Thị trường nông sản

Tháo gỡ “điểm nghẽn” và khoảng trống để ngành hàng sầu riêng tiến tới ngôi vị số một thế giới

20/08/2026, 18:45

Để xây dựng chuỗi giá trị sầu riêng bền vững, cần đặt người nông dân và vùng trồng vào vị trí trung tâm. Ngành sầu riêng cũng cần tháo gỡ những "điểm nghẽn" và khỏa lấp khoảng trống kiến thức của người nông dân về kỹ thuật canh tác và các tiêu chuẩn xuất khẩu, đưa Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu sầu riêng số một thế giới.

Sầu riêng là một ngành hàng mang lại giá trị kinh tế rất lớn cho Việt Nam.

Cấp 567 mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói sầu riêng

Sầu riêng đang giữ vị trí dẫn đầu trong nhóm rau quả xuất khẩu của Việt Nam. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đạt khoảng 3,86 tỷ USD, tăng hơn 20% so với năm trước và chiếm trên 45% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả.

Theo Hiệp hội Rau quả Việt Nam, riêng tháng 7, xuất khẩu sầu riêng đạt khoảng 600-700 triệu USD, đưa kim ngạch 7 tháng lên khoảng 1,8 tỷ USD, tăng gần 30% so với cùng kỳ năm ngoái. Từ nay đến cuối năm, dự kiến khoảng 1,3 triệu tấn sầu riêng bước vào kỳ thu hoạch, tạo dư địa để xuất khẩu tiếp tục tăng mạnh.

Trao đổi tại Tọa đàm “Gỡ điểm nghẽn ngành hàng sầu riêng: Kiến tạo xuất khẩu bền vững”, ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ NN&MT) cho biết, trong thời điểm đang vào chính vụ sầu riêng, Việt Nam vừa nhận được thông tin tích cực từ Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC). Theo đó, phía GACC mới đây đã thông báo cấp 567 mã số cơ sở đóng gói và mã số vùng trồng cho Việt Nam. Trong số này có 401 mã số vùng trồng và 166 mã số cơ sở đóng gói.

Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đã thông báo tới các địa phương để doanh nghiệp, người dân và các đơn vị liên quan nắm rõ, chủ động chuẩn bị các điều kiện phục vụ xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc.

Trong khoảng 5 năm trở lại đây, diện tích và sản lượng sầu riêng của Việt Nam tăng trưởng rất mạnh và cơ bản đã đáp ứng yêu cầu về quy mô sản xuất. Trong khi đó, không chỉ Việt Nam mà nhiều quốc gia khác cũng đang đẩy mạnh phát triển sầu riêng. Nếu tiếp tục mở rộng diện tích và sản lượng với tốc độ như giai đoạn vừa qua, nguy cơ dư thừa nguồn cung là điều cần tính đến. Vì vậy, ngành sầu riêng cần tập trung nâng ưu tiên kiểm soát chất lượng. Bên cạnh đó, nghiên cứu phát triển giống sầu riêng mới có chất lượng tốt hơn.

Một vấn đề đặc biệt quan trọng trong quản lý chất lượng là bảo đảm an toàn thực phẩm. Trong đó, việc kiểm soát dư lượng và sinh vật gây hại cần được đặc biệt quan tâm. Bên cạnh đó, việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói vẫn cần tiếp tục được quan tâm. Nghị quyết 36/2026/NQ-CP đã được Chính phủ ban hành và đang được triển khai thực hiện. Song song với việc thực hiện Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục nghiên cứu sửa đổi Nghị định 38 để bảo đảm không có khoảng trống chính sách khi Nghị quyết 36 kết thúc. Việc sửa đổi Nghị định 38 cũng sẽ bám sát các định hướng đã được xác lập trong Nghị quyết 36.

