Thực hiện tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng bền vững, tỉnh Sơn La đang triển khai nhiều giải pháp, trọng tâm là hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, đa dạng các loại cây trồng gắn với ứng dụng khoa học kỹ thuật và liên kết tiêu thụ sản phẩm, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cho người dân.
Những mô hình kinh tế hiệu quả của nông dân Tạ Khoa
Trở lại xã Tạ Khoa, cùng với diện mạo nông thôn ngày càng khởi sắc, chúng tôi còn được chứng kiến về những đổi thay trong phát triển kinh tế của bà con nơi đây. Với sự hỗ trợ của Hội Nông dân xã, đã xuất hiện nhiều mô hình kinh tế hiệu quả, phù hợp điều kiện đất dốc và khai thác lợi thế mặt nước lòng hồ sông Đà, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống hội viên nông dân.

Mô hình trồng nhãn, xoài của hội viên Hà Văn Thắng, bản Pót, xã Tạ Khoa.
Trước đây gia đình ông Hà Văn Thắng và hơn 30 hộ dân ở bản Pót chủ yếu canh tác ngô, sắn trên đất dốc nên hiệu quả kinh tế thấp, thu nhập bấp bênh, đất nhanh bạc màu. Năm 2020, thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất dốc, bà con đã mạnh dạn chuyển sang trồng nhãn, xoài, mận và cà phê, từng bước nâng cao thu nhập. Ông Thắng cho biết: 6 năm trước, sau khi được xã tuyên truyền và tổ chức tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc, gia đình đã cải tạo lại 2 ha đất nương dốc để đầu tư trồng xoài và nhãn, đầu tư hệ thống tưới nhỏ giọt và áp dụng quy trình chăm sóc khoa học. Ngoài ra, gia đình nuôi 10 con bò sinh sản, chủ động trồng cỏ và dự trữ thức ăn trong mùa khô. Việc kết hợp giữa trồng trọt và chăn nuôi giúp gia đình “lấy ngắn nuôi dài”, có vốn tái đầu tư. Đến nay, gia đình tôi đã có nguồn thu nhập ổn định trên 300 triệu đồng mỗi năm.
Còn tại bản Tà Đò, có 178 hộ và hơn 810 nhân khẩu, chủ yếu là dân tộc Thái, Mường, Mông nằm ven lòng hồ sông Đà, tận dụng mặt nước đánh bắt thủy sản, các hộ đã đầu tư nuôi cá lồng. Từ vài lồng nuôi ban đầu, có hộ đã phát triển lên 8-10 lồng nuôi chủ yếu trắm, chép, rô phi, cá lăng. Hằng năm cung cấp cho thị trường hàng chục tấn cá thương phẩm, mang lại nguồn thu ổn định. Dẫn chúng tôi thăm mô hình nuôi cá lồng của gia đình, ông Đinh Văn Trự, bản Tà Đò, kể: Năm 2015, tôi bắt đầu nuôi cá lồng, ban đầu chỉ với 2 lồng, đến nay đã phát triển lên 8 lồng chủ yếu nuôi chép, trắm, cá lăng; sản lượng đạt 10 tạ/năm. Ngoài ra, gia đình tôi còn đầu tư xây dựng chuồng nuôi hơn 50 con lợn đen và lợn nái. Nhờ đó, tổng thu nhập của gia đình đạt trên 200 triệu đồng mỗi năm, đời sống ngày càng ổn định và từng bước được nâng cao.

Mô hình nuôi cá lồng của hội viên Hội Nông dân xã Tạ Khoa.
Đồng hành với bà con trong sản xuất, Hội Nông dân xã Tạ Khoa tăng cường phối hợp mở các lớp tập huấn, chuyển giao kỹ thuật sản xuất, tích cực tuyên truyền, hướng dẫn hội viên phát triển các mô hình kinh tế mới. Hội cũng chủ động phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội nhận ủy thác, giúp 448 hộ hội viên vay vốn để phát triển sản xuất, thông qua 11 tổ tiết kiệm và vay vốn, tổng dư nợ đạt trên 27 tỷ đồng. Nhờ sử dụng vốn đúng mục đích, nhiều hộ có điều kiện phát triển kinh tế hiệu quả, đem lại thu nhập ổn định.
