vừng lớn nhất miền Bắc, chiếm 30% diện tích và gần 40% sản lượng toàn quốc, chủ yếu phân bố tại các địa phương: Diễn Châu, Nghi Lộc, Nam Đàn, Vinh, Tân Kỳ, Quỳnh Lưu... trong đó Diễn Châu có diện tích vừng lớn nhất, chiếm 50-60% diện tích toàn tỉnh. Vừng được trồng vào 2 vụ đông xuân và hè thu. Những năm gần đây, diện tích vừng toàn tỉnh duy trì khoảng 3.000 ha/năm. Cụ thể: năm 2019 diện tích là 2.974 ha với năng suất bình quân 0,7 tấn/ha, sản lượng 2.197 tấn; năm 2020 là 3.013 ha, năng suất đạt 0,70 tấn/ha, sản lượng 2.122 tấn; và năm 2021, diện tích gieo trồng toàn tỉnh là 3.170 ha, năng suất 0,74 tấn/ha, sản lượng 2.267 tấn.

Như vậy, giống vừng sản xuất ở Nghệ An còn nghèo nàn, chủ yếu là giống vừng địa phương do nông dân tự trồng, có nhiều nhược điểm, năng suất thấp. Giống vừng mới V6, VĐ11 và VĐ16 cho năng suất cao, kháng bệnh tốt hơn các giống địa phương nhưng diện tích trồng không nhiều do nông dân chưa tiếp cận được với nguồn giống mới có năng suất cao.

Bà Võ Thị Nhung, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An.

Bà Võ Thị Nhung, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An cho biết, hiện Sở đang tiến hành thành lập Tổ thực hiện dự án tỉnh (PPWG) và tích cực phối hợp với cơ quan chủ trì dự án là Trung tâm Khuyến nông Quốc gia để từng bước triển khai các nội dung tiếp theo của dự án tại Nghệ An.

Trên cơ sở đồng thuận cao với nội dung dự án, Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An cam kết phát huy trách nhiệm, chủ động và tích cực phối hợp triển khai thực hiện đầy đủ các hạng mục dự án tại tỉnh Nghệ An đúng tiến độ, chất lượng, phát huy hiệu quả nguồn vốn được viện trợ theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam và yêu cầu của Nhà tài trợ.

Tại Đồng Tháp, sau khi hợp nhất tỉnh Đồng Tháp và Tiền Giang, khu vực mới hình thành tiếp tục khẳng định vị thế là một trong những vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của đồng bằng sông Cửu Long. Sự kết hợp giữa đất đai màu mỡ, khả năng kiểm soát lũ chủ động và kinh nghiệm sản xuất lâu đời của nông dân tạo nền tảng để áp dụng các mô hình canh tác linh hoạt: từ luân canh lúa-màu ba vụ trên đất lúa có đê bao khép kín, đến chuyên canh các cây công nghiệp ngắn ngày như vừng, đậu tương và bắp trên các cù lao, cồn cao ít chịu ảnh hưởng ngập lũ. Những yếu tố này giúp vùng Đồng Tháp trở thành một trong những khu vực có tiềm năng lớn để phát triển chuỗi giá trị vừng bền vững.

Đồng Tháp là tỉnh dẫn đầu khu vực về diện tích gieo trồng, với đỉnh cao 8.513 ha vào năm 2016. Nhờ điều kiện thổ nhưỡng và thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất bình quân đạt 1,0-1,4 tấn/ha, lợi nhuận từ cây vừng thường cao gấp 2-3 lần so với lúa. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, diện tích vừng toàn vùng có xu hướng sụt giảm nhanh: năm 2021 còn 1.091 ha, năm 2022 giảm còn 828 ha, năm 2023 còn 493 ha và đến năm 2024 chỉ còn khoảng 191 ha. Nguyên nhân chủ yếu là do sản xuất vừng còn đối mặt nhiều hạn chế: thiếu hụt lao động nông nghiệp, mức độ cơ giới hóa còn thấp, thiếu cơ sở cung cấp giống đạt chuẩn dẫn đến tình trạng thoái hóa, giá vừng thô biến động và chưa hình thành dây chuyền chế biến sâu để gia tăng giá trị sản phẩm.

“Sự sụt giảm này là hệ quả của những "điểm nghẽn" về cơ giới hóa, chất lượng giống và đặc biệt là sự thiếu vắng một chuỗi liên kết bền vững. Vì vậy, dự án này không chỉ đơn thuần là hỗ trợ kỹ thuật, mà chính là "chìa khóa" để chúng tôi tái cấu trúc ngành hàng vừng theo hướng hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng theo đúng định hướng tái cơ cấu ngành Nông nghiệp của tỉnh đến năm 2030”, ông Lê Chí Thiện, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp cho biết.

