Phát biểu tại hội trường về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027, đại biểu Nguyễn Thị Lan (Hà Nội) cho rằng: Đã đến lúc nông nghiệp Việt Nam phải chuyển từ làm chủ sản lượng sang làm chủ công nghệ lõi, từ xuất khẩu nông sản sang từng bước xuất khẩu công nghệ nông nghiệp. Đó là con đường bền vững để khẳng định vị thế và bản lĩnh đất nước bằng tri thức và công nghệ.
"Chip bán dẫn" của nông nghiệp Việt Nam
Đại biểu Nguyễn Thị Lan (Hà Nội) cho rằng: Sau 40 năm đổi mới, đã đến lúc nông nghiệp Việt Nam phải chuyển từ làm chủ sản lượng sang làm chủ công nghệ lõi, từ xuất khẩu nông sản sang từng bước xuất khẩu công nghệ nông nghiệp.

Đại biểu Nguyễn Thị Lan, Đoàn ĐBQH Hà Nội
Đại biểu cho biết, chúng ta có những thuận lợi, tốc độ tăng trưởng GDP 9 tháng năm 2026 đạt trên 9%, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vượt 56 tỷ USD trong bối cảnh thế giới nhiều biến động là những điểm sáng rất đáng tự hào, khẳng định sự lãnh đạo, điều hành quyết liệt, hiệu quả của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và sự nỗ lực to lớn của toàn xã hội.
Nông nghiệp nước ta thời gian qua đã đảm bảo vững chắc an ninh lương thực và tiếp tục khẳng định vai trò là trụ đỡ vững vàng của nền kinh tế. Tuy nhiên, nhìn thẳng vào thực tiễn, ngành đang đối mặt với nút thắt cổ chai chiến lược: Chúng ta vẫn phụ thuộc từ 60 - 70% nguồn đạm và phụ gia thức ăn chăn nuôi nhập khẩu. Nhiều loại giống chất lượng cao, enzyme và các chế phẩm chế biến sâu vẫn phải nhập khẩu từ bên ngoài.
Đại biểu Nguyễn Thị Lan cho rằng: Chìa khóa đột phá cho bài toán trên chính là công nghệ sinh học tổng hợp — được xem như "chip bán dẫn" của nền nông nghiệp tương lai. Nếu chip bán dẫn là trái tim của công nghệ số, thì sinh học tổng hợp là năng lực lập trình tế bào sống thành các nhà máy siêu vi, giúp chúng ta chủ động sản xuất chính xác nguồn đạm sinh học, enzyme, vắc-xin và các chế phẩm sinh học thay thế hóa chất độc hại.
Thực tiễn thế giới cho thấy, sinh học tổng hợp đã trở thành ngành công nghiệp trị giá hàng trăm tỷ USD phục vụ nông nghiệp trị giá hàng trăm tỷ USD, được Mỹ, Trung Quốc và Liên minh châu Âu (EU) xác định là động lực tăng trưởng ngang hàng với Trí tuệ nhân tạo (AI) và Bán dẫn. Đơn cử, Trung Quốc đã thành công trong việc dùng nấm men chuyển hóa methanol thành nguồn đạm quy mô công nghiệp để giải bài toán thức ăn chăn nuôi.
Do đó, Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đưa công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến vào nhóm công nghệ chiến lược quốc gia là định hướng hoàn toàn đúng đắn, kịp thời; giúp ngành nông nghiệp chủ động nguồn giống, thức ăn, kiểm soát dịch bệnh từ gốc, xanh hóa sản xuất và thoát khỏi "bẫy gia công" giá trị thấp.
Đưa công nghệ sinh học tổng hợp vào thực tiễn chuỗi sản xuất
Để đưa công nghệ sinh học tổng hợp vào thực tiễn chuỗi sản xuất, GS.TS Nguyễn Thị Lan kiến nghị Chính phủ tập trung 4 nhóm giải pháp đột phá:
Thứ nhất, thượng tầng pháp lý và cơ chế thử nghiệm: Sớm ban hành khung cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cho các sản phẩm sinh học nông nghiệp mới. Cần thiết lập quy trình liên thông từ thử nghiệm tại các viện nghiên cứu, trường đại học đủ điều kiện đến cấp phép lưu hành; cắt giảm tối đa các rào cản thủ tục, đồng thời kiểm soát nghiêm ngặt, minh bạch về an toàn sinh học.
Thứ hai, thể chế tài chính và phát triển doanh nghiệp spin-off: Tháo gỡ các rào cản về thể chế tài chính và tài sản công để phát triển doanh nghiệp spin-off trong trường đại học. Sớm ban hành hướng dẫn cụ thể về định giá, góp vốn bằng kết quả nghiên cứu khoa học; thí điểm cơ chế vốn mồi, đồng tài trợ cùng doanh nghiệp cho giai đoạn sản xuất thử.