Ông Hà Văn Thuận, Chủ tịch Hội Nông dân xã, cho biết: Toàn xã có hơn 2.000 hội viên nông dân, sinh hoạt tại 23 chi hội. Hội đã vận động hội viên tích cực hưởng ứng phong trào “Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi”. Năm 2025, đã có 50 hộ được công nhận đạt danh hiệu sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp. Từ đầu năm đến nay, toàn xã có hơn 1.220 hộ đăng ký tham gia phong trào. Thông qua phong trào, nhiều mô hình hiệu quả được nhân rộng, mang lại thu nhập từ 200-300 triệu đồng mỗi năm, góp phần nâng cao đời sống và thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển bền vững.
Với sự đồng hành của Hội Nông dân và sự quan tâm, khuyến khích của chính quyền địa phương cùng với sự cần cù, chịu khó, không ngừng nỗ lực học hỏi và sáng tạo, nông dân xã Tạ Khoa đã và đang từng bước thay đổi tư duy, nếp nghĩ, cách làm, phát triển các mô hình sản xuất hiệu quả, nâng cao thu nhập, thay đổi cuộc sống để vươn lên trên chính mảnh đất quê hương.
Chiềng Khương đồng hành cùng các hợp tác xã
Xã Chiềng Khương có 9 HTX đang hoạt động, chủ yếu là HTX sản xuất nông nghiệp. Đồng hành cùng các HTX, xã đã tích cực hỗ trợ khoa học kỹ thuật, xây dựng thương hiệu sản phẩm OCOP và đẩy mạnh kết nối tiêu thụ sản phẩm, cải cách thủ tục hành chính. Qua đó, giúp các HTX mở rộng quy mô sản xuất, tăng thu nhập cho thành viên và tạo động lực mạnh mẽ cho quá trình chuyển đổi số, chuyển đổi xanh trong nông nghiệp vùng biên.

Nông dân bản Tân Lập, xã Chiềng Khương trao đổi kỹ thuật chăm sóc nhãn chín sớm.
Những ngày này, các thành viên HTX Dịch vụ Nông nghiệp Hưng Lộc, bản Tân Lập đang tập trung chăm sóc 30 ha nhãn chín sớm, mỗi héc ta cho thu nhập gần 500 triệu đồng và 16 ha nhãn Miền Thiết. Ông Trần Văn Lộc, Giám đốc HTX, cho biết: Toàn bộ diện tích nhãn của HTX được kiểm soát chặt chẽ theo quy trình VietGAP, áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật tỉa cành, tạo tán, bón phân hữu cơ và phòng trừ sâu bệnh an toàn sinh học. Đồng thời, đầu tư hệ thống tưới tiết kiệm và hệ thống lò sấy phục vụ chế biến long nhãn. Trong năm 2025, HTX được địa phương hỗ trợ xây dựng sản phẩm OCOP quả nhãn sấy khô, đây sẽ là cơ hội để HTX phát triển sản xuất và đẩy mạnh chế biến nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm.
Còn HTX dịch vụ nông nghiệp An Phú, bản Quyết Thắng có 7 thành viên, chuyên canh sản xuất trên 20 ha nhãn các loại. Bà Trần Thị An, Giám đốc HTX, chia sẻ: Thời điểm này, các thành viên HTX đang tập trung chăm sóc vụ nhãn năm 2026. Để đạt chất lượng và năng suất nhãn cao nhất, các thành viên tích cực trao đổi kinh nghiệm và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào thâm canh. Việc chuẩn hóa kỹ thuật theo tiêu chuẩn thị trường đã giúp sản phẩm nhãn của HTX được người tiêu dùng tin dùng, tạo việc làm thường xuyên và thu nhập ổn định cho các thành viên HTX.
Từ hiệu quả thực tế của các mô hình kinh tế tập thể, nông dân xã Chiềng Khương đã từng bước thay đổi tư duy sản xuất, chuyển dịch mạnh mẽ từ sản xuất nhỏ lẻ, sang sản xuất tập trung, liên kết thành lập HTX, tham gia liên kết thành lập chuỗi giá trị, kết nối tiêu thụ nông sản; chuyển đổi canh tác truyền thống, sang áp dụng khoa học kỹ thuật, ứng dụng công nghệ cao hoặc sản xuất theo hướng hữu cơ, nâng cao chất lượng, giá trị cho nông sản địa phương. Sự chuyển dịch tích cực này đã giúp địa phương hình thành các vùng chuyên canh tập trung, thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững.
