Việt Nam có hệ thống hồ chứa quy mô rất lớn, tuy nhiên, việc khai thác chưa tương xứng tiềm năng. Nhìn về lai dài, ngành nuôi trồng thủy sản khu vực phía Bắc đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng hiện đại, bền vững và gia tăng giá trị.
Do vậy, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang tích cực triển khai nhiều giải pháp nhằm biến lợi thế hồ chứa thành nguồn lực phát triển.

Nuôi cá lồng bè trên hồ Thuỷ điện Hoà Bình với sản lượng đạt 5.594 tấn.
Tiềm năng lớn
Để thúc đẩy phát triển nuôi trồng thuỷ sản hồ chứa, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Quyết định số 707/QĐ-BNNMT phê duyệt Đề án Phát triển nuôi trồng thuỷ sản hồ chứa giai đoạn 2026-2030, đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt sản lượng trên 260.000 tấn/năm, giá trị 16.000 tỷ đồng/năm, tạo việc làm cho trên 80.000 lao động với trên 30% là đồng bào dân tộc thiểu số.
Đồng thời, trên 50% cơ sở nuôi tham gia tổ hợp tác, hợp tác xã hoặc chuỗi liên kết; trên 5% cơ sở nuôi lồng bè áp dụng quy trình thực hành tốt (VietGAP hoặc tương đương) hoặc công nghệ tiên tiến, thân thiện môi trường; 100% cơ sở nuôi được cập nhật thông tin trên cơ sở dữ liệu quốc gia về thủy sản.
Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư, những năm gần đây, nuôi trồng thủy sản tại các tỉnh phía Bắc (từ thành phố Huế trở ra) duy trì xu hướng tăng trưởng ổn định. Năm 2025, diện tích đạt khoảng 309.000ha, chiếm 23% diện tích cả nước (1,33 triệu ha), sản lượng đạt khoảng 1,3 triệu tấn, tương đương 21% tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản cả nước (6,1 triệu tấn).
Dù chưa đóng góp lớn cho xuất khẩu, lĩnh vực này giữ vai trò quan trọng trong đảm bảo an ninh thực phẩm, phục vụ tiêu dùng nội địa và tạo sinh kế cho người dân.
Tuy nhiên, do điều kiện địa hình và thời tiết, nuôi trồng thủy sản phía Bắc chủ yếu mang tính nhỏ lẻ, phân tán. Các đối tượng nuôi đa dạng, gồm tôm nước lợ, cá nước ngọt (cá rô phi, cá truyền thống), một số loài đặc sản, cá nước lạnh (cá tầm, cá hồi) và nuôi biển (cá song, cá vược, cá chim vây vàng, hàu, tu hài, ngao…).
|
Hiện, cả nước có khoảng 6.750 hồ chứa thủy lợi với tổng dung tích khoảng 14,5 tỷ m³ và hơn 700 hồ chứa thủy điện; trong đó có 13 hồ có diện tích mặt nước trên 5.000ha.
Tổng dung tích hồ chứa ước trên 50 tỷ m³, phân bố rộng khắp nhưng tập trung chủ yếu ở miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên. Ngoài chức năng phát điện, cấp nước và điều tiết lũ, các hồ chứa còn có tiềm năng lớn để phát triển nuôi trồng thủy sản, du lịch sinh thái và các dịch vụ đi kèm.
|
Cơ cấu sản xuất giữa các vùng còn chưa đồng đều. Đáng chú ý, khu vực trung du và miền núi phía Bắc có lợi thế lớn về diện tích mặt nước nội địa, đặc biệt là hệ thống hồ chứa thủy lợi, thủy điện, song việc khai thác còn hạn chế, hiệu quả chưa cao.
Phó Cục trưởng Cục Thuỷ sản và Kiểm ngư Nhữ Văn Cẩn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, các hồ chứa phân bố rộng khắp nhưng tập trung ở miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên; có chức năng chính là phát điện, cấp nước sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp và điều tiết lũ thượng nguồn.
Ngoài ra, các hồ chứa còn là nơi lưu giữ nguồn gen nguồn lợi thủy sản phong phú, có tiềm năng phát triển nuôi trồng thuỷ sản, du lịch sinh thái và phát triển các dịch vụ khác, góp phần tạo sinh kế và phát triển kinh tế xanh.
