
Vùng đồng bằng được định hướng trở thành trung tâm sản xuất nông nghiệp hàng hóa, chất lượng cao của Ninh Bình.
Mỗi vùng một lợi thế, mỗi sản phẩm một hướng đi
Theo Đề án cơ cấu lại ngành nông nghiệp tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2026-2030, việc phân vùng sản xuất nhằm phát huy lợi thế so sánh của từng khu vực, hình thành các vùng sản xuất tập trung, chuyên canh quy mô lớn và vùng ứng dụng công nghệ cao. Đây cũng là cách tổ chức sản xuất gắn với bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả đất, nước, rừng và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, thiên tai cực đoan.
Vùng đồng bằng có quy mô khoảng 85-90 nghìn hecta, được xác định là trung tâm sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Với hệ thống thủy lợi tương đối hoàn chỉnh, khu vực này được định hướng phát triển nông nghiệp hàng hóa, công nghệ cao, đa dạng cây trồng, vật nuôi.
Trọng tâm là các vùng lúa hàng hóa, lúa chất lượng cao, lúa hữu cơ gắn với chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và chỉ dẫn địa lý. Cùng với lúa, rau màu, cây thực phẩm, cây ngắn ngày được phát triển để đáp ứng nhu cầu của người dân trong tỉnh và các đô thị lân cận. Các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao liên vùng tại những địa bàn có lợi thế được mở rộng, gắn với sản xuất thông minh, số hóa quản lý canh tác và truy xuất nguồn gốc.
Điểm đáng chú ý là, sản xuất đồng bằng không chỉ dừng ở việc hình thành vùng nguyên liệu. Đề án đặt yêu cầu kết nối từ sản xuất đến xay xát, chế biến, bảo quản và tiêu thụ; khuyến khích cánh đồng lớn, HTX kiểu mới và liên kết nông dân - doanh nghiệp - nhà khoa học. Đây là điều kiện để nâng giá trị hạt gạo, thay vì tiếp tục phụ thuộc vào sản lượng và thị trường tiêu thụ thô.
Vùng trung du, với quy mô khoảng 70-75 nghìn hecta, gồm Gia Viễn, Yên Mô, Nho Quan, là không gian chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi. Địa hình đa dạng tạo điều kiện phát triển nông nghiệp sinh thái, cây ăn quả, cây dược liệu và chăn nuôi tập trung.


Vùng trung du phát triển cây ăn quả, cây dược liệu và chăn nuôi tập trung gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm.
Những vùng cây ăn quả chủ lực như bưởi, cam, nhãn, ổi, chuối được định hướng phát triển gắn với cơ sở chế biến. Đối với cây dược liệu như thìa canh, đinh lăng, ba kích, nghệ, gừng..., hướng đi được xác định là hình thành vùng nguyên liệu phục vụ chế biến, chiết xuất tinh dầu và dược phẩm.
Chăn nuôi tại khu vực này cũng được tổ chức theo hướng tập trung, khép kín, gắn với giết mổ, chế biến và tiêu thụ. Cùng với đó là các mô hình nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái kết hợp du lịch trải nghiệm nông thôn. Lợi thế đất đai, cảnh quan còn mở ra hướng trồng rừng sản xuất, rừng phòng hộ, cây lâm nghiệp đa mục đích và phát triển kinh tế dưới tán rừng.
Nếu đồng bằng là vùng trọng điểm của nông nghiệp hàng hóa, trung du là không gian để phát triển nông nghiệp sinh thái và đa dạng sản phẩm, thì vùng rừng và du lịch sinh thái lại đặt trọng tâm vào giá trị của hệ sinh thái.
Với quy mô khoảng 60-65 nghìn hecta, vùng này bao gồm các khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn, khu du lịch sinh thái rừng và vùng ngập mặn. Đề án định hướng quản lý rừng theo hướng bền vững, áp dụng tiêu chuẩn FSC, tăng diện tích rừng tự nhiên, rừng đặc dụng, phát triển dịch vụ môi trường rừng và du lịch sinh thái.
Một hướng đi giàu tiềm năng là phát triển mô hình nông - lâm kết hợp, nông nghiệp hữu cơ dưới tán rừng, vừa tạo thêm sinh kế cho người dân vùng đệm, vừa giảm áp lực khai thác tài nguyên. Không gian Cúc Phương - Vân Long - Hoa Lư - Tam Cốc - Bái Đính cùng hệ thống rừng ngập mặn được định hướng kết nối thành vành đai du lịch sinh thái và nông nghiệp xanh.

