Năm 2026 được xác định là năm bản lề thực hiện các mục tiêu phát triển giai đoạn 2026-2030. Tuy nhiên, theo dự báo, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam tiếp tục đối mặt nhiều thách thức khi kinh tế toàn cầu phục hồi chậm, xu hướng bảo hộ gia tăng, các tiêu chuẩn kỹ thuật ngày càng khắt khe, xung đột địa chính trị ngày càng phức tạp.
Với nền tảng tái cơ cấu sản xuất, sự chủ động của doanh nghiệp và định hướng chuyển đổi mô hình tăng trưởng, ngành Nông nghiệp và Môi trường đang mở ra nhiều dư địa mới để duy trì đà tăng trưởng và mục tiêu xuất khẩu đạt 73-75 tỷ USD.
Chương trình hành động bám sát tinh thần chỉ đạo của Chính phủ
Thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 8/1/2026 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước và Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 8/1/2026 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã xây dựng Chương trình hành động.
Theo đó, Chương trình hành động của Bộ Nông nghiệp và Môi trường bám sát chủ đề: “Kỷ cương trách nhiệm, chủ động hiệu quả, đổi mới sáng tạo; tăng tốc đột phá, tăng trưởng bền vững”, tạo ra sự nhất quán, phù hợp với xu thế phát triển mới với phương châm “thể chế thông thoáng, hạ tầng thông suốt, quản trị thông minh, cách làm thông dụng”.
Mục tiêu của Chương trình hành động là nông nghiệp phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả, trách nhiệm theo hướng “Nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân thông minh”, nhằm nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo an ninh lương thực; phát huy hiệu quả tối đa các nguồn lực tài nguyên thiên nhiên phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, phát triển ngành; đồng thời cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh để thúc đẩy phát triển.
Phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của ngành, gồm 11 chỉ tiêu cụ thể: tốc độ tăng trưởng GDP toàn ngành 3,7%; tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản 73 - 75 tỷ USD; mức giảm tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chuẩn nghèo đa chiều 1 - 1,5%; tỷ lệ số xã đạt nông thôn mới tối thiểu 15%; tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn 95%; tỷ lệ hộ dân nông thôn được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn 62%; mức giảm tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số 3%; tỷ lệ hồ chứa thuỷ điện lớn đang vận hành được kiểm soát, giám sát trực tuyến 100%; hồ chứa thuỷ điện, thuỷ lợi được xác định và công bố dòng chảy tối thiểu sau đập khoảng 700 công trình; tỷ lệ che phủ rừng duy trì ổn định 42,02%; cả nước có 16.000 (chiếm 67,7%) HTX nông nghiệp xếp loại khá, tốt trên tổng số 23.600 HTX nông nghiệp.

Bộ trưởng Trần Đức Thắng nhấn mạnh, năm 2026 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, với mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Bám sát chủ đề điều hành của Chính phủ năm 2026, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng đề nghị toàn ngành tập trung cao độ vào các nhóm nhiệm vụ trọng tâm.
Thứ nhất, đẩy nhanh xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật. Trọng tâm là chuẩn bị, trình Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo trong năm 2026; đồng thời tiếp tục tổng kết thực tiễn, báo cáo Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai 2024. Các văn bản quy phạm pháp luật còn tồn đọng phải được hoàn thiện, trình ban hành dứt điểm trong thời gian sớm nhất.
Thứ hai, khẩn trương ban hành và triển khai chương trình công tác năm 2026 của từng đơn vị ngay sau khi Bộ ban hành chương trình chung. Việc phân công nhiệm vụ phải cụ thể, rõ ràng theo phương châm “sáu rõ”: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền.
Thứ ba, rà soát, hoàn thiện danh mục vị trí việc làm, bản mô tả công việc và khung năng lực; sớm kiện toàn tổ chức bộ máy, bố trí đủ đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Các đơn vị thiếu biên chế phải chủ động đề xuất, hoàn thành việc kiện toàn ngay trong quý I/2026.
Thứ tư, tổ chức thực hiện nghiêm túc, đồng bộ các nghị quyết, chiến lược của Bộ Chính trị liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. Các đơn vị chưa ban hành chương trình, kế hoạch hành động riêng phải khẩn trương hoàn thành, tránh tình trạng “có nghị quyết nhưng không có hành động”.
