Thị trường nông sản

Cấp mã số vùng trồng: Đơn giản hóa quy trình, tạo nền tảng mở rộng xuất khẩu

15/07/2026, 16:55

Việc đổi mới công tác cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói không chỉ phục vụ xuất khẩu mà còn hướng đến mục tiêu quản lý sản xuất, truy xuất nguồn gốc và bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cả thị trường trong nước.

Việc sớm tháo gỡ các vướng mắc trong cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được kỳ vọng sẽ tạo động lực mới cho xuất khẩu nông sản.

Đơn giản hóa thủ tục, đẩy mạnh số hóa quản lý

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa tổ chức hội thảo trực tuyến với gần 300 điểm cầu trên cả nước để lấy ý kiến đối với dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính trong cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Nghị quyết được xây dựng nhằm tháo gỡ những khó khăn phát sinh trong quá trình thực hiện Nghị định số 38/2026/NĐ-CP, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu nông sản.

Theo cơ quan soạn thảo, đây là giải pháp mang tính chuyển tiếp trong thời gian chờ sửa đổi toàn diện Nghị định theo trình tự, thủ tục rút gọn, vừa bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, vừa giảm bớt gánh nặng thủ tục cho người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp.

Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Huỳnh Tấn Đạt cho biết, có 2 phương án của dự thảo. Điểm chung là thay vì coi việc cấp mã số vùng trồng là một quy trình tiền kiểm với nhiều thành phần hồ sơ và nhiều khâu xác minh trước khi quyết định cấp hay không cấp, cơ chế mới hướng tới đơn giản hóa tối đa thủ tục, nhưng tăng trách nhiệm quản lý sau khi mã đã được cấp.

Theo đó, hồ sơ đề nghị cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được rút gọn còn đơn đề nghị theo mẫu. Người dân, hợp tác xã hay doanh nghiệp nộp hồ sơ trực tuyến qua Cổng dịch vụ công quốc gia. Trong thời hạn tối đa 3 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan được UBND cấp tỉnh giao nhiệm vụ phải thông báo cấp mã số hoặc trả lời bằng văn bản nếu từ chối, nêu rõ lý do.

Trường hợp chỉ thay đổi người đại diện, địa giới hành chính hoặc bổ sung thị trường xuất khẩu, thời gian xử lý còn hai ngày làm việc. So với quy trình hiện hành, thay đổi này không chỉ rút ngắn thời gian mà còn giảm đáng kể chi phí tuân thủ của người dân và doanh nghiệp. Dự thảo cũng xác định rõ nguyên tắc không phát sinh thêm thủ tục hành chính mới, đồng thời bảo đảm công khai, minh bạch và phù hợp với thực tế sản xuất.

Tuy nhiên, cắt giảm thủ tục không đồng nghĩa với nới lỏng quản lý. Nền tảng của mô hình mới là dữ liệu số. Cụ thể, toàn bộ dữ liệu về mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói sẽ được quản lý tập trung trên hệ thống xử lý nghiệp vụ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đồng thời công khai trên cổng thông tin điện tử của Bộ. Hệ thống này được kết nối với cơ sở dữ liệu truy xuất nguồn gốc nông sản và các cơ sở dữ liệu liên quan theo quy định pháp luật.

Thay vì dựa chủ yếu vào các đợt kiểm tra trước khi cấp mã, cơ quan quản lý có thể theo dõi tình trạng hoạt động của vùng trồng, cơ sở đóng gói và truy xuất toàn bộ thông tin trên một nền tảng dữ liệu thống nhất. Dự thảo vẫn giữ nguyên yêu cầu đối với những vùng trồng phục vụ xuất khẩu. Ngoài việc tuân thủ quy định của Việt Nam, các vùng trồng và cơ sở đóng gói còn phải đáp ứng yêu cầu của từng thị trường nhập khẩu. Khi đăng ký xuất khẩu, tổ chức, cá nhân phải thông báo bằng văn bản về thị trường dự kiến để cơ quan chuyên môn thực hiện hậu kiểm việc đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của nước nhập khẩu. Thời gian xử lý nội dung này không quá 10 ngày làm việc.

"Với mã số phục vụ nội tiêu, thủ tục được rút gọn tối đa. Với xuất khẩu, việc kiểm tra vẫn được duy trì nhưng tập trung vào những tiêu chuẩn kỹ thuật mà từng thị trường yêu cầu, thay vì áp dụng quy trình tiền kiểm chung cho mọi trường hợp", ông Đạt nhấn mạnh.Một trong những nội dung đáng chú ý của dự thảo là việc tinh gọn thành phần hồ sơ, đẩy mạnh thực hiện thủ tục trên môi trường điện tử và xây dựng hệ thống quản lý tập trung bằng dữ liệu số. Thông tin về vùng trồng và cơ sở đóng gói sẽ được kết nối với cơ sở dữ liệu truy xuất nguồn gốc cùng các hệ thống dữ liệu liên quan, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và minh bạch thông tin.

