Làm vườn và NN xanh

Phát triển kinh tế tập thể: Nền tảng xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, bền vững

18/09/2026, 14:35

Kinh tế tập thể và hợp tác xã đang khẳng định vai trò là bệ đỡ vững chắc cho nông dân trong kỷ nguyên số. Việc phát triển mạnh mẽ mô hình này được xem là giải pháp cốt lõi để tái cơ cấu ngành, xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, phát triển bền vững và nâng cao vị thế của nông sản Việt.

 

Đoàn công tác Hội Làm vườn Việt Nam và Hội Làm vườn Hà Nội đến thăm và làm việc với Hợp tác xã Bưởi đỏ Đông Cao.

Nâng năng lực kinh tế, mở rộng chuỗi giá trị

Năm 2025, cả nước có khoảng 23.000 hợp tác xã nông nghiệp và 101 liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp, trong đó khoảng 65% được đánh giá hoạt động khá, tốt. Quy mô này cho thấy kinh tế tập thể đã trở thành một bộ phận quan trọng trong tổ chức lại sản xuất, tập hợp nông dân và kết nối sản xuất với thị trường.

Tuy nhiên, số lượng và năng lực kinh tế chưa tương xứng. Phần lớn hợp tác xã có quy mô nhỏ, năng lực quản trị chưa đồng đều, vốn hạn chế và khó tiếp cận tín dụng, công nghệ, thị trường. Không ít đơn vị chủ yếu cung cấp dịch vụ đầu vào, hỗ trợ sản xuất cho thành viên, chưa đủ khả năng tham gia sâu vào các khâu tạo giá trị cao như sơ chế, chế biến, logistics, thương mại và xuất khẩu.

Do đó, trong giai đoạn mới yêu cầu không chỉ đơn thuần là thành lập thêm hợp tác xã, mà phải phát triển hợp tác xã thành tổ chức kinh tế có năng lực sản xuất, kinh doanh và cạnh tranh. Chương trình tổng thể phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2026-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1128/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 đã tạo khung định hướng cho quá trình này.

Từ cơ sở đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 3409/QĐ-BNNMT ngày 24/8/2026, theo đó đã cụ thể hóa các nhiệm vụ phát triển kinh tế tập thể trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. Trọng tâm là nâng chất lượng hoạt động, năng lực quản trị, khả năng tiếp cận nguồn lực và mức độ tham gia của hợp tác xã vào chuỗi giá trị.

Theo kế hoạch, đến năm 2030 phấn đấu trên 60% hợp tác xã hoạt động khá, tốt; ít nhất 50% hợp tác xã nông nghiệp có liên kết với doanh nghiệp hoặc tổ chức kinh tế khác và ít nhất 50% ứng dụng giải pháp số trong quản trị, sản xuất hoặc tiêu thụ sản phẩm. Các mục tiêu này cho thấy thước đo phát triển đang chuyển từ số lượng sang hiệu quả kinh tế, mức độ liên kết và khả năng tạo giá trị.

Trong đó, liên kết với doanh nghiệp và xây dựng vùng nguyên liệu tập trung là nền tảng quan trọng. Khi có đầu ra ổn định, hợp tác xã có thể tổ chức sản xuất theo nhu cầu thị trường, tiêu chuẩn hóa quy trình, kiểm soát chất lượng và tạo sản lượng đủ lớn. Qua đó, nông sản có điều kiện đi sâu hơn vào sơ chế, chế biến, xây dựng thương hiệu và xuất khẩu.

