Làm vườn và NN xanh/NN tuần hoàn

Nông nghiệp tuần hoàn - Lời giải cho bài toán phát triển xanh và bền vững

10/10/2026, 20:58

Từ rơm rạ sau thu hoạch đến chuối chín khó bán, nhiều nông dân đang tìm cách biến phụ phẩm thành phân bón, chế phẩm sinh học và sản phẩm có giá trị phát triển kinh tế tuần hoàn.

Tây Ninh: Rơm rạ không đốt, quay trở lại làm giàu cho đất

Sau mỗi vụ lúa, trên cánh đồng lại còn một lượng lớn rơm rạ. Nếu bị đốt, thứ tưởng như bỏ đi ấy không chỉ tạo khói bụi, gây ô nhiễm môi trường mà còn làm mất đi nguồn hữu cơ có thể quay trở lại nuôi đất. Ở những vườn chuối, câu chuyện cũng tương tự. Khi thị trường tiêu thụ chậm, những trái chuối chín nhanh trở thành áp lực đối với nhà vườn. Bán thì giá thấp, để lâu lại hư hỏng. Nhưng tại Tây Ninh, những phụ phẩm ấy hiện đang được nhìn theo một cách khác.

Không còn đơn thuần là thứ phải xử lý sau sản xuất, rơm rạ và chuối chín đang được đặt vào một vòng tuần hoàn mới, nơi phụ phẩm có thể trở thành đầu vào cho vụ sản xuất tiếp theo hoặc nguyên liệu để tạo ra sản phẩm mới. Đây cũng là hướng đi được đặt ra trong Dự án “Tuyên truyền, vận động nông dân áp dụng canh tác lúa thân thiện với môi trường, góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050” ở Tây Ninh. Tại phường Long An, mới đây Hội Nông dân tỉnh Tây Ninh đã tổ chức hội thảo kết nối dự án, với sự tham gia của cơ quan quản lý, doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân.

Anh Trần Anh Thy (đội nón) và sản phẩm sinh học từ chuối chín. Ảnh: Trần Đáng

Trong sản xuất lúa, rơm rạ từng được xem là phần việc phải xử lý thật nhanh sau khi máy gặt rời khỏi ruộng. Với không ít cánh đồng, cách làm quen thuộc là đốt ngay tại ruộng. Tuy nhiên, cách làm này đang đứng trước yêu cầu phải thay đổi khi sản xuất nông nghiệp ngày càng gắn với mục tiêu giảm phát thải, bảo vệ đất và nâng cao chất lượng nông sản. Tại hội thảo, Hội Nông dân tỉnh Tây Ninh và Công ty Phát triển nông nghiệp Phương Nam thống nhất tuyên truyền, vận động nông dân cam kết không đốt rơm rạ sau thu hoạch; đồng thời chuyển giao và ứng dụng chế phẩm sinh học Sumitri để phân hủy rơm rạ trực tiếp trên đồng ruộng.

Theo tài liệu của dự án, cách làm này nhằm tạo nguồn phân bón hữu cơ, góp phần cải tạo đất, giảm khí thải nhà kính và hạn chế ô nhiễm môi trường. Điều đáng nói nằm ở cách nhìn về rơm rạ. Nếu đốt, rơm rạ kết thúc vòng đời ngay sau khi thu hoạch. Nếu được xử lý bằng chế phẩm sinh học và đưa trở lại đồng ruộng, nguồn phụ phẩm này tiếp tục tham gia vào chu trình sản xuất. Một bên là chi phí và nguy cơ ô nhiễm; bên kia là nguồn hữu cơ có thể quay trở lại với đất. Dự án được triển khai tại 4 xã gồm Long Thuận, Phước Chỉ, Hiệp Hòa và Hòa Khánh. Đây là những địa bàn nằm ngoài vùng Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao của tỉnh. Việc đưa dự án về những địa phương này được kỳ vọng giúp lan tỏa kỹ thuật canh tác thân thiện với môi trường đến những vùng nông dân còn ít điều kiện tiếp cận.

Theo ông Nguyễn Thanh Tùng – Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Tây Ninh, Trưởng ban Quản lý Dự án Lúa tỉnh, mục tiêu của dự án không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác mà còn hướng tới giảm chi phí đầu vào, quản lý hiệu quả nguồn nước và rơm rạ. “Điều quan trọng nhất là làm sao để lợi ích từ việc giảm phát thải được đo bằng chính chi phí sản xuất giảm xuống, giá trị nông sản tăng lên và đầu ra ổn định cho nông dân”, ông Tùng nhấn mạnh.