Cần thực hiện liên kết chuỗi

Thời gian qua, sự thiếu vắng chuỗi liên giữa các nhà còn lỏng lẻo khiến giá trị vừng chưa được đánh giá đúng. Như tại Nghệ An, phần lớn vừng được tiêu thụ dưới dạng nguyên liệu thô tại các chợ địa phương thông qua các thương lái trung gian, hoặc được thu gom bởi các doanh nghiệp nhỏ đang hoạt động trên địa bàn các địa phương như Diễn Châu và Yên Thành. Hiện, chưa hình thành được hệ thống phân phối ổn định và có liên kết chặt chẽ. Một phần nhỏ sản lượng vừng được các cơ sở tư nhân sơ chế hoặc ép dầu để phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh và một số tỉnh thành lân cận.

Vùng trồng vừng tại Nghệ An và Đồng Tháp đã hình thành từ nhiều năm nay, song hoạt động sản xuất và tiêu thụ vẫn mang tính nhỏ lẻ, manh mún.

Tại Đồng Tháp, sản phẩm vừng hiện chủ yếu được thu mua thông qua các thương lái nhỏ lẻ. Sau khi thu hoạch và phơi khô sản phẩm, nông dân bán trực tiếp cho thương lái với giá tự thoả thuận, không có hợp đồng hay cam kết tiêu thụ lâu dài. Giá thu mua thường do thương lái quyết định, biến động theo mùa vụ và bị chi phối bởi thị trường tự do. Việc chưa hình thành các mô hình liên kết chuỗi giá trị khiến người trồng vừng thiếu thông tin thị trường, bị động trong tiêu thụ sản phẩm, dễ rơi vào tình trạng bị ép giá và gặp khó khăn trong việc ổn định đầu ra.

Mặc dù, vùng trồng vừng tại Nghệ An và Đồng Tháp đã hình thành từ nhiều năm nay, song hoạt động sản xuất và tiêu thụ vẫn mang tính nhỏ lẻ, manh mún, chủ yếu thông qua các hộ dân tự phát và các thương lái thu gom không ổn định. Tại mỗi tỉnh, hiện có một số hợp tác xã nông nghiệp đã bước đầu tham gia tổ chức sản xuất vừng,  tuy nhiên, đa phần mới dừng ở khâu hỗ trợ vật tư hoặc thu hoạch, chưa hình thành được cơ chế liên kết theo chuỗi giá trị. Các HTX còn thiếu năng lực kỹ thuật, điều hành, đặc biệt là kỹ năng ký kết hợp đồng, quản lý rủi ro thị trường và xây dựng thương hiệu sản phẩm.

Trong bối cảnh nhu cầu liên kết sản xuất ngày càng cấp thiết để nâng cao hiệu quả và ổn định đầu ra, việc triển khai mô hình HTX làm đầu mối kết nối hộ dân với doanh nghiệp chế biến-tiêu thụ thông qua hợp đồng là yêu cầu mang tính chiến lược.

Và việc triển khai Dự án “Nâng cao năng suất và tăng cường chuỗi giá trị vừng tại Việt Nam” là nhằm hiện đại hóa toàn bộ chuỗi giá trị từ giống đến bàn ăn.

Kỳ vọng của Hàn Quốc

Các đại biểu nhấn nút khởi động Dự án.

Tại Hội nghị Khởi động Dự án “Nâng cao năng suất và tăng cường chuỗi giá trị vừng tại Việt Nam”, ông Kim Hyun Woo, Tùy viên Nông nghiệp, Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam cho biết: Dự án lần này có ý nghĩa rất lớn. Thứ nhất, Dự án được xây dựng nhằm nâng cao năng suất ở tất cả các công đoạn của ngành vừng, từ cung cấp giống, canh tác, quản lý sau thu hoạch cho đến sản xuất sản phẩm, phân phối và quảng bá.

Vì vậy, nếu được triển khai thành công, Dự án không chỉ giúp hình thành một ngành công nghiệp mè vừng mới tại Việt Nam mà sau này còn có thể kết nối đầu tư từ chính phủ và các tổ chức tư nhân. Qua đó, dự án có thể trở thành một mô hình ODA tiêu biểu và vô cùng ý nghĩa.

Thứ hai, dự án được triển khai tại hai địa phương tiêu biểu về trồng mè vừng là Nghệ An và Đồng Tháp. Nghệ An là vùng sản xuất mè vừng tiêu biểu của khu vực miền Trung, còn Đồng Tháp là vùng trồng mè vừng tiêu biểu của khu vực miền Nam. Việc triển khai dự án tại hai địa phương này sẽ tạo ra hiệu quả bổ trợ lẫn nhau về điều kiện vùng miền và khí hậu, từ đó hứa hẹn mang lại những thành quả phong phú hơn.