Thứ năm, tập trung tháo gỡ dứt điểm “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu (EC) đối với khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo, không theo quy định (IUU). Mục tiêu đặt ra là hoàn thành trong quý I hoặc quý II/2026.
Thứ sáu, không lơ là nhiệm vụ tổ chức sản xuất ngay từ đầu năm; bám sát khung thời vụ, theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, chủ động phòng, chống thiên tai, xử lý kịp thời các sự cố đê điều, hạn chế thấp nhất thiệt hại do biến đổi khí hậu gây ra.
Thứ bảy, đẩy mạnh phối hợp liên ngành trong các nhiệm vụ dài hạn, trọng tâm là hoàn thành Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai trong năm 2026 theo nguyên tắc “đúng - đủ - sạch - sống - thống nhất - dùng chung”, phục vụ hiệu quả quản lý nhà nước, doanh nghiệp và người dân.
Thứ tám, tăng cường quản lý, bảo vệ rừng. Dù tỉ lệ che phủ rừng đạt 42,03%, vượt chỉ tiêu đề ra, song nguy cơ cháy rừng, phá rừng, buôn bán động vật hoang dã trái phép vẫn hiện hữu, đòi hỏi không được chủ quan, lơ là...
Để thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ trên, Bộ trưởng Trần Đức Thắng đề nghị, toàn ngành tập trung triển khai 5 nhóm giải pháp trọng tâm. Đó là, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh, trách nhiệm, đủ năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Đồng thời, đổi mới mạnh mẽ công tác chỉ đạo, điều hành theo hướng chủ động, linh hoạt, bám sát thực tiễn; tăng cường phối hợp đồng bộ giữa các đơn vị, kịp thời phản ứng chính sách trước các vấn đề phát sinh.
Bên cạnh đó, đề cao trách nhiệm người đứng đầu; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát; kiên quyết khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, đồng thời bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung. Ngoài ra, xây dựng nền hành chính công vụ chuyên nghiệp, hiện đại; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo vị trí việc làm; gắn hoạt động đào tạo, nghiên cứu với thực tiễn sản xuất, phục vụ người dân và doanh nghiệp. Cuối cùng, tăng cường gắn kết giữa Bộ với các địa phương; kịp thời tháo gỡ khó khăn, nhân rộng mô hình hiệu quả, chia sẻ kinh nghiệm trong toàn ngành.
Mở rộng dư địa xuất khẩu
Năm 2026, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam được dự báo tiếp tục đối mặt nhiều thách thức khi kinh tế toàn cầu phục hồi chậm, xu hướng bảo hộ gia tăng, các tiêu chuẩn kỹ thuật ngày càng khắt khe và xung đột địa chính trị ngày càng phức tạp. Về vấn đề này, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho biết, năm 2026 được dự báo còn nhiều khó khăn, song ngành đã có nền tảng vững chắc sau hơn 40 năm phát triển, đặc biệt là khả năng thích ứng linh hoạt với biến động thị trường. Quá trình tái cơ cấu sản xuất, nâng cao chất lượng và tổ chức lại chuỗi giá trị đã giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam.

Năm 2026, ngành Nông nghiệp và Môi trường phấn đấu tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 73-75 tỷ USD.
Một trong những giải pháp trọng tâm là tiếp tục mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Bên cạnh các thị trường truyền thống, ngành đang thúc đẩy khai thác các thị trường tiềm năng như: châu Phi, khu vực Nam Á... Đây là những thị trường tiềm năng, cùng với các thị trường châu Á và các thị trường ngách. Đồng thời, việc tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA) tiếp tục tạo lợi thế cạnh tranh và mở rộng không gian thị trường cho nông sản Việt Nam.
Quan trọng hơn, với tiền đề của quá trình tái cơ cấu sản xuất đồng thời với khả năng xoay trục thị trường, chúng ta sẽ vượt qua tất cả khó khăn. Đặc biệt, các doanh nghiệp đã chủ động xúc tiến thị trường, chủ động vùng nguyên liệu… Vì vậy, năm 2026, ngành Nông nghiệp và Môi trường phấn đấu tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 73-75 tỷ USD; trong đó, nhóm hàng nông sản khoảng 40 tỷ USD (tăng 7,2%), các mặt hàng thủy sản khoảng 12 tỷ USD (tăng 7,6%), lâm sản và đồ gỗ khoảng 18,8 tỷ USD (tăng 3,6%)...
