Không để mặt nước lòng hồ thủy điện Trung Sơn chỉ phục vụ phát điện, nhiều hộ dân xã Trung Sơn (Thanh Hóa) đã vay vốn chính sách phát triển nuôi cá lồng, tạo sinh kế ngay trên chính nguồn tài nguyên sẵn có. Mô hình này đã góp phần giúp nhiều gia đình thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo cải thiện thu nhập và từng bước vươn lên ổn định cuộc sống.
Bám lòng hồ mưu sinh
Nhìn từ trên cao, lòng hồ thủy điện Trung Sơn cứ cách một quãng lại xuất hiện những lồng cá nổi giữa mênh mang sóng nước. Từ năm 2021, khi tỉnh Thanh Hóa triển khai chủ trương phát triển nuôi cá lồng trên lòng hồ thủy điện, nhiều hộ dân xã Trung Sơn đã mạnh dạn đầu tư, mở ra hướng sinh kế mới ngay trên vùng nước từng chỉ gắn với nghề đánh bắt tự nhiên.

Gia đình anh Đinh Công Chức (bản Ta Bán) là một trong những hộ tiên phong. Thuộc diện hộ cận nghèo, năm 2021, anh đầu tư khoảng 100 triệu đồng làm hai lồng cá và một nhà bè để nuôi cá, kết hợp đánh bắt thủy sản trên lòng hồ.
“Năm 2022, gia đình vay 50 triệu đồng từ Ngân hàng Chính sách xã hội để mở rộng quy mô nuôi. Có thu nhập đến đâu thì đầu tư tiếp đến đó. Đến năm 2023, gia đình có 7 lồng cá, mỗi năm thu nhập hơn 100 triệu đồng”, anh Chức nói.

Những lồng cá nổi trên lòng hồ thủy điện Trung Sơn, nơi nhiều hộ dân phát triển nghề nuôi cá lồng.
Có thêm nguồn thu, cuối năm 2023, gia đình anh đầu tư thêm một nhà bè phục vụ ăn uống cho khách trên lòng hồ. Đến cuối năm 2025, gia đình chính thức thoát diện hộ cận nghèo. Sau nhiều năm đầu tư gối vụ, nguồn thu từ cá lồng và dịch vụ ăn uống đang giúp gia đình từng bước thu hồi vốn.
Cách đó không xa, anh Ngô Văn Chiến (37 tuổi, xã Cẩm Phong) cũng chọn lòng hồ thủy điện để gây dựng kinh tế. Trước đây, anh sống bằng nghề đánh bắt cá trên sông và lòng hồ. Khi địa phương phát triển mô hình nuôi cá lồng, anh quyết định chuyển sang nuôi thủy sản.

Anh Ngô Văn Chiến thu hoạch cá chép từ lồng nuôi để giao cho khách đặt mua.
“Lứa đầu tôi thả hơn 2.000 con trong hai lồng cá. Không may nước đầu nguồn đổ về làm cá chết gần một nửa, thiệt hại khoảng 45-50 triệu đồng. Sau đó, tôi chuyển lồng vào khu vực nước ổn định hơn trong lòng hồ rồi tiếp tục nuôi”, anh Chiến kể.
Không nản sau thất bại, mỗi năm có thêm nguồn thu, anh lại đầu tư thêm lồng nuôi. Đến nay, gia đình duy trì 12 lồng chủ yếu nuôi lăng đen, rô phi, chép... Mỗi năm thu nhập trên 100 triệu đồng. “Nhờ nghề nuôi cá lồng, cuộc sống gia đình ổn định hơn, các con cũng có điều kiện học hành như bạn bè cùng trang lứa”, anh Chiến chia sẻ.
Từ vài mô hình ban đầu, nghề nuôi cá lồng trên lòng hồ thủy điện Trung Sơn dần trở thành sinh kế của nhiều hộ dân, nhất là những gia đình từng thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo.
Chính sách tiếp sức, nghề nuôi cá lồng khởi sắc
Theo ông Ngô Sĩ Tâm, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Trung Sơn, lòng hồ thủy điện trên địa bàn có khoảng 300ha mặt nước, là lợi thế để phát triển nuôi thủy sản. Hiện, trên lòng hồ Trung Sơn có 57 hộ nuôi cá lồng với 173 ô lồng, thể tích bình quân khoảng 60 m³/ô, sản lượng khoảng 35-40 tấn/năm.
Năm 2021, khi tỉnh triển khai Đề án phát triển nuôi cá lồng trên lòng hồ thủy điện, xã Trung Sơn đã đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân tham gia. Đối tượng hưởng lợi chủ yếu là hộ nghèo, cận nghèo, trước đây sống dựa vào khai thác thủy sản tự nhiên hoặc sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ.