Đây cũng là điểm mấu chốt để kinh tế tuần hoàn có thể đi vào thực tế sản xuất. Nông dân không chỉ được hướng tới việc làm ra nhiều lúa hơn, mà hạt gạo phải đáp ứng yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm, giảm phát thải và gắn với thị trường. Từ cọng rơm trên đồng ruộng, một vòng tuần hoàn mới đang được đặt ra: sản phẩm chính là hạt lúa, còn phụ phẩm không nhất thiết phải trở thành chất thải.

Nếu câu chuyện rơm rạ cho thấy phụ phẩm có thể quay trở lại phục vụ chính cánh đồng, thì tại vùng quê xã Phước Lý, tỉnh Tây Ninh, anh Trần Anh Thy lại chọn một hướng khác: biến chuối chín dư thừa thành sản phẩm phục vụ cây trồng. “Ở vùng trồng chuối, khi thị trường tiêu thụ chậm, những trái chuối chín nhanh có thể trở thành nỗi lo của nhà vườn. Chuối càng để lâu càng khó bán, trong khi bán ngay lúc thị trường xuống thấp thì giá trị thu về không cao”, anh Thy cho biết.

Từ thực tế ấy, anh Thy đặt câu hỏi: thay vì xem chuối chín dư thừa là thứ phải bỏ đi, liệu có thể biến chúng thành một sản phẩm mới? Năm 2022, anh bắt đầu nghiên cứu, làm thử và hoàn thiện chế phẩm dịch chuối cùng GE nha đam bằng phương pháp lên men sinh học. Một nguyên liệu tưởng như chuẩn bị trở thành phế phẩm đã tạo ra hai dòng giá trị. Dòng thứ nhất là dịch lên men được sử dụng cho cây trồng. Dòng thứ hai là phần bã tiếp tục quay trở lại làm phân hữu cơ. Theo anh Thy, dịch chuối có hàm lượng dinh dưỡng hữu cơ, giàu kali, được sử dụng cho hoa lan, cây cảnh, rau màu và cây ăn trái. Sản phẩm sau lên men được kiểm tra với các tiêu chí về mùi thơm dịu, không mốc, pH khoảng 3,5–4,5 và thời gian bảo quản từ 6–12 tháng. Đáng chú ý, sản phẩm đã bước ra khỏi phạm vi thử nghiệm hộ gia đình. Từ chiếc thùng ủ, dịch chuối được đưa lên các nền tảng bán hàng trực tuyến. Hồ sơ ghi nhận sản phẩm đạt gần 10.000 lượt bán trên TikTok Shop và trên Shopee. GE nha đam cũng đạt hơn 529 lượt bán trên TikTok Shop và 317 lượt bán trên Shopee. (Trích nguồn từ Giải pháp dự thi Hội thi sáng tạo kỹ thuật nhà nông tỉnh Tây Ninh lần thứ I, năm 2025 -2026).

Từ rơm rạ đến chuối chín, điểm chung là thay đổi cách nhìn về thứ từng bị xem là “bỏ đi”. Với rơm rạ, thay vì đốt, phụ phẩm được xử lý để trở lại đồng ruộng. Với chuối chín, thay vì để hư hỏng hoặc bán với giá thấp, nguyên liệu được lên men thành sản phẩm phục vụ cây trồng. Và khi những cọng rơm không còn bị đốt, những trái chuối chín không còn mặc định là đồ bỏ đi, phụ phẩm nông nghiệp bắt đầu có một “đời sống” thứ hai – ngay trên đồng ruộng và trong thị trường. Kinh tế tuần hoàn đang sinh sôi, phát triển ở Tây Ninh.

Còn nhiều rào cản

Theo Chủ tịch Hội đồng Doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam Hà Văn Thắng, thời gian qua, có một số doanh nghiệp và người dân áp dụng kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp, nhằm tối ưu hóa quy trình sản xuất, như: Ứng dụng chế phẩm vi sinh để sản xuất phân bón hữu cơ từ rơm rạ và chất thải chăn nuôi, sản xuất rau, lúa hữu cơ… Các ứng dụng này đã góp phần tăng thu nhập khoảng 15% so với mô hình sản xuất truyền thống. Ngoài ra, chất thải ở các mô hình chăn nuôi trâu, bò thịt tuần hoàn gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm thực hiện tại các tỉnh, thành phố: Phú Thọ, Hưng Yên, Lào Cai, Tuyên Quang và Hà Nội còn tạo nguồn phân bón hữu cơ vi sinh để phục vụ cây trồng, hình thành vòng tuần hoàn cho sản xuất nông nghiệp.