Liên quan đến việc cấp mã số vùng trồng đối với những diện tích nhỏ lẻ, ý kiến của doanh nghiệp là xác đáng. Về nguyên tắc, khi người dân có nhu cầu và đủ điều kiện thì cơ quan quản lý phải thực hiện cấp mã số, không phân biệt diện tích lớn hay nhỏ, phục vụ cả mục đích xuất khẩu và tiêu thụ nội địa.

Tuy nhiên, nếu cấp mã số riêng lẻ cho từng diện tích nhỏ sẽ gây áp lực lớn về nguồn nhân lực cho công tác kiểm tra, xác minh, đồng thời làm tăng chi phí quản lý. Vì vậy, Nghị quyết 36 đã đưa ra giải pháp là khuyến khích các hộ dân liên kết với nhau để hình thành vùng trồng có quy mô lớn và cấp chung một mã số.

Đây là chính sách khuyến khích, không phải quy định bắt buộc. Mục tiêu cuối cùng là vừa tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, vừa nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chất lượng, an toàn của sản phẩm sầu riêng cho cả mục đích xuất khẩu và nội địa.

Gỡ 4 điểm nghẽn và khỏa lấp khoảng trống trong ngành sầu riêng

Ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), cho biết, trong 6 tháng đầu năm, Trung Quốc nhập khẩu khoảng 1,07 triệu tấn sầu riêng; Thái Lan là nguồn cung lớn nhất với hơn 800.000 tấn, tiếp theo là Việt Nam với khoảng 238.000 tấn.

Những con số này cho thấy, cùng với Thái Lan, Việt Nam đang là một trong hai nguồn cung cấp sầu riêng chủ lực cho thị trường này. Sự tăng trưởng mang lại kim ngạch xuất khẩu 846 triệu USD cho sầu riêng Việt Nam trong nửa đầu năm. Tuy nhiên, sản lượng xuất khẩu của Thái Lan vẫn cao hơn gần 4 lần Việt Nam. Nếu không nâng cao chất lượng và tính chuyên nghiệp, chúng ta sẽ khó giữ vững vị thế. Trung Quốc vẫn là thị trường trọng điểm, song việc tìm kiếm và khai mở các thị trường mới là bắt buộc.

Với trái cây tươi như sầu riêng, việc mở rộng thị trường phụ thuộc nhiều vào tập quán tiêu dùng và công tác phổ biến thông tin đến người dùng. Định hướng trước mắt là tập trung hỗ trợ tại các thị trường châu Á hoặc những thị trường phương Tây có cộng đồng người châu Á đông đảo như Mỹ.

Bên cạnh xuất khẩu chính ngạch, ngành cũng cần đa dạng hóa phương thức tiêu thụ, trong đó có thương mại điện tử và bán hàng trên các nền tảng số.

Đầu tiên là, truy xuất nguồn gốc phải đi vào thực chất, tránh hình thức. Một hệ thống hiệu quả phải có tính tự động hóa cao, hạn chế gian lận và quản lý xuyên suốt từ vùng trồng, chế biến, đóng gói đến phân phối.

Thứ hai là, thúc đẩy công nhận lẫn nhau về kiểm dịch và mở đường xuất khẩu biển. Giải pháp này giúp rút ngắn thời gian thông quan, đồng thời giảm áp lực cho các cửa khẩu đường bộ khi có thể tăng cường vận chuyển bằng đường biển.

Thứ ba là, hoàn thiện chuỗi lạnh và nâng cao năng lực logistics tại vùng trồng. Cần đầu tư kho lạnh, cơ sở kiểm dịch và nhà máy chế biến sâu thay vì chỉ tập trung xuất khẩu quả tươi. Để thu hút doanh nghiệp, cần có các gói tín dụng ưu đãi với lãi suất thấp và thời hạn vay dài.

Thứ tư là, thúc đẩy liên kết thực chất giữa các hộ sản xuất thông qua vai trò của doanh nghiệp và địa phương. Doanh nghiệp có thể định hướng nông dân áp dụng đồng bộ quy trình kỹ thuật, hình thành vùng sản xuất tập trung, trong khi chính quyền địa phương phối hợp rà soát, hỗ trợ các hộ trồng uy tín.