Ông Tòng Văn An, Phó Chủ tịch UBND xã Chiềng Khương, cho biết: Trong năm 2025, xã đã phối hợp với đơn vị tư vấn hướng dẫn các HTX hoàn thiện hồ sơ trình UBND tỉnh công nhận thêm 2 sản phẩm OCOP địa phương. Xã chỉ đạo Trung tâm Dịch vụ tổng hợp tăng cường mở các lớp tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật giúp nông dân đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp, gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm trong chuỗi giá trị. Đồng thời, khuyến khích các HTX phát triển nông nghiệp công nghệ cao và nông nghiệp tuần hoàn, nâng cao chất lượng sản phẩm nông sản hàng hóa chủ lực của tỉnh theo chuỗi giá trị, gắn với xây dựng, phát triển và bảo vệ thương hiệu, tạo ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu.
Bên cạnh đó, xã khuyến khích doanh nghiệp, HTX ký kết hợp đồng sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản với nông dân; phát triển các nhóm nông dân hợp tác tự nguyện, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị. Duy trì và phát triển bền vững nhãn hiệu các sản phẩm nông sản đã được bảo hộ, gắn với phát triển các sản phẩm OCOP. Tăng cường xúc tiến thương mại để nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nông sản trên thị trường. Đồng thời, chính quyền cam kết tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, không ngừng cải cách hành chính, hỗ trợ toàn diện cho các HTX từ khâu đăng ký thành lập, tiếp cận vốn vay đến quá trình sản xuất kinh doanh, gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trọng điểm của địa phương.
Với những giải pháp hỗ trợ, xã Chiềng Khương đã và đang đồng hành cùng các HTX phát triển, trở thành những nhân tố nòng cốt trong phát triển kinh tế địa phương, là đầu tàu phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và liên kết chuỗi giá trị, giúp xã phát triển nông thôn mới bền vững.
Phát triển vùng sản xuất nông nghiệp tập trung

Cán bộ xã Gia Phù hướng dẫn nông dân cách phòng trừ bệnh trên rau màu.
Sau khi sáp nhập 4 xã: Tường Phù, Gia Phù, Suối Bau và Sập Xa, đã mở ra không gian phát triển mới cho xã Gia Phù, với diện tích đất nông nghiệp lớn, khí hậu, thổ nhưỡng và nguồn nước dồi dào. Xã đã tập trung quy hoạch các vùng sản xuất có quy mô phù hợp, đồng bộ về giao thông, thuận lợi cho cơ giới hóa và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật. Một trong những giải pháp được xã Gia Phù triển khai sớm và quyết liệt là dồn điền đổi thửa, tích tụ ruộng đất. Trên cơ sở quy hoạch, xã tuyên truyền, vận động nhân dân dồn đổi, hình thành các thửa ruộng liền vùng, liền thửa.
Đến nay, bình quân mỗi hộ chỉ còn từ 1 - 2 thửa đất ruộng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thâm canh, cơ giới hóa đồng bộ, giảm chi phí sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế trên cùng diện tích canh tác. Cùng với đó, xã khuyến khích các hộ có nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất thực hiện tích tụ ruộng đất thông qua thuê, mượn hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định. Khuyến khích nhân dân trồng các giống lúa đặc sản, hữu cơ; các loại rau màu như: ngô sinh khối, tỏi, bắp cải… tại các phiêng bãi dọc suối Tấc. Đặc biệt, thời gian gần đây, xã đã đưa vào trồng cây ăn quả có múi và thử nghiệm nhiều cây trồng mới, như ớt chỉ địa ở các bản trung tâm; mía, măng bát độ ở các bản vùng cao.
Bản Bùa Chung 2 là một trong những bản tiêu biểu của xã Gia Phù về phát triển cây ăn quả, mang lại thu nhập ổn định cho các hộ dân. Ông Lò Văn Viết, một trong những hộ đi đầu trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng của bản, chia sẻ: Được chính quyền hỗ trợ vốn vay, gia đình đã đào ao nuôi cá; cải tạo 1,5 ha đất nương để trồng gần 500 gốc mít Thái, cam đường canh, ổi không hạt theo hướng hữu cơ và lắp đặt hệ thống tưới tiết kiệm; tận dụng phân bón từ chăn nuôi để bón cho cây trồng, giảm một phần chi phí sản xuất. Mỗi năm gia đình thu nhập ổn định trên 200 triệu đồng.