Mặc dù vậy, theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nuôi trồng thuỷ sản hồ chứa hiện nay còn phân tán, quy mô nhỏ; chưa hình thành vùng sản xuất tập trung và liên kết chuỗi, chưa chuyển sang sản xuất hàng hóa.
Năng suất và giá trị nuôi trồng thuỷ sản hồ chứa còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng. Các hình thức nuôi còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, mức độ thâm canh và ứng dụng kỹ thuật còn hạn chế…
Hoàn thiện chính sách để phát triển thủy sản bền vững
Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư, nuôi trồng thủy sản khu vực phía Bắc đang trong quá trình chuyển đổi từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa. Tuy nhiên, quá trình này gặp nhiều khó khăn. Trước hết là tình trạng sản xuất phân tán, quy mô nhỏ, chủ yếu do các hộ cá thể thực hiện, thiếu liên kết chuỗi giá trị. Điều này khiến năng suất và giá trị sản phẩm chưa tương xứng với tiềm năng. Nuôi biển bước đầu hình thành nhưng quy mô còn khiêm tốn, công nghệ chưa đồng bộ. Sản phẩm nổi bật là các loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ như ngao, hàu tại một số địa phương ven biển.
Bên cạnh đó, hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ còn thiếu và yếu, từ giao thông, hệ thống cấp thoát nước đến dịch vụ giống, thức ăn và tiêu thụ sản phẩm. Chuỗi cung ứng chưa đồng bộ làm tăng chi phí và giảm hiệu quả sản xuất. Công tác quản lý cũng còn nhiều bất cập, đặc biệt là thiếu cơ sở dữ liệu về phân vùng nuôi và đánh giá sức tải môi trường. Sự chồng chéo trong quản lý giữa các ngành gây khó khăn cho tổ chức sản xuất và thu hút đầu tư.
Do đó, tại Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa giai đoạn 2026-2030 xác định phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa theo hướng hiệu quả, bền vững và hài hòa với các mục tiêu sử dụng nước khác như thủy lợi, thủy điện và bảo vệ môi trường. Việc khai thác mặt nước sẽ gắn với ứng dụng khoa học công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và giảm thiểu tác động tiêu cực đến hệ sinh thái.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, nguyên tắc và quan điểm phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa theo hướng hiệu quả, bền vững, bảo đảm hài hòa với các mục tiêu sử dụng nước khác, theo hướng tích hợp đa giá trị.
Trong thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tập trung chỉ đạo triển khai 3 nhóm giải pháp ưu tiên. Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và xây dựng bộ tiêu chí, quy hoạch để quản lý nuôi trồng thuỷ sản hồ chứa một cách thống nhất. Thứ hai, triển khai một số mô hình nuôi lồng công nghệ cao và mô hình đồng quản lý gắn với sinh kế bền vững để tạo đột phá sản xuất và lan tỏa.
Ưu tiên thứ ba là đầu tư hạ tầng thiết yếu và hỗ trợ chuyển đổi nghề cho người dân, đặc biệt tại các vùng hồ trọng điểm, qua đó hình thành vùng sản xuất hàng hóa và chuỗi giá trị thủy sản hồ chứa.
Đại diện lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng cho biết, đã phân công rõ trách nhiệm cho các đơn vị trực thuộc, phối hợp các bộ ngành và địa phương nhằm đảm bảo sự đồng bộ và chủ động trong triển khai các nhiệm vụ, bảo đảm hiệu quả đề án phát triển thuỷ sản hồ chứa trong giai đoạn tới.
|
Năm 2025, tổng sản lượng thủy sản đạt khoảng 9,95 triệu tấn – mức cao nhất từ trước đến nay. Kim ngạch xuất khẩu đạt 11,32 tỷ USD, chưa kể khoảng 250 triệu USD từ bột cá.
Với nền tảng này cùng ba trụ cột phát triển gồm chuyển đổi số - khoa học công nghệ, kinh tế xanh - tuần hoàn và nâng cao giá trị gia tăng, ngành thủy sản đặt mục tiêu đạt kim ngạch xuất khẩu 14-16 tỷ USD vào năm 2030.
|
Nguồn: CHANH/kinhtenongthon.vn