Theo ông Nguyễn Đình Tùng, Chủ tịch kiêm TGĐ Vina T&T Group, thời gian qua, câu chuyện về Cadimi trong sầu riêng, đặc biệt tại một số vùng như Đắk Lắk, hay những thông tin liên quan đến sầu riêng ở Đồng bằng sông Cửu Long được đề cập nhiều. Tuy nhiên, cần nhìn nhận rõ vấn đề ở từng vùng, từng trường hợp cụ thể.

Các thị trường nhập khẩu hiện nay chưa chỉ nhìn vào một vấn đề đơn lẻ, bởi sầu riêng Việt Nam không chỉ xuất khẩu sang Trung Quốc mà còn đi nhiều thị trường trên thế giới. Xuất khẩu trái cây tươi, đặc biệt là sầu riêng, là lĩnh vực có rủi ro cao vì khi xảy ra sự cố gần như không có thời gian để sửa sai. Chỉ cần một vấn đề trong quá trình kiểm tra, logistics hay thông quan, hàng trăm container có thể phải quay đầu, không thể tiêu thụ do đặc thù sầu riêng cần thời gian chín. Do đó, cần đẩy mạnh đầu tư vào công nghệ chế biến, đặc biệt là công nghệ cấp đông.

Thời gian qua, khi gặp khó khăn về kiểm nghiệm, nhiều sản phẩm sầu riêng đã được đưa vào cấp đông để xuất khẩu sang châu Âu, Mỹ và các thị trường khác. Nếu không có hệ thống cấp đông, ngành hàng sầu riêng sẽ rất dễ bị ảnh hưởng khi gặp các vấn đề phát sinh. Vì vậy, cần có chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này. Một vấn đề khác là câu chuyện thông quan.

Nhiều sản phẩm sầu riêng đã được đưa vào cấp đông để xuất khẩu sang châu Âu, Mỹ và các thị trường khác.

Hiện nay, phần lớn sầu riêng vẫn xuất khẩu bằng đường bộ, trong khi vận chuyển bằng đường biển chưa phát triển tương xứng. Việc kiểm dịch tại các cảng của Trung Quốc hiện còn những khó khăn nhất định, khiến doanh nghiệp phải lựa chọn đường bộ dù chi phí cao hơn. Có những trường hợp doanh nghiệp phải chấp nhận chi phí vận chuyển khoảng 3.000-4.000 USD cho một chuyến xe thay vì đi container đường biển với chi phí thấp hơn. Vì vậy, cần có sự phối hợp giữa hải quan Việt Nam và hải quan Trung Quốc, kết nối dữ liệu để tạo luồng xanh cho hàng hóa xuất khẩu, giảm rủi ro kiểm tra lại. Nếu phát triển được vận tải biển, doanh nghiệp sẽ giảm áp lực rất lớn cho các cửa khẩu phía Bắc.

Về mã số vùng trồng, cần nhìn lại câu chuyện liệu quá trình này đã thực sự được đơn giản hóa hay chưa. Mã số vùng trồng là yêu cầu gắn với xuất khẩu, trong đó thị trường nhập khẩu có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát và phê duyệt. Đồng thời, khi thực hiện số hóa mã số vùng trồng cần tính đến đặc điểm sản xuất hiện nay, bởi số lượng hộ dân đủ sản lượng để tự cung cấp một container xuất khẩu là rất ít.

Việc tăng thêm vai trò quản lý của địa phương là cần thiết, nhưng cũng cần chuẩn bị kỹ về năng lực thực hiện. Nếu quy trình quản lý phát sinh thêm nhiều yêu cầu, thủ tục mà địa phương và người dân chưa sẵn sàng thì sẽ tạo thêm rào cản cho doanh nghiệp. Mã số vùng trồng chính là "tấm hộ chiếu" để hàng hóa xuất khẩu. Vì vậy, việc quản lý cần chặt chẽ, nhưng đồng thời phải rõ ràng, thuận lợi để doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân có thể thực hiện hiệu quả.