Còn theo ông Bae Jong Ha, Giám đốc Dự án, Dự án này được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Hàn Quốc, sau nhiều năm chuẩn bị, được Chính phủ Hàn Quốc chính thức triển khai từ tháng 11/2024 và dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2027.

Mục tiêu của Dự án là thành lập các tổ hợp tác, hợp tác xã của nông dân trồng mè tại hai địa phương sản xuất mè vừng trọng điểm của Việt Nam là Nghệ An và Đồng Tháp; đồng thời phổ biến giống chất lượng cao, tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ mè vừng nhằm nâng cao thu nhập cho người nông dân.

Sau khi dự án hoàn thành sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao thu nhập cho người nông dân trồng mè.

Thông qua việc hoàn thiện toàn bộ chuỗi giá trị từ cung cấp giống, sản xuất, chế biến đến tiêu thụ, dự án sẽ tạo ra giá trị gia tăng cao hơn, qua đó giúp nâng cao đáng kể thu nhập của nông dân so với phương thức chỉ bán nông sản thô như trước đây.

Thứ nhất, Dự án sẽ nâng cao kỹ thuật canh tác nhằm tăng năng suất sản xuất.
Thứ hai, sẽ phổ biến các giống mè vừng năng suất cao được phát triển bởi các viện nghiên cứu của Việt Nam.

Thứ ba, sẽ thành lập các tổ hợp tác, hợp tác xã gồm các hộ nông dân sản xuất mè vừng để trực tiếp đảm nhận toàn bộ quá trình từ sản xuất, chế biến đến phân phối, giúp chính người nông dân chủ động vận hành chuỗi giá trị này.

Thứ tư, mè vừng sau thu hoạch sẽ được phân loại theo cấp độ chất lượng, trải qua các công đoạn làm sạch và tuyển chọn nhằm bảo đảm vệ sinh và an toàn; đồng thời một phần sản lượng sẽ được chế biến thành dầu mè để đưa ra thị trường.

Cuối cùng, để toàn bộ hệ thống này có thể được xây dựng và vận hành thành công và bền vững, Dự án sẽ tổ chức các chương trình đào tạo dành cho nông dân, cán bộ quản lý hợp tác xã và các công chức liên quan.

Ngoài ra, tại Nghệ An và Đồng Tháp sẽ xây dựng các Trung tâm chế biến nông sản (APC) để bảo quản và chế biến mè sau thu hoạch: Nghệ An sẽ xây dựng nhà máy tại khu đất rộng 3ha tại Hưng Nguyên, cách sân bay Vinh khoảng 15km. Đồng Tháp sẽ xây dựng nhà máy với diện tích 4ha, nằm tại Cao Lãnh.

Ngoài ra, Dự án cũng hướng tới việc phát triển quy trình sản xuất và chế biến mè thành mô hình du lịch nông thôn. Thông qua việc tham quan và trải nghiệm quy trình sản xuất, chế biến mè, du khách có thể tiếp cận không chỉ ngành sản xuất sơ cấp (trồng trọt), mà còn cả ngành chế biến thứ cấp và ngành dịch vụ trải nghiệm nông thôn. Qua đó, Dự án hướng tới phát triển tổng hợp thành mô hình “công nghiệp cấp 6” – kết hợp giữa sản xuất, chế biến và du lịch trải nghiệm nông nghiệp.

“Sau khi dự án kết thúc, các hợp tác xã sẽ trực tiếp tổ chức sản xuất, vận hành chế biến, nhằm bảo đảm tính bền vững lâu dài của dự án. Qua đó, dự án sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao thu nhập cho người nông dân trồng mè”, ông Bae Jong Ha nhấn mạnh.

Ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia nhấn mạnh: "Đây không chỉ là một nhiệm vụ chuyên môn, mà còn là cam kết trước hàng nghìn hộ nông dân đang kỳ vọng vào sự thay đổi. Mỗi hạng mục thiết bị, mỗi lớp tập huấn đều phải hướng đến mục tiêu cuối cùng: tạo ra giá trị thực cho người sản xuất". Việc kết hợp giữa tiềm năng thổ nhưỡng của Việt Nam và công nghệ hạt giống, chế biến hàng đầu của Hàn Quốc được kỳ vọng sẽ tạo ra một "hệ sinh thái" nông nghiệp bền vững.

 

Nguồn: DƯƠNG THANH/Kinhtenongthon.vn