Phát triển vùng nguyên liệu cũng giúp khắc phục tình trạng sản xuất manh mún. Trong bối cảnh thị trường ngày càng yêu cầu cao về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, chất lượng và môi trường, hợp tác xã có thể tổ chức các hộ thành viên theo quy trình thống nhất. Khi đó, quy mô sản xuất được chuyển hóa thành lợi thế thương mại, tạo điều kiện để hợp tác xã tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Vốn tiếp tục là điều kiện quan trọng để hợp tác xã mở rộng sản xuất và nâng năng lực kinh doanh. Giai đoạn 2019-2025, Quỹ Hỗ trợ phát triển hợp tác xã Việt Nam ký hợp đồng cho vay 391 dự án, kế hoạch sản xuất kinh doanh với tổng số tiền 2.116 tỷ đồng, giải ngân 2.094 tỷ đồng; dư nợ cuối năm 2025 đạt 943 tỷ đồng. Nguồn vốn góp phần hỗ trợ hợp tác xã đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất và tăng cường liên kết với doanh nghiệp.

Hiệu quả nguồn vốn thể hiện qua kết quả kinh doanh, khi doanh thu bình quân của hợp tác xã tăng 43,5%, lợi nhuận tăng 37,2%. Kết quả này cho thấy nếu được tiếp cận nguồn vốn phù hợp, hợp tác xã có thể chuyển hóa nguồn lực tài chính thành năng lực sản xuất và giá trị kinh tế. Tuy nhiên, bài toán vốn không chỉ nằm ở tăng nguồn cho vay mà quan trọng hơn là đưa vốn đến đúng những đơn vị có phương án kinh doanh khả thi, vùng nguyên liệu, thị trường và năng lực quản trị.

Cùng với vốn, quản trị sẽ quyết định khả năng tạo lợi nhuận và phát triển bền vững. Hợp tác xã hiện đại không chỉ cần người am hiểu sản xuất mà còn phải có năng lực quản trị tài chính, kiểm soát chất lượng, xây dựng thương hiệu, đàm phán hợp đồng, marketing, thương mại điện tử và tổ chức chuỗi cung ứng.

"Đòn bẩy" nâng cao thu nhập cho nông dân

Phát triển kinh tế tập thể đang trở thành hướng đi quan trọng trong XDNTM, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống người dân. Tại Thanh Hóa, các cấp hội nông dân (HND) đã và đang phát huy vai trò nòng cốt trong tuyên truyền, vận động hội viên liên kết sản xuất, xây dựng tổ hợp tác (THT), HTX, từng bước chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị.

Ông Nguyễn Minh Đức, tổ hợp tác sản xuất cam theo quy trình VietGAP, xã Điền Lư, giới thiệu về hiệu quả mô hình.

Để kinh tế tập thể phát triển thực chất, các cấp HND trong tỉnh đẩy mạnh tuyên truyền, hỗ trợ hội viên ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất; khuyến khích phát triển nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái, sản xuất an toàn gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm. Qua đó, nhiều mô hình sản xuất hiệu quả, những nông dân điển hình tiên tiến được hình thành, tạo động lực thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững.

Tại xã Điền Lư, phát huy lợi thế đất đai, người dân đã chuyển đổi diện tích cây trồng kém hiệu quả sang trồng cây ăn quả có giá trị kinh tế cao. Hiện địa phương có khoảng 25ha cam V2, cam Canh, cam Cao Phong, cho thu nhập từ 300 - 350 triệu đồng/ha/năm. Tuy nhiên, sản xuất còn manh mún, thiếu liên kết khiến việc tiêu thụ sản phẩm gặp không ít khó khăn. Trước thực tế đó, HND xã Điền Lư đã tuyên truyền, vận động hội viên tham gia phát triển kinh tế tập thể. Đầu năm 2026, hội vận động 7 hộ trồng cam liên kết thành THT, sản xuất theo quy trình VietGAP. Các hộ được hướng dẫn, chuyển giao kỹ thuật trồng, chăm sóc, sử dụng vật tư an toàn, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm.

Từ những mô hình bước đầu hiệu quả, HND xã tiếp tục vận động, hướng dẫn thành lập thêm 2 chi hội nghề nghiệp và 1 HTX hoạt động trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi. Thông qua các mô hình liên kết, hội viên được hỗ trợ vốn, giống, kỹ thuật; đồng thời có điều kiện chia sẻ kinh nghiệm, tổ chức sản xuất và tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm.