Còn tại bản Nà Kên, những ngày này, trên cánh đồng trải dài là những luống ớt sai trĩu quả, đang chờ ngày thu hoạch. Đây là thành quả sau hơn 90 ngày xuống giống và chăm sóc bền bỉ của bà con. Để cây trồng mới này trở thành hàng hóa xuất khẩu, chính quyền xã đã phối hợp với HTX Tâm Tín triển khai mô hình theo chuỗi giá trị. Trên mỗi thửa ruộng ớt đều được đánh số thứ tự để thuận tiện cho việc theo dõi, giám sát quy trình chăm sóc và truy xuất nguồn gốc. Hiện nay, bà con nông dân trong xã đã liên kết góp đất trồng gần 6 ha ớt chỉ địa xuất khẩu sang Hàn Quốc; năng suất trung bình dự kiến đạt 15 tấn/ha/năm.
Ông Cầm Văn Thiêu, bản Nà Kên, xã Gia Phù, cho biết: Gia đình được HTX hướng dẫn chi tiết từ trồng, chăm sóc, cách tưới nước, bón phân bổ sung cho đến phương pháp phòng trừ sâu bệnh theo quy trình an toàn. Đặc biệt, kỹ thuật hái quả cũng được hướng dẫn kỹ để không làm ảnh hưởng đến các lứa hoa và quả non sau này, đảm bảo cây có thể cho thu hoạch đến hết vụ. Với 0,2 ha đất ruộng, sau hơn 2 tháng trồng, ớt bắt đầu cho thu hoạch, sản phẩm được thu mua ổn định với giá 20.000 đồng/kg. Dự kiến hết vụ, gia đình thu hoạch hơn 2 tấn ớt.
Tận dụng ruộng đất sau thu hoạch lúa, nông dân xã Gia Phù còn trồng các loại rau màu, trong đó cây tỏi được xác định là cây trồng chủ lực. Ông Đinh Văn Bình, Giám đốc HTX sản xuất và kinh doanh tỏi Phù Yên, cho biết: Tỏi dễ trồng, thời gian sinh trưởng ngắn, phù hợp với đất ruộng sau vụ lúa mùa. Ban đầu chỉ vài hộ tham gia trồng thử nghiệm, đến nay HTX liên kết với 60 hộ dân trồng, bao tiêu đầu ra, với tổng diện tích hơn 10 ha; hằng năm, HTX thu mua khoảng 2 tấn tỏi tươi cho bà con. Hiện nay, HTX còn đẩy mạnh chế biến, sản xuất tỏi đen, miến tỏi đen đạt tiêu chuẩn sản phẩm OCOP 3 sao.
Gắn lợi thế của từng vùng, đưa nhiều loại cây trồng vào sản xuất đã tạo tiền đề quan trọng để xã Gia Phù hình thành các chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ, hướng tới nền nông nghiệp bền vững. Bà Ninh Thị Tâm Bình, Chủ tịch UBND xã, chia sẻ: Với sự đồng hành của cấp ủy, chính quyền địa phương, sự năng động của nhân dân, sản xuất nông nghiệp của xã có bước chuyển mình rõ rệt. Các chỉ tiêu về sản xuất nông nghiệp đều đạt và vượt kế hoạch đề ra. Năm 2025, diện tích cây lương thực đạt 1.622 ha, sản lượng đạt 8.338 tấn, đạt 110% so với kế hoạch; diện tích cây hằng năm trên 630 ha, sản lượng 10.345 tấn; cây màu vụ đông tăng với 206 ha, đạt 224% so với kế hoạch. Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tăng dần qua các năm thông qua việc đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ, ứng dụng khoa học kỹ thuật và chuyển đổi cơ cấu cây trồng.
Việc hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, Sơn La đã và đang tạo động lực quan trọng cho phát triển nông nghiệp, góp phần thực hiện hiệu quả mục tiêu tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới tại địa phương.
Nguồn: V.N (TỔNG HỢP)/kinhtenongthon.vn