Không gian rừng và du lịch sinh thái được định hướng phát triển lâm nghiệp bền vững, kinh tế dưới tán rừng và dịch vụ hệ sinh thái.
Vùng ven biển, quy mô khoảng 35-40 nghìn hecta, có lợi thế đặc biệt về tài nguyên nước, bãi triều và cửa sông, được định hướng phát triển kinh tế biển tổng hợp. Trọng tâm là nuôi trồng, khai thác thủy sản, chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá.
Các vùng nuôi tập trung quy mô lớn được tổ chức theo hướng công nghệ cao, nuôi tuần hoàn, nuôi sinh thái. Những đối tượng có giá trị kinh tế, xuất khẩu như tôm thẻ chân trắng, ngao, hàu, cá bống bớp, cá song được ưu tiên. Khai thác hải sản xa bờ gắn với hiện đại hóa đội tàu, cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão và xây dựng chuỗi logistics thủy sản.
Không gian ven biển cũng không được phát triển bằng mọi giá. Khôi phục rừng ngập mặn, bảo vệ bãi triều, kết hợp thủy sản với du lịch sinh thái biển và trải nghiệm nông nghiệp ven biển là những yêu cầu xuyên suốt. Nghề muối truyền thống tại một số khu vực được duy trì, nhưng theo hướng nâng chất lượng và giá trị sản phẩm.
Từ phân vùng đến tổ chức lại sản xuất
Phân vùng mới chỉ là bước đầu. Để biến lợi thế tự nhiên thành giá trị kinh tế, Ninh Bình cần đồng thời giải quyết các điểm nghẽn về quy hoạch, đất đai, hạ tầng, tổ chức sản xuất, công nghệ và thị trường.
Trước hết, phải quản lý chặt không gian sản xuất, tránh tình trạng phát triển tự phát hoặc chạy theo phong trào. Những vùng đã hình thành các khu chăn nuôi bò sữa, chăn nuôi lợn cần được duy trì, nâng năng suất và hiệu quả, nhưng phải bảo đảm quy hoạch, môi trường, an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm và từng bước hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật.
Cùng với quy hoạch, cần tạo điều kiện tích tụ, tập trung đất đai để hình thành vùng sản xuất đủ lớn. HTX phải trở thành hạt nhân tổ chức sản xuất, thống nhất quy trình và kiểm soát chất lượng; doanh nghiệp tham gia sâu vào khâu cung ứng vật tư, chế biến, bảo quản và tiêu thụ. Đề án cũng đặt trọng tâm vào đổi mới tổ chức sản xuất, chuyển sang liên kết sản xuất - tiêu thụ và phát triển các hình thức sản xuất theo chuỗi giá trị.

Vùng ven biển phát triển nuôi trồng thủy sản tập trung, công nghệ cao gắn với chế biến và bảo vệ hệ sinh thái ven biển.
Hạ tầng phải đi trước một bước. Vùng sản xuất tập trung chỉ có thể vận hành hiệu quả khi được kết nối đồng bộ với thủy lợi, giao thông nội đồng, điện, kho bảo quản, cơ sở sơ chế, chế biến và logistics. Đặc biệt, với vùng ven biển, cần đồng bộ hạ tầng nuôi trồng, cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão, giống thủy sản và dịch vụ hậu cần.
Khoa học - công nghệ cũng cần được lựa chọn phù hợp với từng tiểu vùng. Đồng bằng ưu tiên cơ giới hóa, sản xuất thông minh, số hóa và truy xuất nguồn gốc; trung du chú trọng công nghệ giống, chế biến cây ăn quả, dược liệu và chăn nuôi khép kín; vùng rừng phát triển công nghệ quản lý tài nguyên, dịch vụ môi trường rừng và sản xuất dưới tán rừng; vùng ven biển đẩy mạnh công nghệ nuôi tuần hoàn, kiểm soát môi trường nước, sản xuất giống và chế biến thủy sản.
Đặc biệt, không thể cơ cấu lại không gian sản xuất nếu thiếu thị trường. Mỗi vùng cần xác định sản phẩm chủ lực, xây dựng vùng nguyên liệu gắn với thương hiệu, tiêu chuẩn chất lượng và hệ thống phân phối. Với lúa hàng hóa phải gắn chế biến và thương hiệu gạo; với cây ăn quả, dược liệu phải gắn nhà máy chế biến; với thủy sản phải hình thành chuỗi từ con giống, nuôi trồng, khai thác đến chế biến, logistics và xuất khẩu.
Cùng với đó, cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý vùng sản xuất, truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử và xúc tiến thương mại; đào tạo nông dân trở thành những người sản xuất chuyên nghiệp, biết sử dụng công nghệ và nắm bắt nhu cầu thị trường.

Cơ giới hóa, ứng dụng khoa học - công nghệ là giải pháp nâng năng suất và giá trị sản xuất nông nghiệp.
Một yêu cầu xuyên suốt là phát triển nhưng không đánh đổi môi trường. Bốn tiểu vùng phải được tổ chức trong cùng một hệ sinh thái liên kết: đồng bằng bảo đảm sản xuất hàng hóa và an ninh lương thực; trung du phát triển nông nghiệp sinh thái; vùng rừng giữ vai trò bảo tồn và tạo sinh kế xanh; vùng ven biển phát triển kinh tế biển đi đôi với bảo vệ rừng ngập mặn, bãi triều và nguồn lợi thủy sản.
Cách tiếp cận này phù hợp với mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp tích hợp đa giá trị, trong đó sản xuất không tách rời bảo vệ tài nguyên, cảnh quan và phát triển du lịch. Tài liệu Đề án cũng xác định tổ chức lại không gian sản xuất theo 4 tiểu vùng là một giải pháp để thích ứng linh hoạt với xâm nhập mặn, thiên tai và biến đổi khí hậu, đồng thời thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải và bảo tồn đa dạng sinh học.
Từ đồng bằng đến trung du, từ những cánh rừng đến vùng biển, mỗi không gian đều có một lợi thế riêng. Cơ cấu lại sản xuất vì thế không phải là chia lại địa bàn, mà là tổ chức lại cách khai thác lợi thế để tạo ra giá trị cao hơn. Khi sản xuất được đặt đúng vùng, đúng sản phẩm, đúng công nghệ và đúng thị trường, nông nghiệp Ninh Bình sẽ có thêm dư địa tăng trưởng, đồng thời tạo nền tảng cho một kinh tế nông thôn xanh, sinh thái và bền vững./.