Thứ ba, quy hoạch hạ tầng nghiên cứu và sản xuất dùng chung: Tập trung nguồn lực đầu tư có trọng tâm các phòng thí nghiệm hiện đại và hệ thống sản xuất thử nghiệm (pilot plant) dùng chung tại các viện nghiên cứu, trường đại học trọng điểm. Vận hành theo cơ chế mở để kết nối chặt chẽ viện, trường với doanh nghiệp, tối ưu hóa hiệu suất tài sản công và kiên quyết tránh dàn trải, lãng phí ngân sách.
Thứ tư, đào tạo nguồn nhân lực tinh hoa: Con người là yếu tố quyết định tạo nên đột phá công nghệ. Nữ đại biểu đề nghị Chính phủ đặt hàng đào tạo chuyên sâu về công nghệ sinh học tiên tiến và sinh học tổng hợp gắn với bài toán thực tiễn của doanh nghiệp. Tập trung xây dựng đội ngũ nhà khoa học đầu ngành làm chủ công nghệ lõi, cùng lực lượng quản lý và tư vấn khoa học có năng lực dẫn dắt, kết nối chuỗi giá trị; đi kèm chính sách đãi ngộ đặc thù, vượt trội để thu hút và giữ chân các chuyên gia giỏi.
Quan tâm mối quan hệ giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế và nhiệm vụ bảo đảm an ninh lương thực quốc gia
Đại biểu Nguyễn Tuấn Anh (Cần Thơ) cho biết, qua tiếp xúc cử tri trước kỳ họp, cử tri đánh giá cao nỗ lực điều hành của Chính phủ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đạt mức cao nhất trong 15 năm qua, tạo tiền đề quan trọng để thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số trong những năm tới.

Đại biểu Nguyễn Tuấn Anh (Cần Thơ)
Tuy nhiên, từ thực tiễn Đồng bằng sông Cửu Long, đại biểu cho rằng, cần nhìn nhận đầy đủ hơn những điểm nghẽn phát triển và có cơ chế phù hợp đối với các địa phương đang thực hiện nhiệm vụ chiến lược về bảo đảm an ninh lương thực quốc gia.
Theo đại biểu, sau sáp nhập, các địa phương trong vùng đang đứng trước nhiều cơ hội phát triển mới từ nông nghiệp xanh, phát thải thấp, các tuyến cao tốc liên vùng, hệ thống cảng biển và các dự án năng lượng lớn. Đây là những động lực quan trọng để chuyển đổi mô hình tăng trưởng và phát triển bền vững.
Tuy nhiên, tăng trưởng của vùng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, nhiều địa phương chưa đạt mục tiêu đề ra. Những điểm nghẽn về hạ tầng giao thông, giải ngân vốn đầu tư công, cơ chế sử dụng đất phục vụ chế biến, bảo quản nông sản chậm được tháo gỡ. Cùng với đó, sạt lở, xâm nhập mặn và biến đổi khí hậu ngày càng gây áp lực lớn đối với phát triển kinh tế và đời sống người dân.
Đại biểu đề nghị bổ sung các tiêu chí đánh giá đóng góp của địa phương đối với an ninh lương thực, bảo vệ môi trường và các nhiệm vụ chung khác, nhưng không điều chỉnh trực tiếp số liệu GRDP để bảo đảm nguyên tắc thống kê.
Để tháo gỡ khó khăn cho vùng, đại biểu Nguyễn Tuấn Anh kiến nghị Chính phủ ưu tiên nguồn lực hoàn thiện hệ thống giao thông liên vùng; tháo gỡ khó khăn về vật liệu san lấp; sửa đổi Điều 218 Luật Đất đai liên quan đến sử dụng đất nông nghiệp kết hợp xây dựng hạ tầng sơ chế, bảo quản nông sản. Đồng thời, hoàn thiện khung pháp lý về tín chỉ carbon để lượng phát thải giảm được từ Đề án 1 triệu ha lúa trở thành nguồn tài chính xanh trực tiếp cho nông dân; ưu tiên vốn đầu tư công cho các công trình thủy lợi, phòng, chống sạt lở và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Đại biểu đề xuất nghiên cứu xây dựng cơ chế hỗ trợ các địa phương phải duy trì đất lúa theo ba nhóm chính sách:
Thứ nhất, hỗ trợ theo diện tích đất lúa mà địa phương được giao duy trì, trên cơ sở phân loại chất lượng đất và mức độ đóng góp cho an ninh lương thực quốc gia.
Thứ hai, chia sẻ một phần chi phí cơ hội phát triển do các địa phương không thể chuyển đổi đất lúa sang mục đích sử dụng khác có giá trị gia tăng cao hơn.
Thứ ba, ưu tiên bổ sung nguồn lực đầu tư phát triển thông qua ngân sách trung ương và vốn đầu tư công, giúp địa phương phát triển các lĩnh vực tăng trưởng mới mà không phải chuyển đổi đất lúa.
Để sớm triển khai, đại biểu đề nghị Quốc hội xem xét đưa vào Nghị quyết kỳ họp nội dung giao Chính phủ xây dựng Đề án cơ chế tài chính - ngân sách hỗ trợ các địa phương thực hiện nhiệm vụ chiến lược quốc gia, báo cáo Quốc hội.
Nguồn: NGỌC THUỶ/Kinhtenongthon.vn