Sở hữu gần 10% diện tích cói của Thanh Hóa, xã Trường Văn đang chú trọng phát triển cây trồng chủ lực này theo chuỗi giá trị, nhằm nâng cao giá trị, ổn định đầu ra và cải thiện đời sống cho người dân.
Lợi ích kép
Thanh Hóa hiện có 1.719,7ha cói, phân bố chủ yếu ở vùng đồng bằng và ven biển. Trong đó, xã Trường Văn là một trong những vùng trọng điểm với 161ha, tập trung ở 6 thôn ven sôn Yên (Tân Ngọc, Nguyên Ngọc, Trung Liệt, Đông Xuân, Phượng Đoài, Minh Côi), chiếm gần 10% diện tích toàn tỉnh.
Trường Văn được xem là vùng cói có điều kiện tự nhiên đặc biệt thuận lợi. Địa hình bằng phẳng, đất ven sông giàu dinh dưỡng, độ ẩm và nhiệt độ phù hợp giúp cây cói sinh trưởng tốt. Ngoài ra, hệ thống giao thông liên vùng, kết nối với các trục như tỉnh lộ 525, đường Nghi Sơn - Sao Vàng và cảng biển Nghi Sơn tạo điều kiện thuận lợi cho vận chuyển, tiêu thụ sản phẩm.

Người dân đang thu hoạch cáy trên đồng cói.
Theo lãnh đạo xã Trường Văn, cói là loại cây dễ canh tác, được ví như “vàng xanh”, trồng một lần có thể cho thu hoạch liên tục 3-5 năm, ít sâu bệnh và chi phí chăm sóc thấp. Với giá bán trung bình 10-12 triệu đồng/tấn, 1ha cói mang lại lợi nhuận 90-110 triệu đồng, cao gấp 2-3 lần so với trồng lúa.
Không chỉ thu nhập từ trồng cói, vùng cói Trường Văn còn kết hợp khai thác hiệu quả các sản phẩm tự nhiên như rươi, cáy... Theo người dân thôn Đông Xuân, trong năm ngoài thu nhập từ 2 vụ cói, bà con nơi đây còn có thêm nguồn thu nhập từ đánh bắt cáy và rươi. Khoảng tháng 9-10, tuỳ từng hộ đánh bắt, sản lượng rươi thu được có thể đạt 30-40kg/vụ, với giá bán khoảng 500 nghìn đồng/kg, người dân có thêm nguồn thu hàng chục triệu đồng mỗi vụ.
Vào khoảng thời gian từ tháng 2-6 trong năm, mỗi “con nước” lên, cáy bắt đầu vào vụ, trung bình mỗi ngày có thể thu được 10kg cáy, với giá bán khoảng 70.000 đồng/kg, thu nhập gần 1 triệu đồng/người/ngày. Tuy nhiên, hoạt động này phụ thuộc vào con nước, mỗi tháng chỉ có khoảng 2 con nước (tương đương 7-8 ngày khai thác), nên thu nhập không đều nhưng vẫn là nguồn bổ trợ đáng kể.
Nhiều “điểm nghẽn”
Dù tiềm năng là thế nhưng sản xuất cói tại Trường Văn vẫn đối mặt với không ít khó khăn. Trước hết là hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện phục vụ sản xuất còn nhiều hạn chế, xuống cấp. Việc canh tác chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, giống cói bản địa bị thoái hóa, chưa được cải tiến. Ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ sau thu hoạch còn hạn chế, dẫn đến năng suất và chất lượng chưa ổn định, hao hụt lớn khi gặp thời tiết bất lợi.

Người dân thôn Đông Xuân đang làm cỏ, bón phân cho cây cói.
Trao đổi với phóng viên Kinh tế nông thôn, ông Nguyễn Hữu Quý, Trưởng thôn Đông Xuân, cho biết, toàn thôn có khoảng 30ha cói, tuy nhiên, lực lượng lao động trẻ phần lớn đi làm ăn xa, chuyển sang làm việc tại các nhà máy có thu nhập ổn định hơn, khiến việc sản xuất cói chủ yếu dựa vào người trung niên và người cao tuổi. Những công đoạn đòi hỏi nhiều sức lao động như thu hoạch, vận chuyển, phơi và chẻ cói vì thế gặp không ít khó khăn.
Bên cạnh đó, trên địa bàn thôn hiện chỉ có 2 cơ sở chẻ cói hoạt động, quy mô nhỏ lẻ, chưa đáp ứng được nhu cầu xử lý nguyên liệu của bà con. Chưa có đơn vị bao tiêu sản phẩm nên giá cả bấp bênh.