Bộ trưởng Trần Đức Thắng nhận định, tác động trực tiếp của xung đột Trung Đông đối với ngành Nông nghiệp và Môi trường có thể không quá lớn. Giá trị hàng hóa xuất khẩu sang khu vực liên quan đến xung đột ở Trung Đông hiện khoảng 2 tỉ USD.
Tuy nhiên, tác động gián tiếp đáng chú ý hơn, đặc biệt là những biến động về nguồn cung xăng dầu, khó khăn trong vận chuyển qua khu vực xung đột và chi phí logistics gia tăng. Bên cạnh các giải pháp trước mắt nhằm ứng phó với các diễn biến hiện nay, Bộ trưởng nhấn mạnh cần nghiên cứu các giải pháp căn cơ cho sự phát triển lâu dài của ngành đảm bảo tăng trưởng bền vững.
Theo ông Nguyễn Đình Thọ, Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường, Việt Nam đang từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt thông qua các sản phẩm chế biến sâu. Việc chuyển từ xuất khẩu nguyên liệu thô sang sản phẩm chế biến giúp gia tăng giá trị, nâng cao hiệu quả kinh tế và vị thế của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Ngay trong tháng đầu tiên của năm 2026, xuất khẩu cà phê đạt hơn 1 tỷ USD.
Ngành cà phê là ví dụ điển hình cho xu hướng này. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu càphê đạt 8,92 tỷ USD, tăng gần 59% so với năm trước, không chỉ nhờ giá tăng mà còn do sự chuyển dịch mạnh sang các sản phẩm rang xay, hòa tan và sản phẩm giá trị cao. Các sản phẩm chế biến sâu giúp gia tăng đáng kể giá trị xuất khẩu, đồng thời giảm phụ thuộc vào biến động giá nguyên liệu thô.
Đầu tư vào công nghệ chế biến và xây dựng thương hiệu đang trở thành xu hướng tất yếu. Nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước đã tăng cường đầu tư vào các nhà máy chế biến hiện đại, phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng cao và mở rộng thị trường xuất khẩu. Đây là bước chuyển quan trọng giúp nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo nền tảng phát triển bền vững cho ngành.
Theo ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam, năm 2026, ngành Cà phê đứng trước nhiều thuận lợi. Thời tiết đến nay chưa xuất hiện biến động bất thường, trong khi giá duy trì ở mức cao suốt ba năm qua, giúp nông dân có điều kiện tái đầu tư, chăm sóc vườn cây tốt hơn. Trên cơ sở đó, sản lượng niên vụ tới có thể tăng khoảng 10%.
Trong khi đó, ngành rau quả cũng ghi nhận bước phát triển tích cực. Theo ông Đinh Cao Khuê, Phó chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, tăng trưởng của ngành không chỉ về quy mô mà còn thể hiện sự chuyển biến về chất lượng, khi doanh nghiệp ngày càng chú trọng xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn, đầu tư chế biến và đa dạng hóa sản phẩm.
Theo ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, năm 2026, ngành rau quả vẫn còn dư địa tăng trưởng, song tốc độ sẽ ổn định hơn sau giai đoạn tăng “nóng”. Ngành có cơ sở đặt mục tiêu kim ngạch 9,5-10 tỷ USD, nhờ mở rộng thị trường cho các sản phẩm mới như dừa tươi, bưởi, cùng với sự gia tăng nhanh của nhóm hàng chế biến sâu.
Chuẩn hóa các vùng nguyên liệu
Để hiện thực hóa mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt 73–75 tỷ USD, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tập trung triển khai chuỗi giải pháp đồng bộ theo trục chiến lược “vùng nguyên liệu - tiêu chuẩn - chế biến - logistics - thị trường”.
Trọng tâm là chuẩn hóa các vùng nguyên liệu theo nhu cầu thực tế, mở rộng mã số vùng trồng và ao nuôi, đồng thời áp dụng nghiêm ngặt các tiêu chuẩn GAP hay sản xuất hữu cơ nhằm đảm bảo truy xuất nguồn gốc và an toàn thực phẩm. Ngành cũng đẩy mạnh chuyển đổi từ xuất khẩu thô sang chế biến sâu, ưu tiên đầu tư công nghệ bảo quản hiện đại và tận dụng phụ phẩm để tạo ra các chuỗi giá trị mới như vật liệu sinh học hay chiết xuất.