Đồng chí Lê Quang Huy, Bí thư Đảng ủy xã Điền Lư cho biết: Thời gian tới, địa phương sẽ tiếp tục chỉ đạo HND xã tuyên truyền, vận động các hộ dân thành lập HTX, THT để tạo liên kết trong bao tiêu sản phẩm, mở rộng quy mô. Các mô hình cũng là nơi để hội viên trao đổi kinh nghiệm, ứng dụng khoa học - kỹ thuật và chuyển đổi số. Xã sẽ tạo điều kiện, có cơ chế phù hợp để khuyến khích phát triển thêm các sản phẩm OCOP, góp phần thực hiện hiệu quả các tiêu chí XDNTM.

Còn tại HTX nông nghiệp Hồng Ân, xã Xuân Tín, trên cơ sở tổ hội chăn nuôi gà đồi an toàn sinh học, năm 2024, ông Đỗ Anh Quân thành lập HTX với 9 thành viên. Hiện HTX đầu tư 6 trang trại chăn nuôi gà đồi thương phẩm và gà choai bán giống theo hình thức bán chăn thả tự nhiên. Điểm nổi bật của mô hình là tự sản xuất thức ăn chăn nuôi sinh học, vừa bảo đảm chất lượng, vừa giảm chi phí đầu vào. Nhờ đó, đàn gà phát triển tốt, thịt săn chắc, thơm ngon, được thị trường đón nhận. Mỗi năm, HTX xuất bán khoảng 180.000 con gà giống, tương đương 252 tấn. Đối với gà thương phẩm, nuôi 2 lứa/năm với tổng sản lượng trên 40 tấn. Doanh thu bình quân đạt hơn 14 tỷ đồng/năm, lợi nhuận gần 2 tỷ đồng. Không chỉ mang lại thu nhập cho thành viên, HTX còn chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi, cung ứng con giống cho nhiều hộ dân trên địa bàn, góp phần phát triển chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học và nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp.

Để thúc đẩy kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác ở khu vực nông thôn, các cấp HND trong tỉnh đã tư vấn, hỗ trợ, đồng hành cùng các THT, HTX; hướng dẫn hội viên phát triển sản xuất, kinh doanh, thành lập THT, HTX, doanh nghiệp do nông dân làm chủ và tổ chức liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2026, các cấp hội đã vận động, hướng dẫn thành lập mới 22 THT, 18 HTX và 27 doanh nghiệp do nông dân làm chủ.

Nguồn vốn cũng được xác định là một trong những đòn bẩy quan trọng, các cấp hội đã tín chấp với các ngân hàng, hỗ trợ nông dân vay hơn 16,7 tỷ đồng để phát triển sản xuất, kinh doanh; xây dựng và quản lý Quỹ Hỗ trợ nông dân với nguồn vốn 58,1 tỷ đồng, hỗ trợ 860 hộ tham gia 298 dự án. Từ đầu năm đến nay, quỹ đã giải ngân 8,1 tỷ đồng cho 16 dự án, với 89 hộ vay vốn. Các dự án vay vốn chủ yếu được triển khai theo mô hình THT, nhóm hộ liên kết, chi, tổ HND nghề nghiệp.

Thời gian tới, HND tỉnh tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, nhân rộng các mô hình kinh tế tập thể hiệu quả; hỗ trợ HTX tiếp cận nguồn vốn ưu đãi, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, xúc tiến thương mại và xây dựng thương hiệu nông sản địa phương. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để hình thành nền nông nghiệp hiện đại, bền vững, để kinh tế tập thể thực sự trở thành đòn bẩy nâng cao thu nhập cho nông dân.