Ông Đỗ Quang Trung, Phó Trưởng phòng Kinh tế xã Trường Văn, cho biết, sản xuất cói trên địa bàn hiện vẫn tồn tại nhiều hạn chế từ khâu canh tác đến tiêu thụ. Trước hết, việc cải tạo, nâng cấp đồng ruộng chưa được thực hiện thường xuyên. Người dân ít chú trọng khâu “đảo đất” để chuẩn bị cho vụ mới, thậm chí có trường hợp 7-10 năm mới thực hiện một lần, khiến thời gian cải tạo đất không đảm bảo, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng của cây cói.
Trong quy trình chăm sóc, người dân còn thiên về phát triển chiều cao cây, chưa quan tâm đến cân đối dinh dưỡng. Sử dụng phân bón chưa hợp lý, chưa chú trọng bổ sung các yếu tố dinh dưỡng cần thiết như kali, đạm…, dẫn đến năng suất và chất lượng chưa cao.
Ông Trung nhấn mạnh, công tác sơ chế, chế biến cói hiện còn manh mún, phụ thuộc vào một số đơn vị thu mua nhỏ lẻ. Địa phương chưa chủ động thu hút doanh nghiệp đầu tư vào chế biến, vì vậy, giá cả hoàn toàn phụ thuộc vào thương lái, người dân không có quyền chủ động trong tiêu thụ sản phẩm.
Hướng tới phát triển bền vững
Trước những “điểm nghẽn” trên, xã Trường Văn đã xây dựng định hướng phát triển vùng cói bền vững với nhiều giải pháp đồng bộ được xây dựng trong đề án phát triển vùng cói giai đoạn 2026–2030. Trọng tâm là cơ cấu lại sản xuất, nâng cao giá trị cây cói, đặt mục tiêu xây dựng cói trở thành ngành hàng mũi nhọn của địa phương.
Theo đó, diện tích cói được giữ ổn định 161ha, tập trung thâm canh nâng cao năng suất, giá trị. Đồng thời, đẩy mạnh mô hình kết hợp trồng cói với nuôi trồng thủy sản như rươi, cáy..., nhằm gia tăng giá trị trên cùng đơn vị diện tích.
Giải pháp trọng tâm là đầu tư đồng bộ hạ tầng. Dự kiến đến năm 2030 sẽ xây dựng, nâng cấp gần 3,8km đường giao thông nội đồng; cải tạo hệ thống kênh mương, cống tiêu; đầu tư khoảng 10km đường điện phục vụ sản xuất. Tổng kinh phí thực hiện đề án khoảng 9,5 tỷ đồng.
Cùng với đó, địa phương sẽ tăng cường chuyển giao khoa học kỹ thuật, phục tráng giống cói, áp dụng quy trình canh tác tiên tiến nhằm nâng cao năng suất, chất lượng. Việc phát triển các cơ sở sơ chế, chế biến, đặc biệt là sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ cói cũng được chú trọng để nâng cao giá trị gia tăng.
Đáng chú ý, đề án định hướng phát triển chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ thông qua hợp tác xã và doanh nghiệp, giảm phụ thuộc vào thương lái. Đồng thời, xây dựng thương hiệu sản phẩm cói gắn với làng nghề truyền thống, kết hợp phát triển du lịch trải nghiệm tại các thôn như Tân Ngọc, Nguyên Ngọc.
Thực hiện định hướng này, ông Đỗ Quang Trung nhấn mạnh: Trước hết, địa phương yêu cầu các hộ dân tuân thủ nghiêm lịch thời vụ, tập trung làm đất và trồng lại theo đúng quy trình kỹ thuật nhằm đảm bảo năng suất và chất lượng. Đồng thời, tăng cường tuyên truyền trên loa truyền thanh các thôn, hướng dẫn người dân áp dụng quy trình chăm sóc khoa học, sử dụng phân bón theo nguyên tắc bốn đúng.
Cùng với đó, xã định hướng xây dựng và nhân rộng các mô hình sản xuất cói hiệu quả, từng bước chuẩn hóa quy trình từ trồng, chăm sóc đến thu hoạch như mô hình cói - rươi, cói - cáy… Công tác nhân giống cũng sẽ được chú trọng, áp dụng các phương pháp kỹ thuật để chủ động nguồn giống, giảm phụ thuộc vào tự nhiên.
Song song với đó, việc đầu tư hạ tầng cũng được xác định là giải pháp then chốt. Xã sẽ từng bước nâng cấp hệ thống giao thông nội đồng, điện sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ giới hóa và sơ chế ngay tại ruộng. Qua đó, thu hút các cơ sở sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp vào đầu tư sản xuất, chế biến cói.
Nguồn: LÊ THỨC/Kinhtenongthon.vn