Ông Nguyễn Văn Mười, Phó Trưởng Chi nhánh phía Nam - Hội Làm vườn Việt Nam, Chủ tịch Câu lạc bộ Doanh nghiệp Nông nghiệp nhiệt đới đánh giá, Việt Nam chưa có một ngành hàng nào có mức độ tăng trưởng tốt như sầu riêng. Năm 2021, kim ngạch xuất khẩu sầu riêng chỉ khoảng 180 triệu USD; năm 2022, chỉ trong 3 tháng cuối năm sau khi ký Nghị định thư, đã đạt 421 triệu USD. Đến năm 2023, con số đã hơn 2 tỷ USD và năm 2025 ạt 3,85 tỷ USD.

Điều đó cho thấy sầu riêng là một ngành hàng mang lại giá trị kinh tế rất lớn cho Việt Nam. Vì vậy, khi nhìn vào những vấn đề đang đặt ra, cơ quan quản lý phải xác định đây là một ngành hàng có lợi ích kinh tế rất lớn và phải làm gì để phát triển tương xứng với tiềm năng.

Tất nhiên, tăng trưởng nóng thì sẽ bộc lộ vấn đề. Nhưng theo tôi, điểm nghẽn hiện nay nằm ở khâu tổ chức thực hiện chứ không hẳn nằm ở quy định pháp luật. Các quy định pháp luật đa số đã tương đối đầy đủ, nhưng vấn đề là triển khai trên thực tế. Ví dụ, đăng ký mã số vùng trồng không phải việc quá phức tạp, nhưng chúng ta lại làm cho nó trở nên phức tạp.

Vấn đề thứ hai là chất lượng. Không chỉ riêng sầu riêng mà đối với nông sản, đặc biệt là ngành hàng rau quả, chất lượng là vấn đề cực kỳ quan trọng. Nhưng hiện nay, cơ quan nào chịu trách nhiệm chính về chất lượng nông sản? Khi xảy ra sự cố về chất lượng thì cơ quan nào giải quyết và phải giải quyết kịp thời?

Hiện nay, trong Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đang quản lý nhiều nội dung, trong khi Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường cũng quản lý về chất lượng. Nhưng vấn đề là đơn vị nào thực sự nắm được bức tranh tổng thể và có kế hoạch giảm rủi ro về chất lượng?

Ví dụ, năm nay chất lượng nông sản của chúng ta đang ở mức nào? Chúng ta phải đánh giá được mức độ, phải có số liệu cụ thể, có kế hoạch và có lộ trình. Hiện nay, chúng ta vẫn chưa thấy một đơn vị nào đứng ra công bố rõ chất lượng nông sản, chất lượng rau quả của Việt Nam đang ở mức nào và đến thời điểm nào chúng ta cơ bản bảo đảm được chất lượng. "Đây là vấn đề cần có địa chỉ, cần có cơ quan chịu trách nhiệm và có lộ trình thực hiện. Tôi chốt lại một vấn đề: để giải quyết các điểm nghẽn, chúng ta phải phân công đúng người, đúng việc, đúng nhiệm vụ. Khi phân công đúng thì mọi thứ sẽ được giải quyết", ông Mười nhấn mạnh.

Để sầu riêng Việt tiến tới ngôi vị số một thế giới

Ông Nguyễn Thế Tùng, Tổng Giám đốc Queen Farm, cho rằng, để xây dựng chuỗi giá trị sầu riêng bền vững, cần đặt người nông dân và vùng trồng vào vị trí trung tâm. Cùng với việc ứng dụng “Ba khoa học”, ngành hàng cần tháo gỡ bài toán logistics, kiểm soát chuyển đổi giống tự phát và củng cố liên kết “bốn nhà”.