Cá lăng đen là một trong những đối tượng nuôi mang lại giá trị kinh tế cho người dân vùng lòng hồ thủy điện Trung Sơn.
Trao đổi với phóng viên, ông Tâm cho biết: Thời gian đầu, người dân chủ yếu tự bỏ vốn đầu tư. Từ năm 2022, nhiều hộ được tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi của Ngân hàng Chính sách xã hội để làm lồng nuôi, mua con giống và thức ăn. Riêng giai đoạn 2021-2023, Ngân hàng Chính sách xã hội đã giải ngân gần 1 tỷ đồng cho các hộ nuôi cá lồng trên địa bàn. Đến năm 2023, gần 40 hộ tiếp tục được hỗ trợ từ các chương trình của Ban Dân tộc tỉnh về con giống, thức ăn, tập huấn kỹ thuật và tham quan học tập mô hình, với tổng kinh phí gần 600 triệu đồng. Các chính sách được triển khai theo từng giai đoạn đã tạo thêm nguồn lực để người dân mạnh dạn đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất.
Nhờ đó, nhiều hộ đã chuyển từ lồng tre, luồng sang lồng khung sắt kết hợp phao nhựa, phù hợp với điều kiện dòng chảy trên lòng hồ. Bên cạnh các đối tượng nuôi truyền thống như cá trắm cỏ, cá rô phi, cá chép, nhiều hộ còn đưa cá dầm xanh, cá lăng đen và một số loài cá đặc sản vào nuôi, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm. Bình quân mỗi lồng cho thu hoạch 2-4 tấn/vụ, trừ chi phí, lợi nhuận khoảng 25-30 triệu đồng.
Cũng theo ông Tâm, cùng với nguồn vốn hỗ trợ, địa phương thường xuyên phối hợp với ngành chuyên môn tổ chức tập huấn kỹ thuật, hướng dẫn quy trình chăm sóc, phòng trừ dịch bệnh và định kỳ quan trắc chất lượng nước để kịp thời khuyến cáo người dân điều chỉnh phương thức nuôi. Đây là yếu tố quan trọng giúp nghề nuôi cá lồng trên lòng hồ phát triển theo hướng an toàn, bền vững.

Nuôi cá lồng đang trở thành sinh kế của nhiều hộ dân ven lòng hồ thủy điện Trung Sơn.
Đến nay, gần 40 hộ tham gia mô hình đã thoát nghèo, góp phần đưa tỷ lệ hộ nghèo của xã xuống còn hơn 8%. Nghề nuôi cá lồng không chỉ tạo việc làm tại chỗ mà còn trở thành sinh kế ổn định cho nhiều hộ dân vùng lòng hồ.
Tuy nhiên, theo lãnh đạo địa phương, việc ứng dụng công nghệ số trong nuôi thủy sản vẫn còn hạn chế do phần lớn các hộ là đồng bào dân tộc thiểu số, cao tuổi, khả năng tiếp cận công nghệ thông tin gặp nhiều khó khăn. Đây cũng là một trong những nội dung địa phương sẽ tiếp tục quan tâm trong thời gian tới.
Theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã Trung Sơn nhiệm kỳ 2025-2030, phát triển thủy sản trên lòng hồ được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kinh tế nông - lâm - thủy sản. Địa phương phấn đấu đến năm 2030, trên lòng hồ Trung Sơn duy trì khoảng 190-200 ô lồng, nâng số hộ nuôi lên 65-70 hộ; đồng thời khuyến khích phát triển các loài cá đặc sản, từng bước xây dựng sản phẩm OCOP từ cá lòng hồ, nâng cao giá trị và thu nhập cho người dân.
Ông Phan Lê Quân, Giám đốc Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Quan Hóa, cho biết, Ngân hàng đang triển khai 13 chương trình tín dụng trên địa bàn xã Trung Sơn. Đến ngày 31/7/2026, tổng dư nợ đạt 33.169 triệu đồng. Trong đó, dư nợ các chương trình cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và giải quyết việc làm đạt 23.421 triệu đồng, chiếm 70,6% tổng dư nợ.
Theo ông Quân, từ nguồn vốn tín dụng chính sách, nhiều mô hình sản xuất trên địa bàn đã được hình thành và phát triển, trong đó mô hình nuôi cá lồng trên lòng hồ thủy điện Trung Sơn mang lại hiệu quả tích cực. Nhiều hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo đã chuyển từ chăn nuôi trâu, bò sang nuôi cá lồng thương phẩm. Thông qua các Tổ tiết kiệm và vay vốn tại bản Tà Bán, bản Chiềng, người dân được tiếp cận nguồn vốn ưu đãi để đầu tư phát triển sản xuất. Có vốn, nhiều hộ mạnh dạn mở rộng quy mô nuôi, tăng thu nhập và từng bước ổn định cuộc sống.
Đối với chương trình cho vay giải quyết việc làm, đến tháng 7/2026, trên địa bàn còn 7 hộ vay với tổng dư nợ 700 triệu đồng. Theo ông Quân, số hộ vay giảm là do nhiều hộ sử dụng vốn đúng mục đích, làm ăn hiệu quả, có nguồn thu ổn định nên đã hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.
Ông Quân cho rằng, qua quá trình triển khai các chương trình tín dụng trên địa bàn, nguồn vốn chính sách đã giúp nhiều hộ có điều kiện đầu tư phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và từng bước vươn lên thoát nghèo. Mô hình nuôi cá lồng trên lòng hồ thủy điện Trung Sơn là một trong những minh chứng rõ nét cho hiệu quả của nguồn vốn tín dụng chính sách.
Nguồn: THANH DUYÊN/Kinhtenongthon.vn