Mặc dù có tiềm năng và lợi thế, song sản xuất nông nghiệp theo hướng tuần hoàn vẫn còn gặp nhiều khó khăn, do khung chính sách về phát triển kinh tế tuần hoàn chưa được hoàn thiện. Việc liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị còn hạn chế, nhiều mô hình hợp tác xã hoạt động chưa hiệu quả, dẫn đến những khó khăn trong đầu tư, áp dụng công nghệ, quy trình vào sản xuất, nhất là sản xuất theo hướng tuần hoàn. Việc phổ biến sản xuất nông nghiệp tuần hoàn ở nhiều nơi còn hạn chế, chưa có giải pháp phù hợp cho từng vùng miền, từng nhóm sản phẩm, quy mô trang trại và doanh nghiệp. Phần lớn các mô hình này còn mang tính tự phát, thiếu liên kết vùng, thiếu cơ chế hỗ trợ đồng bộ về vốn, kỹ thuật và đầu ra thị trường.

Còn theo Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Kinh doanh, Chế biến nông sản Bảo Minh (phường Định Công) Bùi Thị Hạnh Hiếu, việc phát triển nông nghiệp tuần hoàn vẫn còn rời rạc, chưa hình thành chuỗi khép kín từ giống, canh tác, thu hoạch, chế biến đến tiêu thụ và tái tạo tài nguyên. Một số người dân làm nông nghiệp còn sản xuất theo tư duy tuyến tính, tăng năng suất bằng mọi giá, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người.

Từ giảm phát thải đến tạo ra đa giá trị

Chuyển đổi xanh không chỉ là yêu cầu tất yếu trước những thách thức về biến đổi khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học và an ninh môi trường, mà còn mở ra cơ hội để Việt Nam đổi mới mô hình phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sinh thái, tuần hoàn, phát thải thấp và bền vững.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, quá trình chuyển đổi đang được triển khai đồng bộ trên nhiều lĩnh vực, từ cơ cấu lại sản xuất, nông nghiệp hữu cơ, kinh tế tuần hoàn, phát thải thấp, công nghệ sinh học, công nghệ cao, khoa học - công nghệ đến chuyển đổi số, tiêu chuẩn, quy chuẩn và truy xuất nguồn gốc.Cách tiếp cận này từng bước đưa nông nghiệp từ mô hình chủ yếu dựa vào năng suất, sản lượng sang tạo ra đa giá trị về kinh tế, môi trường, xã hội và khả năng chống chịu.

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi vẫn đối mặt với không ít thách thức. Việt Nam chưa hình thành đầy đủ hệ thống nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn vận hành đồng bộ ở quy mô lớn. Nhiều kết quả còn phân tán giữa các mô hình sản xuất, chương trình nghiên cứu, nhiệm vụ môi trường, hệ thống dữ liệu và thị trường.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Sỹ Linh, Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, để phát triển và chuyển đổi hệ thống lương thực bền vững từ các mô hình nông nghiệp sinh thái, cần thực hiện một số chuyển đổi căn bản.Đó là chuyển từ hộ sản xuất riêng lẻ sang quản trị vùng sinh thái; từ sản phẩm đơn lẻ sang chuỗi giá trị; từ quản lý đầu vào sang quản lý kết quả; đồng thời chuyển từ hỗ trợ từng mô hình sang đầu tư cho năng lực của cả hệ thống.

Theo ông, việc hỗ trợ nông dân mua vật tư chỉ giải quyết một phần vấn đề. Quan trọng hơn là phải đầu tư cho hệ sinh thái hỗ trợ gồm hạ tầng thủy lợi, kho bãi, logistics, dữ liệu, dịch vụ kỹ thuật, khuyến nông và năng lực tổ chức sản xuất.

Thực tế từ các hợp tác xã cho thấy, khi kinh tế tuần hoàn được gắn với bài toán chi phí và thị trường, lợi ích của chuyển đổi xanh có thể được nhìn thấy khá rõ.Ông Trần Quốc Toản, Giám đốc Hợp tác xã Toản Xuân, tỉnh Ninh Bình, cho biết đơn vị đang chuyển từ phương thức sản xuất phụ thuộc nhiều vào đầu vào hóa học sang tăng cường thực hành tuần hoàn trong chuỗi lúa gạo, với trọng tâm là phục hồi đất và đưa phụ phẩm trở lại phục vụ sản xuất.

