Từ cây trồng phục vụ lấy hạt và chăn nuôi, giờ đây người trồng ngô ở Quảng Trị đã chuyển sang bán nguyên cây cho thương lái mang lại hiệu quả kinh tế cao. Đây là hướng đi phù hợp với mục tiêu phát triển nông nghiệp xanh, bền vững tại địa phương.
Phát triển mô hình hiệu quả
Không còn cảnh phơi bắp ngoài sân hay thấp thỏm chờ giá ngô hạt lên xuống, những ngày này, trên các cánh đồng ở xã Tuyên Bình, Nam Trạch, Trung Thuần… tỉnh Quảng Trị, nông dân tất bật thu hoạch cánh đồng cây ngô.
Gia đình ông Hà Văn Niên, một hộ trồng ngô lâu năm ở thôn Bắc Hoá (xã Tuyên Bình), từng quen với việc canh tác ngô lấy hạt. Tuy nhiên, vụ mùa này ông chuyển sang bán nguyên cây cho thương lái.
.jpg)
Trồng ngô ở Trung Thuần, Quảng Trị.
“Nhà tôi có mấy sào ruộng, chuyên trồng ngô. Nếu thu hạt như trước, mỗi sào chỉ được khoảng 2 triệu đồng. Nhưng bán cả cây tại ruộng, thương lái thu mua từ 3 đến 3,2 triệu đồng mỗi sào, lợi nhuận cao hơn rõ rệt”, ông Niên chia sẻ.
Không chỉ tăng thu nhập, người trồng còn giảm được chi phí và công lao động. Việc phơi, tách hạt, bảo quản, những công đoạn vốn tốn nhiều thời gian, nay không còn cần thiết. Ngô sau khoảng 80 ngày trồng có thể thu hoạch đồng loạt, bán ngay tại ruộng.
Sự thay đổi này khiến nhiều nông dân mạnh dạn mở rộng diện tích trồng ngô, thay vì chỉ sản xuất cầm chừng như trước.
Để mô hình vận hành trơn tru, vai trò của các tổ hợp tác, tổ dịch vụ thu mua là hết sức quan trọng. Đây là “cầu nối” giữa nông dân và doanh nghiệp, đảm bảo đầu ra ổn định cũng như giá cả minh bạch.
Ông Hồ Xuân Trang, đại diện tổ dịch vụ thu mua cây ngô tại xã Tuyên Bình cho biết: “Hiện nay, giá thu mua tại trạm cân khoảng 1,2 triệu đồng/tấn. Nếu thu mua tại ruộng, bà con chỉ cần cắt, chúng tôi tự vận chuyển lên xe, giá khoảng 1 triệu đồng/tấn”.
Theo ông Trang, điều quan trọng là việc thu mua diễn ra nhanh chóng, đúng thời điểm, giúp bà con không phải lo đầu ra. Khi cây ngô đạt độ “vừa cứng hạt”, phù hợp làm thức ăn chăn nuôi, là có thể tiêu thụ ngay.
Tổ hợp tác cũng đóng vai trò điều tiết sản lượng, tránh tình trạng “được mùa mất giá”, đồng thời hỗ trợ kỹ thuật, hướng dẫn bà con canh tác phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp.
Tại Tổ hợp tác liên minh vỗ béo bò Nam Trạch, ông Nguyễn Văn Lâm, Tổ trưởng cho rằng; việc liên kết với doanh nghiệp thu mua cây ngô đã giúp hoạt động của tổ ngày càng ổn định và chuyên nghiệp hơn. “Trước đây, bà con trồng ngô chủ yếu làm lương thực, tự tiêu thụ, phụ thuộc vào thương lái nên giá cả bấp bênh. Nay có doanh nghiệp liên kết ngay từ đầu vụ, tổ hợp tác đứng ra điều phối sản lượng, hướng dẫn thời điểm thu hoạch phù hợp nên cả người trồng lẫn đơn vị thu mua đều yên tâm”, ông Lâm chia sẻ.
Theo ông Lâm, không chỉ dừng lại ở việc thu mua, tổ hợp tác còn định hướng mở rộng diện tích sang các xã lân cận, xây dựng vùng nguyên liệu tập trung gắn với chăn nuôi. Việc tận dụng cây ngô làm thức ăn vỗ béo cho trâu bò giúp giảm chi phí đầu vào, nâng cao hiệu quả kinh tế cho cả chuỗi liên kết, từ trồng trọt đến chăn nuôi.
Đầu ra ổn định
Ở phía ngược lại, các doanh nghiệp chăn nuôi trâu bò đang từng bước chuyển từ thu mua nguyên liệu thụ động sang chủ động xây dựng vùng nguyên liệu ngay từ đồng ruộng.
Ông Mai Thanh Thảo, Giám đốc Công ty Cổ phần chăn nuôi Dương Gia Quảng Bình cho biết, việc liên kết thu mua cây ngô sinh khối không chỉ giúp doanh nghiệp đảm bảo nguồn thức ăn ổn định, mà còn hướng tới mục tiêu phát triển bền vững cho cả chuỗi sản xuất.
“Chúng tôi xác định đây là mô hình hợp tác hai bên cùng có lợi. Doanh nghiệp có nguồn nguyên liệu ổn định, còn người dân có đầu ra chắc chắn, không còn phụ thuộc vào biến động thị trường như trước”, ông Thảo chia sẻ.
