Năm 2025 đã khẳng định vai trò nổi bật của nông nghiệp sinh thái trong thích ứng và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. Năm 2026, nhóm về dinh dưỡng và hành vi tiêu dùng sẽ là một trọng tâm, với mục tiêu đẩy mạnh bảo đảm an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc xuất xứ, tiêu dùng bền vững.

Trong nông nghiệp sinh thái, kiến thức không chỉ đến từ khoa học mà còn từ kinh nghiệm thực tiễn của nông dân
Vai trò nổi bật của nông nghiệp sinh thái trong chuyển đổi xanh
Năm 2025 đã khẳng định vai trò nổi bật của nông nghiệp sinh thái trong thích ứng và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu (như trong đóng góp NDC 3.0, Đề án 1 triệu ha, thu thập các mô hình tại địa phương). Ngoài ra, thúc đẩy đối tác công - tư và huy động nguồn lực tài chính cho nông nghiệp sinh thái.
Đó là nhấn mạnh của Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Nguyễn Đỗ Anh Tuấn tại “Hội nghị Toàn thể Chương trình Hỗ trợ quốc tế (ISG) - Thúc đẩy chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm theo hướng xanh, ít phát thải và bền vững: Hợp tác và đổi mới sáng tạo" do Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) tại Việt Nam và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tổ chức ngày 9/1.
Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Nguyễn Đỗ Anh Tuấn cho hay: "Chuyển đổi hệ thống lương thực, thực phẩm dần được tiếp nhận, ngày càng phổ biến dưới góc nhìn hệ sinh thái nông nghiệp - thực phẩm".
Việt Nam đã và đang sửa đổi, hoàn thiện chính sách, pháp luật để phù hợp với các yêu cầu mới của quá trình chuyển đổi xanh và sản xuất phát thải thấp. "Các mô hình sinh thái thành công tại địa phương là kế thừa nhiều kết quả từ sự phối hợp các tổ chức quốc tế và sẽ cần tăng cường kết nối, chia sẻ, kế thừa và chuyển giao những kết quả đó thành mô hình cấp quốc gia", ông nói.
Vụ trưởng Nguyễn Đỗ Anh Tuấn kỳ vọng, các đối tác quốc tế sẽ cùng tiếp tục tham gia, phối hợp triển khai các sáng kiến xanh, phát thải thấp, đơn cử như Đề án trồng trọt phát thải thấp và các chương trình chuyên ngành của Bộ.
Giai đoạn 2021-2025, Việt Nam đã có hơn 200 mô hình nông nghiệp sinh thái do các tổ chức quốc tế như FAO, UNDP hỗ trợ triển khai. Ông Tuấn xác định, năm 2026, nhóm về dinh dưỡng và hành vi tiêu dùng sẽ là một trọng tâm, với mục tiêu đẩy mạnh bảo đảm an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc xuất xứ, tiêu dùng bền vững.

Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Nguyễn Đỗ Anh Tuấn cho hay, năm 2026, nhóm về dinh dưỡng và hành vi tiêu dùng sẽ là một trọng tâm hướng đến tiêu dùng bền vững.
Theo cập nhật từ PGS.TS Trần Minh Tiến, Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS), Nhóm Đối tác chuyển đổi hệ thống lương thực, thực phẩm năm 2025 đã tập trung khảo sát, đánh giá kết quả thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia về chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm (FST-NAP), rà soát phân công nhiệm vụ trong bối cảnh mới và xây dựng dự thảo kế hoạch thực hiện chi tiết (FST-PIP).
Định hướng trong thời gian tới, theo PGS.TS Trần Minh Tiến, trọng tâm sẽ là huy động hiệu quả các nguồn lực tài chính và hỗ trợ kỹ thuật cho các chương trình, đề án trọng điểm của Bộ, gắn với mục tiêu tăng trưởng xanh, bảo đảm an toàn thực phẩm, phòng ngừa và giảm nhẹ rủi ro thiên tai, thúc đẩy ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số; đồng thời tiếp tục triển khai các giải pháp nhằm giảm thiểu thất thoát và lãng phí thực phẩm trong toàn chuỗi.
Đại diện tổ chức quốc tế, ông Nguyễn Song Hà, Trợ lý Trưởng Đại diện FAO tại Việt Nam, khẳng định, các chiến lược và kế hoạch chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm cần được lồng ghép vào các chương trình trọng điểm, thiết kế chung của vùng, bảo đảm hài hòa các quy định, tiêu chuẩn.
FAO khẳng định vai trò của tài chính xanh, bảo hiểm nông nghiệp, thị trường các-bon trong giai đoạn mới, đồng thời khuyến khích thu thập, chia sẻ và nhân rộng các mô hình nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp thuận thiên đã chứng minh hiệu quả tại Việt Nam như nuôi cá mùa lũ, lúa - sen, lúa - tôm, tôm rừng, nông lâm kết hợp.
Hội nghị cũng chia sẻ và giới thiệu các kết quả từ Hội nghị COP30 và các chính sách gần đây về chuyển đổi hệ thống nông nghiệp - thực phẩm. Các bên cũng đề xuất các sáng kiến và lĩnh vực hợp tác tiềm năng về sản xuất ít phát thải và bền vững, tiêu dùng có trách nhiệm và bền vững, quản trị và định hướng hoạt động của ISG, hợp tác và đổi mới sáng tạo về chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm theo hướng xanh, ít phát thải.
Nền tảng chuyển đổi tư duy sản xuất nông nghiệp
Theo ông Huỳnh Quốc Tịnh, Giám đốc chương trình Nông nghiệp và thực phẩm bền vững WWF-Việt Nam, nông nghiệp sinh thái không chỉ là kỹ thuật canh tác mà là một hệ thống mang lại lợi ích đa chiều: từ việc giảm đáng kể phát thải khí nhà kính, bảo vệ đa dạng sinh học, đến việc cải thiện trực tiếp sinh kế và tăng khả năng chống chịu cho người nông dân trước biến đổi khí hậu. Đây chính là nền tảng để chuyển đổi từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp bền vững.
Tại Việt Nam, giai đoạn 2010-2025, nhiều hệ thống truyền thống được cải tiến như: lúa mùa nổi kết hợp cá/sen, nông lâm kết hợp, hay các mô hình hiện đại như canh tác lúa ngập - khô xen kẽ (AWD) giúp tiết kiệm nước và giảm phát thải methane. Sự hỗ trợ từ các giải pháp sáng tạo như ứng dụng vi sinh bản địa oxy hóa methane (methanotroph), sử dụng than sinh học, phân hữu cơ, và năng lượng mặt trời trong tưới tiêu đã giúp giảm thiểu đầu vào hóa chất, đồng thời số hóa quy trình đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV) để quản lý chuỗi cung ứng xanh minh bạch hơn.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy nguồn vốn ODA vẫn là động lực chính, chiếm tới 61,4% tổng số dự án, trong khi ngân sách nhà nước chỉ chiếm 16% và khu vực tư nhân đóng góp ở mức 9%. Sự thiếu hụt tài chính xanh, dữ liệu MRV chưa đồng bộ và cơ sở hạ tầng chưa tương thích là những rào cản lớn nhất ngăn cản việc mở rộng quy mô, dù Việt Nam có chính sách thuận lợi và xu hướng tiêu dùng xanh đang toàn cầu hóa.

Các chính sách phải tập trung hỗ trợ xây dựng thương hiệu dựa trên giá trị vùng sinh thái nâng cao giá trị cạnh tranh cho nông sản.
Về chính sách, cần tích hợp nông nghiệp sinh thái vào khung quy hoạch vùng, tạo ra sự kết nối chặt chẽ giữa hạ tầng thủy lợi, logistics và đặc thù sinh thái địa phương. Bên cạnh đó, xây dựng các cơ chế tín dụng xanh với lãi suất ưu đãi sẽ là đòn bẩy trực tiếp giúp nông dân tiếp cận nguồn lực để chuyển đổi sản xuất. Các chính sách phải tập trung hỗ trợ xây dựng thương hiệu dựa trên giá trị vùng sinh thái, kết hợp với hệ thống MRV dựa vào cộng đồng để minh bạch hóa quy trình giảm phát thải, nâng cao giá trị cạnh tranh cho nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Thiết lập một Chiến lược quốc gia về quản lý sức khỏe đất
Hiện nay, tài nguyên đất Việt Nam đang đứng trước nguy cơ thoái hóa cao do biến đổi khí hậu, canh tác không hợp lý và sử dụng phân bón quá liều lượng. Nghiên cứu của FAO cho thấy, Việt Nam nằm trong top 20 quốc gia sử dụng phân bón nhiều nhất thế giới. Giai đoạn 1980-2020, giá trị nhập khẩu và sử dụng thuốc BVTV cũng được ghi nhận ở mức cao.
PGS.TS Trần Minh Tiến, Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS), đề xuất một lộ trình toàn diện từ xây dựng cơ sở dữ liệu đất và cây trồng quốc gia đến áp dụng các kỹ thuật canh tác bền vững nhằm phục hồi và bảo vệ sức khỏe đất. Trong đó, ứng dụng công nghệ nông nghiệp chính xác và các sản phẩm vật tư thế hệ mới như phân bón nano, phân bón nhả chậm và mô hình "bác sĩ đất" (kết hợp trực tuyến và trực tiếp) sẽ hỗ trợ kỹ thuật thiết thực cho nông dân.
“Tôi cho rằng cần thiết lập một Chiến lược quốc gia về quản lý sức khỏe đất, ưu tiên đầu tư nghiên cứu và ban hành các quy định riêng cho canh tác đất dốc. Đồng thời, tổ chức Ngày Quốc tế về đất hằng năm sẽ góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng, khẳng định vị thế của sức khỏe đất như một tài sản quốc gia”, ông nhấn mạnh./.
Nguồn: THANH TÂM/Kinhtenongthon.vn