Trong lĩnh vực logistics, việc phát triển hệ thống kho lạnh và tối ưu hóa quy trình số tại các trung tâm logistics vùng sẽ giúp giảm chi phí, tăng giá trị gia tăng và rút ngắn thời gian thông quan. Song song đó, năng lực tiếp cận thị trường sẽ được nâng cao thông qua đàm phán tháo gỡ rào cản kỹ thuật và xây dựng thương hiệu theo phân khúc, chuyển mạnh từ xuất khẩu “nguyên liệu” sang “sản phẩm có tiêu chuẩn và câu chuyện”.
Đặc biệt, chuyển đổi xanh, đo lường giảm dấu chân carbon và phát triển kinh tế tuần hoàn được xác định là điều kiện tiên quyết để nông sản Việt Nam thâm nhập sâu vào các chuỗi bán lẻ cao cấp, hướng tới sự phát triển hiệu quả và bền vững.
Ở đó, khoa học công nghệ được xác định là động lực cốt lõi để nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh. Việc ứng dụng công nghệ trong sản xuất, chế biến và quản lý chuỗi giá trị không chỉ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn góp phần giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất và đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.
Các chuyên gia nhận định, trong bối cảnh thị trường toàn cầu còn nhiều biến động, việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ dựa vào sản lượng sang dựa vào chất lượng và giá trị gia tăng là xu hướng tất yếu. Quá trình này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả xuất khẩu mà còn tạo nền tảng cho phát triển bền vững trong dài hạn.
Theo ông Đặng Phúc Nguyên, trong bối cảnh các thị trường siết chặt mã số vùng trồng, người dân và doanh nghiệp cần tuân thủ tuyệt đối quy định, bởi chỉ một sai phạm cũng có thể gây rủi ro cho toàn ngành, đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của cơ quan quản lý. Trước áp lực cạnh tranh khu vực và tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu, giải pháp dài hạn là nâng chất lượng và độ đồng đều, cải thiện khâu đóng gói - chế biến, quy hoạch lại vùng trồng, áp dụng kỹ thuật canh tác thích ứng, đồng thời tăng liên kết giữa doanh nghiệp và hợp tác xã để kiểm soát vùng nguyên liệu và ổn định đầu ra.
Bộ trưởng Trần Đức Thắng khẳng định, mục tiêu năm 2026 của toàn ngành không chỉ là con số kim ngạch mà là cấu trúc tăng trưởng lành mạnh, có khả năng chống chịu trước biến động, giúp Việt Nam giữ vững nhịp xuất khẩu và nâng vị thế trong các chuỗi cung ứng xanh toàn cầu.
“Với tư duy “tăng trưởng đi cùng chất lượng và bền vững”, năm 2026, Bộ sẽ tiếp tục tập trung việc chuẩn hóa và mở rộng vùng nguyên liệu đạt chuẩn quốc tế, đẩy nhanh truy xuất nguồn gốc số đến từng lô hàng, coi dữ liệu là hạ tầng mới để rút ngắn thời gian chứng nhận, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Song hành với đó là chiến lược nâng tỉ trọng chế biến sâu và logistics xanh, chuyển từ tăng khối lượng sang tăng giá trị trên mỗi đơn vị sản phẩm, tận dụng dư địa của các ngành hàng chủ lực.
Một số trọng tâm chiến lược của ngành trong năm 2026 phải kể đến là tái cơ cấu ngành hàng, nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu quốc gia cho nông sản Việt; đẩy mạnh chuyển đổi số, thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc và minh bạch chuỗi giá trị; phát triển mô hình kinh tế xanh - kinh tế tuần hoàn - phát thải thấp; chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, bảo vệ tài nguyên, môi trường… để tạo điểm tựa, nguồn lực cho phát triển đất nước trong giai đoạn mới”, Bộ trưởng Trần Đức Thắng chia sẻ.
Nguồn: HOÀNG VĂN/kinhtenongthon.vn