Các chứng chỉ bền vững góp phần nâng cao giá trị kinh tế và môi trường rõ rệt cho ngành lâm nghiệp và thủy sản và gia tăng khả năng tiếp cận các thị trường lớn với yêu cầu cao về phát triển bền vững như EU, Nhật Bản và Hoa Kỳ.

Phát triển mô hình nuôi tôm rừng sinh thái ở Cà Mau nhằm để tận dụng tiềm năng và lợi thế vốn có của địa phương để nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm thủy sản.
Nông dân thu lợi kép
Vào tháng 10/2023, mô hình tôm – rừng tại xã Tân Ân Tây (Cà Mau) đã được triển khai chứng nhận ASC phiên bản nhóm (ASC Group). Sau hơn 1 năm thực hiện, 375 hộ dân tại vùng nuôi nêu trên được cấp giấy chứng nhận với tổng diện tích 1.860 ha, do tổ chức Bureau Veritas đánh giá và cấp chứng nhận lần đầu. Theo dữ liệu trên website của tổ chức Bureau Veritas, đây là chứng nhận ASC Group mô hình tôm rừng đầu tiên và lớn nhất Việt Nam cũng như trên thế giới tại thời điểm đó.
Với tiềm năng và thế mạnh tương đồng, đặc biệt là ngành hàng tôm, sau khi hợp nhất, tỉnh Cà Mau trở thành “thủ phủ tôm” - dẫn đầu cả nước về diện tích, quy mô và sản lượng nuôi tôm với diện tích trên 427.000ha, lớn nhất cả nước. Theo nhiều nông dân trong chuỗi tôm - rừng tại xã Phan Ngọc Hiển, khi tham gia canh tác theo chứng nhận ASC, thủy sản được nuôi có trách nhiệm, giảm thiểu tối đa tác động xấu lên môi trường, hệ sinh thái, cộng đồng dân cư và bảo đảm tốt các quy định về lao động. Nhờ đó, sản phẩm đáp ứng nhu cầu mua tôm của các thị trường nhập khẩu, phát triển chuỗi liên kết sản xuất tôm bền vững, thúc đẩy sản xuất sạch, truy xuất nguồn gốc đầy đủ, góp phần nâng cao giá trị con tôm Cà Mau trên thị trường thế giới.
Trong lĩnh vực lâm nghiệp, một đại diện trồng rừng ở Hợp tác xã nông nghiệp Hiệp Thuận (Đà Nẵng) chia sẻ: “Chứng chỉ FSC giúp chúng tôi bảo vệ nguồn nước và giảm rủi ro cháy rừng, nhưng chi phí duy trì và tập huấn kỹ thuật vẫn là thách thức. Chúng tôi cần sự đồng hành lâu dài từ Nhà nước và các tổ chức bảo tồn như Tổ chức quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (WWF)”.

Gỗ có chứng chỉ FSC tại Việt Nam được trả giá cao hơn 10–15% so với gỗ thông thường.
Thực tế cho thấy, các chứng chỉ bền vững đang mang lại giá trị kinh tế rõ rệt: gỗ có chứng chỉ FSC tại Việt Nam được trả giá cao hơn 10–15% so với gỗ thông thường. Các doanh nghiệp cũng sẵn sàng trả giá cao hơn cho các sản phẩm tôm đạt ASC, có thể lên tới 15%. Đại diện doanh nghiệp nuôi tôm có chứng nhận ASC cho biết: “ASC giúp đa dạng hóa sản phẩm, tiếp cận được các thị trường khó tính như EU, Nhật Bản và Hoa Kỳ, đồng thời gây dựng uy tín cho ngành tôm sinh thái của Việt Nam. Các mô hình này đang chứng minh “lợi ích kép”, vừa giúp bảo tồn đa dạng sinh học, vừa tạo ra cơ hội để mở rộng thị trường xuất khẩu.
Tài chính xanh và chính sách – mắt xích gỡ nút thắt đa dạng sinh học
Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi với hệ sinh thái phong phú bậc nhất thế giới, sở hữu khoảng 62.000 loài sinh vật. Tuy nhiên, "kho báu" này đang hao hụt nhanh chóng: diện tích rừng ngập mặn đã suy giảm đáng kể do biến đổi khí hậu và áp lực khai thác. Trong bối cảnh đó, Báo cáo mới nhất từ Dự án BIODEV2030 của WWF-Việt Nam nhận định: Các chứng nhận quốc tế như FSC (lâm nghiệp) hay ASC (thủy sản) chính là công cụ hữu hiệu để cân bằng bài toán kinh tế và môi trường.
Bà Nguyễn Bích Hằng, Quản lý Dự án BIODEV2030 nhấn mạnh: "Chứng nhận không đơn thuần là tấm vé thông hành cho xuất khẩu, mà là một công cụ quản trị giúp doanh nghiệp “xác định” tư duy bảo tồn ngay trong quy trình sản xuất. Nếu gắn kết chặt chẽ công cụ này với các chính sách vĩ mô và nguồn tài chính xanh, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành quốc gia tiên phong trong khu vực về phát triển bền vững."