Theo ông Thảo, điểm khác biệt của mô hình là doanh nghiệp tham gia ngay từ đầu vụ, phối hợp cùng các tổ hợp tác và người dân trong việc định hướng sản xuất, hướng dẫn kỹ thuật trồng và thời điểm thu hoạch phù hợp với nhu cầu chăn nuôi. Nhờ đó, chất lượng nguyên liệu được đảm bảo đồng đều, phục vụ hiệu quả cho hoạt động vỗ béo đàn trâu bò quy mô lớn.
.jpg)
Quảng Trị đang phát triển trồng ngô nguyên liệu , hướng đi phù hợp với mục tiêu phát triển nông nghiệp xanh, bền vững tại địa phương.
Không chỉ dừng lại ở việc thu mua, doanh nghiệp còn hướng tới xây dựng vùng nguyên liệu lâu dài tại địa phương, tạo việc làm ổn định cho người dân Quảng Trị nói chung và các khu vực lân cận trang trại nói riêng. Việc duy trì thu mua thường xuyên, ổn định qua các vụ mùa cũng góp phần tạo niềm tin cho nông dân, giúp họ yên tâm mở rộng sản xuất và nâng cao thu nhập.
“Về lâu dài, khi vùng nguyên liệu được hình thành và phát triển ổn định, không chỉ doanh nghiệp mà cả người dân và ngành chăn nuôi địa phương đều được hưởng lợi”, ông Thảo nhấn mạnh.
Hướng đi mới và xanh
Theo ông Võ Minh Quỳnh, tổ phó Tổ hợp tác liên minh vỗ béo bò xã Nam Trạch (nguyên Phó Chủ tịch Hội nông dân xã Nam Trạch cũ, kiêm công tác thú y của xã), theo kinh nghiệm công tác của tôi, việc chuyển từ bán hạt sang bán nguyên cây là một thay đổi phù hợp với xu hướng thị trường. Khi nhu cầu thức ăn chăn nuôi ngày càng lớn, việc tận dụng toàn bộ cây ngô giúp tăng giá trị sản phẩm.
Ông Nguyễn Cẩm Long, Phó Bí thư Thường trực Đảng uỷ xã Hoàn Lão (nguyên Trưởng phòng NN và PTNT huyện Bố Trạch) cho rằng, việc doanh nghiệp chăn nuôi đầu tư quy mô lớn trên địa bàn, với định hướng xây dựng vùng nguyên liệu khoảng 5.000 ha, đang mở ra cơ hội quan trọng để địa phương tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Đây là điều kiện thuận lợi để chuyển đổi diện tích đất gò đồi kém hiệu quả, nhất là các diện tích trồng sắn bị dịch bệnh và đất lúa bỏ hoang do thiếu nước, sang trồng ngô sinh khối phục vụ chăn nuôi.
Theo ông Long, ngô sinh khối có thời gian sinh trưởng ngắn, khoảng 70-80 ngày/vụ, có thể sản xuất 3-4 vụ mỗi năm, qua đó nâng cao hệ số sử dụng đất và hiệu quả kinh tế trên cùng một đơn vị diện tích.
Cùng với đó, xã Hoàn Lão đã ban hành Nghị quyết về phát triển nông nghiệp xanh, tuần hoàn theo chuỗi giá trị, trong đó xác định rõ vai trò của doanh nghiệp trong liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản. Do đó, việc hình thành vùng nguyên liệu gắn với các cơ sở chăn nuôi theo hướng tuần hoàn không chỉ giúp ổn định đầu ra mà còn tạo điều kiện tái sử dụng phụ phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất.
“Việc chuyển đổi sang trồng ngô sinh khối không chỉ giúp người dân có đầu ra ổn định, mà còn hình thành mối liên kết hai chiều, khi doanh nghiệp thu mua sản phẩm và cung cấp nguồn phân hữu cơ từ chăn nuôi phục vụ sản xuất. Đây là hướng đi phù hợp với mục tiêu phát triển nông nghiệp xanh, bền vững tại địa phương”, ông Long nhấn mạnh.
Ông Nguyễn Phú Quốc, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị đánh giá, mô hình liên kết thu mua cây ngô làm thức ăn chăn nuôi là hướng đi phù hợp trong quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Việc hình thành chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ không chỉ giúp nâng cao thu nhập cho nông dân mà còn góp phần tổ chức lại sản xuất theo hướng ổn định, bền vững. Thời gian tới, ngành nông nghiệp tỉnh sẽ tiếp tục khuyến khích, nhân rộng các mô hình liên kết hiệu quả, gắn sản xuất với nhu cầu thị trường.
Câu chuyện “bán cả cây thay vì lấy hạt” không chỉ là sự thay đổi trong cách làm, mà còn phản ánh bước chuyển trong tư duy phát triển nông nghiệp - từ sản xuất theo thói quen sang sản xuất theo nhu cầu thị trường. Đây cũng là gợi mở quan trọng để Quảng Trị tiếp tục nhân rộng các mô hình liên kết, từng bước hình thành nền nông nghiệp hiệu quả, thích ứng và bền vững hơn trong thời gian tới.
Nguồn: TIẾN THÀNH/Tổng hợp từ Báo Pháp luật Việt Nam