Nền tảng phát triển nền nông nghiệp hiện đại, bền vững

Một mô hình khác tại phường Lý Văn Lâm (Cà Mau) cho thấy, vai trò của HTX còn gắn với việc khai thác lợi thế đặc thù địa phương là HTX Dịch vụ Nông nghiệp và Thủy sản Ông Muộn. HTX hiện tổ chức sản xuất trên diện tích 182ha, với 7 thành viên chính thức và 94 thành viên liên kết, duy trì khoảng 300 tấn gạo sạch mỗi năm theo tiêu chuẩn VietGAP.

Tận dụng mô hình lúa - tôm, HTX tổ chức các hộ sản xuất theo quy trình đồng bộ, hướng tới an toàn, nâng chất lượng và chủ động hơn trong tiêu thụ. Quy mô liên kết cho thấy HTX có thể làm nhiệm vụ mà từng hộ khó thực hiện, như thống nhất quy trình, tập hợp sản lượng, kiểm soát chất lượng và tạo nền tảng làm việc với đối tác tiêu thụ.

HTX Dịch vụ Nông nghiệp và Thủy sản Ông Muộn đã biến liên kết thành lợi ích cụ thể, thiết thực cho thành viên.

Ông Nguyễn Văn Tiếp, Giám đốc HTX Dịch vụ Nông nghiệp và Thủy sản Ông Muộn, cho rằng mục tiêu của HTX không chỉ là nâng năng suất mà còn thay đổi cách làm của thành viên, chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang liên kết, ứng dụng kỹ thuật để giảm chi phí và tăng hiệu quả.

Nhận định của vị đại diện HTX phản ánh một vấn đề cốt lõi của tái cơ cấu nông nghiệp, muốn thay đổi giá trị sản xuất, trước hết phải thay đổi phương thức tổ chức sản xuất. Máy móc, giống mới hay quy trình kỹ thuật chỉ phát huy đầy đủ hiệu quả khi được đặt trong một hệ thống có quy mô, quản trị và thị trường. HTX là thiết chế có khả năng biến những yêu cầu đó thành hoạt động sản xuất cụ thể.

Từ góc độ kinh tế, các HTX đang tạo giá trị cho thành viên theo nhiều lớp. Thứ nhất là giảm chi phí thông qua mua chung vật tư, tổ chức dịch vụ và áp dụng quy trình thống nhất. Thứ hai là giảm rủi ro thị trường nhờ liên kết tiêu thụ, thay vì từng hộ tự tìm người mua. Thứ ba là nâng chất lượng và giá bán thông qua tiêu chuẩn hóa sản phẩm. Thứ tư là tạo điều kiện xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường và tiến tới phân khúc có giá trị gia tăng cao hơn.

Khi các khâu sản xuất được kết nối, lợi ích thành viên và người lao động nhận được không chỉ đến từ năng suất trên diện tích, mà còn từ khả năng giảm chi phí, ổn định đầu ra và nâng giá trị sản phẩm.

Đây là lý do HTX cần được nhìn nhận như một chủ thể kinh tế trong tái cơ cấu nông nghiệp, chứ không chỉ là tổ chức hỗ trợ nông dân. Trong chuỗi giá trị, doanh nghiệp có lợi thế về thị trường, công nghệ, vốn và phát triển sản phẩm; nông dân có đất đai, lao động và kinh nghiệm; còn HTX có vị trí tổ chức, tập hợp và điều phối các hộ thành vùng nguyên liệu có quy mô.

Khi ba chủ thể liên kết bằng hợp đồng và cùng tuân thủ tiêu chuẩn, chuỗi sản xuất sẽ giảm những khoảng trống vốn khiến nông sản mất giá trị giữa đồng ruộng và thị trường. HTX biến liên kết thành lợi ích cụ thể, thiết thực cho thành viên.

Trên cơ sở thực tế đó, theo kế hoạch của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, xác định xây dựng chương trình đào tạo, học liệu và nền tảng đào tạo số về quản trị hợp tác xã, liên kết chuỗi giá trị, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Đây là hướng đi cần thiết để hợp tác xã chuyển từ quản lý dựa nhiều vào kinh nghiệm sang quản trị theo dữ liệu và yêu cầu thị trường.