Mở rộng các cơ chế tài chính xanh như chi trả dịch vụ hệ sinh thái (PES), tín chỉ carbon, mô hình tài chính hỗn hợp nhằm tạo thêm nguồn lực cho bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững.
Để khắc phục, 7 nhóm giải pháp chiến lược đã được đưa ra tại Báo cáo lồng ghép bảo tồn đa dạng sinh học vào ngành lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản tại Việt Nam. Trong đó nhấn mạnh tới gắn kết giữa phát triển sản xuất và bảo tồn đa dạng sinh học trong xây dựng, thực thi chính sách của lĩnh vực lâm nghiệp, thủy sản; Mở rộng các cơ chế tài chính xanh như chi trả dịch vụ hệ sinh thái (PES), tín chỉ carbon, mô hình tài chính hỗn hợp nhằm tạo thêm nguồn lực cho bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững.
Bên cạnh đó, cần tạo động lực cho các nông hộ nhỏ thông qua hỗ trợ tài chính, áp dụng mô hình chứng chỉ nhóm, hỗ trợ kỹ thuật... Một nhiệm vụ then chốt là xây dựng năng lực nội tại cho Việt Nam, nâng cao năng lực về bảo tồn đa dạng sinh học lồng ghép trong hoạt động sản xuất. Đồng thời, cần cập nhật hệ thống đào tạo nghề để mỗi lao động ra trường đều đã nắm vững kỹ năng sản xuất bền vững.
Báo cáo cũng khuyến nghị thúc đẩy các mô hình sản xuất dựa trên hệ sinh thái, tiêu biểu như mô hình nuôi tôm dưới tán rừng ngập mặn, gắn kết chứng chỉ bền vững với lợi ích gia tăng về khía cạnh kinh tế tiềm năng thông qua thị trường carbon và du lịch sinh thái. Đồng thời, tăng cường hợp tác đa bên và đối thoại chính sách, huy động sự tham gia chặt chẽ của Nhà nước, doanh nghiệp, nông dân và các bên liên quan và vai trò của truyền thông và định vị quốc tế, hướng tới việc khẳng định Việt Nam là một trong những quốc gia tiên phong trong phát triển kinh tế gắn với bảo tồn thiên nhiên.
Các quy định quốc tế mới về truy xuất nguồn gốc mà minh bạch chuỗi cung ứng sản phẩm đang thay đổi cục diện thương mại toàn cầu. Dù không bắt buộc, các chứng chỉ như FSC, PEFC hay ASC được công nhận là công cụ giảm thiểu rủi ro về nghĩa vụ tuân thủ và hỗ trợ truy xuất nguồn gốc minh bạch.
Theo WWF-Việt Nam, lồng ghép đa dạng sinh học vào sản xuất không chỉ là yêu cầu về bảo vệ môi trường mà còn là nền tảng để duy trì năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong bối cảnh người tiêu dùng toàn cầu ngày càng quan tâm đến sản phẩm có phát thải thấp và minh bạch về nguồn gốc, việc áp dụng và thúc đẩy phát triển mô hình “phát triển kinh tế gắn với bảo tồn thiên nhiên” sẽ góp phần khẳng định vị thế của sản phẩm lâm nghiệp và thuỷ sản tại thị trường quốc tế. “Mục tiêu không phải là có thêm chứng chỉ, mà là tạo dựng một hệ giá trị mới, nơi mỗi sản phẩm được chứng nhận đều phản ánh khả năng phục hồi của thiên nhiên và trách nhiệm của nền kinh tế Việt Nam” - bà Nguyễn Bích Hằng, WWF-Việt Nam, khẳng định./.
Nguồn: LƯƠNG THỊ DINH/Kinhtenongthon.vn