Trong chuỗi cung ứng nông sản, đặc biệt với ngành hàng sầu riêng, người nông dân và vùng trồng chính là gốc rễ. Chất lượng, uy tín xuất khẩu và thương hiệu quốc gia đều bắt đầu từ đây. Nếu vùng trồng không ổn định, người nông dân không được định hướng và hỗ trợ kịp thời, mọi nỗ lực ở các khâu sau đều khó đạt hiệu quả. Do đó, cần có một ban chuyên trách để xử lý các điểm nghẽn của ngành, từ quản lý cây giống, vật tư nông nghiệp đến kỹ thuật canh tác tại thực địa.

Để nâng cao chất lượng sầu riêng, mô hình “Ba khoa học” gồm khoa học canh tác, khoa học quản lý và khoa học công nghệ ứng dụng cần được chuyển giao, nhân rộng tại các vùng trồng. Người nông dân cần được trang bị kiến thức về thổ nhưỡng, cải tạo đất và kỹ thuật chăm sóc. Quản lý sản xuất phải hướng đến sự đồng bộ để kiểm soát chất lượng, trong khi công nghệ có thể hỗ trợ tưới tiêu, giám sát sâu bệnh và quản lý thông tin vùng trồng. Trong bối cảnh thời tiết ngày càng thất thường, từ hạn mặn đến mưa lớn kéo dài, việc ứng dụng khoa học là giải pháp quan trọng để giảm rủi ro và kiểm soát chất lượng sản phẩm.

Bên cạnh chất lượng, sầu riêng Việt Nam cần tối ưu chi phí chuỗi cung ứng, từ vùng trồng đến kho vựa, cửa khẩu, cảng biển và thị trường xuất khẩu. Một vấn đề đáng lo khác là sự chuyển đổi giống tự phát. Giá sầu riêng Ri6 tại một số nơi xuống thấp trong khi chi phí sản xuất cao, khiến nhiều nông dân chuyển sang giống Dona. Nếu diễn ra ồ ạt, tình trạng này có thể dẫn tới nguy cơ độc canh, nguồn cung tăng mạnh và làm giảm giá trị sản phẩm.

Ngành sầu riêng cũng cần khỏa lấp khoảng trống kiến thức của người nông dân về kỹ thuật canh tác và các tiêu chuẩn xuất khẩu. Đồng thời, cần xây dựng thêm các mô hình nông nghiệp chuẩn hóa để người dân học hỏi và áp dụng.

Ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam đánh giá, trong giai đoạn 3-4 năm tới (từ 2027-2030), ngành sầu riêng Việt Nam sẽ bước qua thời kỳ “tăng trưởng nóng về sản lượng” để chuyển sang giai đoạn sàng lọc chất lượng, định hình lại cấu trúc thị trường và cạnh tranh về chuỗi giá trị.

Ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho rằng, nếu kiểm soát tốt bài toán an toàn thực phẩm và chuẩn hóa mã số vùng trồng, kim ngạch xuất khẩu sầu riêng Việt Nam hoàn toàn có thể ổn định ở mức 4,5-5 tỷ USD mỗi năm.

Diện tích sầu riêng được trồng trong giai đoạn 2021-2023 tại Tây Nguyên và Đông Nam Bộ sẽ bước vào thời kỳ cho năng suất tối đa, đưa tổng sản lượng sầu riêng Việt Nam vượt mốc 2,2-2,5 triệu tấn mỗi năm. Khi nguồn cung bùng nổ, áp lực bình ổn giá bán sẽ ngày càng lớn. Thời kỳ giá thu mua xô tại vườn đạt 100.000-150.000 đồng/kg sẽ không còn phổ biến. Giá sẽ dần tiệm cận mức cân bằng bền vững, khoảng 40.000-70.000 đồng/kg, tùy giống và chất lượng loại A, B hay C.