Chuyển đổi số có thể giúp hợp tác xã nâng hiệu quả kinh doanh thông qua số hóa dữ liệu về vùng nguyên liệu, sản lượng, mùa vụ, chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Dữ liệu cũng giúp minh bạch hơn với doanh nghiệp và người mua, đồng thời hỗ trợ quản lý thành viên, điều hành sản xuất, kết nối cung cầu và mở rộng kênh tiêu thụ.

Cùng với đó, chuyển đổi xanh ngày càng trở thành điều kiện để tiếp cận những thị trường có giá trị cao. Khi sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải, phát triển kinh tế tuần hoàn và kiểm soát nguồn nguyên liệu sẽ giúp hợp tác xã nâng sức cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các chuỗi cung ứng.

Ngoài ra phải kể tới hướng mở rộng không gian kinh tế là phát triển hợp tác xã đa hoạt động, đa dịch vụ, gắn với ngành hàng chủ lực, vùng nguyên liệu, sản phẩm OCOP, du lịch nông thôn và dịch vụ nông nghiệp. Việc tham gia từ cung ứng vật tư, tổ chức sản xuất, thu hoạch, sơ chế, chế biến đến logistics và thương mại sẽ giúp hợp tác xã có thể giữ lại nhiều giá trị hơn trong chuỗi, đồng thời tăng doanh thu và lợi ích cho thành viên.

Để chính sách hỗ trợ phát huy hiệu quả, cần xây dựng cơ sở dữ liệu và bộ chỉ số đánh giá môi trường kinh doanh của hợp tác xã. Khi có dữ liệu về năng lực, quy mô, ngành hàng, vốn, thị trường và mức độ liên kết, nguồn lực có thể được phân bổ theo nhu cầu thực tế. Những hợp tác xã có phương án kinh doanh tốt có thể được ưu tiên mở rộng; các đơn vị còn khó khăn được hỗ trợ củng cố quản trị, nhân lực và phương án sản xuất.

Bên cạnh nguồn lực nhà nước, cần thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng, quỹ đầu tư và tổ chức khoa học công nghệ. Nhà nước hoàn thiện thể chế và tạo môi trường; doanh nghiệp cung cấp thị trường, công nghệ và tham gia chuỗi giá trị; hợp tác xã tổ chức sản xuất, tập hợp nông dân và bảo đảm nguồn cung. Sự liên kết này sẽ giúp hợp tác xã phát huy tốt hơn vai trò cầu nối giữa nông dân và thị trường.

Từ hơn 23.000 hợp tác xã nông nghiệp hiện nay, mục tiêu giai đoạn 2026-2030 phải hướng tới những tổ chức kinh tế có khả năng mở rộng sản xuất, liên kết vùng nguyên liệu, tiếp cận vốn, ứng dụng công nghệ và tham gia sâu vào chuỗi giá trị. Khi vốn, vùng nguyên liệu, liên kết chuỗi, quản trị, công nghệ, chuyển đổi số và đào tạo được triển khai đồng bộ, phát triển kinh tế hợp tác xã nông nghiệp sẽ tạo động lực tổ chức lại sản xuất, nâng giá trị nông sản, tăng thu nhập cho thành viên và xây dựng kinh tế nông thôn hiện đại, xanh, bền vững. Đây là bước chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang nâng chất lượng và hiệu quả kinh tế.

Đến năm 2030 phấn đấu trên 60% hợp tác xã hoạt động khá, tốt; ít nhất 50% hợp tác xã nông nghiệp có liên kết với doanh nghiệp hoặc tổ chức kinh tế khác và ít nhất 50% ứng dụng giải pháp số trong quản trị, sản xuất hoặc tiêu thụ sản phẩm. Các mục tiêu này cho thấy thước đo phát triển đang chuyển từ số lượng sang hiệu quả kinh tế, mức độ liên kết và khả năng tạo giá trị./.


Nguồn: THANH TÂM/kinhtenongthon.vn