Theo đó, trấu được ép viên làm nhiên liệu sấy và cung cấp cho các cơ sở sử dụng năng lượng sinh khối. Một phần trấu được đưa đến các trang trại chăn nuôi làm đệm lót sinh học. Nguồn phân sau đó được thu hồi, xử lý thành phân hữu cơ phục vụ vùng nguyên liệu.Việc thay thế than bằng trấu ép viên giúp chi phí sấy giảm từ khoảng 80.000 đồng xuống còn 50.000 đồng/tấn thóc. Như vậy, tuần hoàn phụ phẩm không chỉ góp phần giảm chất thải, hạn chế tác động môi trường mà còn trực tiếp tạo ra hiệu quả kinh tế cho chuỗi sản xuất.

Theo ông Toản, năm 2026, Hợp tác xã Toản Xuân tiếp tục xây dựng vùng lúa hữu cơ sinh thái tập trung tại khu vực bãi bồi xã Giao Minh, tỉnh Ninh Bình, hướng tới đáp ứng tiêu chuẩn USDA Organic. Tuy nhiên, để mô hình phát triển ổn định, hợp tác xã cho rằng cần thêm chính sách hỗ trợ xây dựng vùng nguyên liệu, thu gom và xử lý phụ phẩm, tiếp cận chứng nhận cũng như duy trì liên kết lâu dài với nông dân.

Chia sẻ lợi ích để chuyển đổi bền vững

Các mô hình nông nghiệp xanh, sinh thái, tuần hoàn đang ngày càng được triển khai rộng tại nhiều địa phương, doanh nghiệp và hợp tác xã. Tuy nhiên, để chuyển từ những mô hình riêng lẻ thành động lực tăng trưởng mới của nông nghiệp, vấn đề không chỉ nằm ở công nghệ hay quy trình sản xuất, mà còn ở khả năng tổ chức lại chuỗi giá trị và phân bổ lợi ích hài hòa giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân.

Đây cũng là vấn đề đặt ra đối với nhiều mô hình nông nghiệp xanh hiện nay: chi phí chuyển đổi thường phát sinh ngay từ đầu, trong khi lợi ích về môi trường và thị trường cần thời gian mới có thể hình thành.Nếu không có cơ chế chia sẻ lợi ích phù hợp, nông dân có thể trở thành mắt xích phải gánh phần lớn chi phí chuyển đổi, trong khi giá trị gia tăng lại tập trung ở những khâu phía sau của chuỗi.

Từ thực tế trên theo các chuyên gia yêu cầu đặt ra trong giai đoạn tới của nông nghiệp xanh là chuyển từ tối đa hóa sản lượng sang tối ưu hóa tổng giá trị; từ quản lý hộ riêng lẻ sang quản trị vùng sinh thái; từ sản phẩm đơn lẻ sang chuỗi giá trị; từ quản lý đầu vào sang đánh giá kết quả.

Nguồn lực hỗ trợ cũng cần được điều chỉnh theo hướng đầu tư nhiều hơn cho hạ tầng, dữ liệu, khuyến nông, nghiên cứu ứng dụng và năng lực của hợp tác xã. Đặc biệt, cơ chế chia sẻ lợi ích giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân cần được xem là một cấu phần quan trọng của quá trình chuyển đổi. Khi người nông dân có thu nhập tốt hơn từ việc áp dụng quy trình xanh; hợp tác xã có đủ nguồn lực để tổ chức vùng nguyên liệu; doanh nghiệp có nguồn cung ổn định, sản phẩm đạt tiêu chuẩn và thị trường được mở rộng, chuyển đổi xanh mới tạo thành một vòng tuần hoàn về cả kinh tế và môi trường.

Đích đến của nông nghiệp xanh, vì thế, không chỉ là giảm phát thải hay xử lý tốt hơn những gì từng được coi là chất thải. Đó phải là một phương thức tổ chức sản xuất mới, trong đó tài nguyên được sử dụng hiệu quả hơn, phụ phẩm trở thành nguồn lực, sản phẩm có giá trị cao hơn và lợi ích được phân bổ công bằng hơn trong toàn chuỗi.

Đây cũng là nền tảng để nông nghiệp Việt Nam không chỉ “xanh hóa” sản xuất mà còn nâng sức cạnh tranh, xây dựng thương hiệu và đi sâu hơn vào những thị trường ngày càng coi trọng các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và phát triển bền vững.

Nguồn: THANH XUÂN (TỔNG HỢP TỪ DAIDOANKET.VN, DANVIET.VN, HANOIMOI.VN ...)/Kinhtenongthon.vn