Lợi nhuận cũng sẽ phân hóa mạnh. Những vườn trồng ngoài vùng quy hoạch, có chất lượng thấp, tỷ lệ sượng cao hoặc nhiễm kim loại nặng sẽ chịu thua lỗ lớn và đối mặt với nguy cơ bị thị trường đào thải.

Cạnh tranh quốc tế cũng bước vào giai đoạn khốc liệt nhất. Thái Lan đang tập trung nâng cao tiêu chuẩn về độ chín tự nhiên, độ Brix và đẩy mạnh logistics đường sắt để rút ngắn thời gian giao hàng. Malaysia tăng tốc xuất khẩu các giống sầu riêng tươi cao cấp như Musang King, Black Thorn vào phân khúc thượng lưu tại Trung Quốc. Trong khi đó, Philippines, Campuchia, Lào và các vùng trồng thử nghiệm tại đảo Hải Nam của Trung Quốc sẽ đóng góp thêm một lượng sản phẩm đáng kể cho thị trường.

Trong giai đoạn 2027-2030, cơ cấu và chuỗi giá trị sầu riêng Việt Nam sẽ có sự chuyển dịch rõ rệt. Tỷ trọng xuất khẩu quả tươi đơn thuần sẽ giảm, trong khi sầu riêng cấp đông, gồm cả nguyên trái và tách múi, cùng các sản phẩm chế biến sâu sẽ tăng lên, có thể chiếm khoảng 30-40% tổng kim ngạch.

Việc truy xuất nguồn gốc sẽ được số hóa 100%. Các yêu cầu về kiểm soát Cadimi, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và chứng nhận GlobalGAP sẽ trở thành điều kiện bắt buộc để duy trì mã số xuất khẩu. Ngoài Trung Quốc, các sản phẩm sầu riêng đông lạnh và chế biến sẽ tiếp tục mở rộng thị phần tại Ấn Độ, Bắc Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Đông.

Cấu trúc thu mua cũng sẽ thay đổi. Lực lượng thương lái nhỏ lẻ sẽ dần thu hẹp, thay vào đó là sự hình thành của các tập đoàn, doanh nghiệp và hợp tác xã quy mô lớn, liên kết bao tiêu trực tiếp từ vùng trồng đến chế biến, kho lạnh và logistics.

Việt Nam có lợi thế chiến lược độc nhất là khả năng thu hoạch rải vụ quanh năm và vị trí địa lý liền kề thị trường Trung Quốc, qua đó giúp tối ưu hóa chi phí vận chuyển. Tuy nhiên, để duy trì và nâng cao vị thế, ngành sầu riêng Việt Nam phải chuyển từ tăng trưởng dựa vào sản lượng sang cạnh tranh bằng chất lượng và giá trị của toàn bộ chuỗi.

Việt Nam có lợi thế chiến lược độc nhất là khả năng thu hoạch rải vụ quanh năm và vị trí địa lý liền kề thị trường Trung Quốc, qua đó giúp tối ưu hóa chi phí vận chuyển. Tuy nhiên, để duy trì và nâng cao vị thế, ngành sầu riêng Việt Nam phải chuyển từ tăng trưởng dựa vào sản lượng sang cạnh tranh bằng chất lượng và giá trị của toàn bộ chuỗi.

"Nếu kiểm soát tốt bài toán an toàn thực phẩm và chuẩn hóa mã số vùng trồng, kim ngạch xuất khẩu sầu riêng Việt Nam hoàn toàn có thể ổn định ở mức 4,5-5 tỷ USD mỗi năm, chính thức đưa Việt Nam cạnh tranh vị trí quốc gia xuất khẩu sầu riêng số một thế giới. Ngược lại, nếu buông lỏng kiểm định chất lượng, nguy cơ mất thị phần vào tay các đối thủ sẽ diễn ra rất nhanh", Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam Đặng Phúc Nguyên nhấn mạnh./.


Nguồn: THANH TÂM/Kinh tế nông thôn