Đối với vùng trồng phục vụ thị trường trong nước, thời gian giải quyết hồ sơ dự kiến rút xuống còn tối đa 3 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, đồng thời áp dụng cơ chế hậu kiểm. Trong khi đó, vùng trồng và cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu vẫn thực hiện tiền kiểm với thời gian giải quyết không quá 10 ngày làm việc nhằm đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của từng thị trường nhập khẩu.

Các đại biểu tham dự hội thảo cơ bản thống nhất phương án cấp mã số vùng trồng theo vị trí thửa đất và từng bước tích hợp với cơ sở dữ liệu đất đai. Trường hợp thông tin đất đai chưa được cập nhật đầy đủ, UBND cấp xã sẽ xác nhận vị trí và diện tích sản xuất để làm căn cứ giải quyết hồ sơ.

Nhiều địa phương cho rằng việc đơn giản hóa thủ tục là cần thiết, nhưng cần đi kèm với quy định rõ trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong xác nhận thông tin, cũng như hướng dẫn cụ thể về quy trình, biểu mẫu và cơ chế hậu kiểm để bảo đảm tính thống nhất khi triển khai.

Phải đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất trong dữ liệu

Trước khi thống nhất phương án trình Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đặt lên bàn 2 cách tiếp cận khác nhau trong việc cấp mã số vùng trồng. Khác biệt lớn nhất nằm ở việc có gắn việc cấp mã với mã định danh đất đai ngay từ đầu hay không.

Ở phương án thứ nhất, mã số vùng trồng được cấp theo vị trí thửa đất và xác định trên cơ sở mã định danh đất đai. Những hộ đã có dữ liệu trên cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia có thể sử dụng ngay để đăng ký cấp mã, trong khi các trường hợp chưa có dữ liệu phải được UBND cấp xã xác nhận và bổ sung thông tin trước khi thực hiện thủ tục.

Tại hội nghị, Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh như Lâm Đồng, Gia Lai, Sơn La... cho rằng phương án này khó triển khai ngay trong thực tế. Bởi cả nước vẫn còn gần 30 triệu thửa đất chưa được chuẩn hóa dữ liệu, phần lớn là đất nông nghiệp. Nếu buộc phải hoàn thiện dữ liệu đất đai (dự kiến trong tháng 10/2026) trước khi cấp mã số vùng trồng, tiến độ giải quyết hồ sơ có nguy cơ bị kéo dài, đi ngược mục tiêu tháo gỡ khó khăn cho sản xuất và xuất khẩu. Trước mắt là vụ sầu riêng tại Tây Nguyên, dự kiến thu hoạch trong 1-2 tháng tới.

 Ngoài việc tuân thủ quy định của Việt Nam, các vùng trồng và cơ sở đóng gói còn phải đáp ứng yêu cầu của từng thị trường nhập khẩu.

Vì vậy, đa số địa phương thống nhất lựa chọn phương án thứ hai. Theo đó, mã số vùng trồng vẫn được cấp theo vị trí thửa đất nhưng chưa bắt buộc phải gắn ngay với mã định danh đất đai. Cơ sở để cấp mã là thông tin kê khai của người dân, doanh nghiệp hoặc hợp tác xã. Riêng các vùng trồng đăng ký xuất khẩu phải trải qua tiền kiểm để đánh giá việc đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu.

Về lâu dài, địa phương kiến nghị, mã số vùng trồng sẽ được cấp trên cơ sở dữ liệu định danh đất đai để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất trong dữ liệu. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp nhất trí và yêu cầu cơ quan soạn thảo tiếp tục hoàn thiện dự thảo, để kịp trình Chính phủ.

"Nếu khu đất chưa có trong cơ sở dữ liệu, UBND cấp xã phải xác nhận vị trí và diện tích để làm căn cứ cấp mã. Đây không phải bổ sung thủ tục, mà nhằm bảo đảm mỗi mã số đều gắn với một vị trí sản xuất xác định, hạn chế tình trạng sai lệch thông tin hoặc khó truy xuất sau này", Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp yêu cầu.

Tạo nền tảng mở rộng xuất khẩu

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh việc đổi mới công tác cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói không chỉ phục vụ xuất khẩu mà còn hướng đến mục tiêu quản lý sản xuất, truy xuất nguồn gốc và bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cả thị trường trong nước.

Theo Thứ trưởng, đơn giản hóa thủ tục không đồng nghĩa với nới lỏng quản lý. Đối với nông sản xuất khẩu, việc duy trì thời gian tiền kiểm tối đa 10 ngày là cần thiết để cơ quan chuyên môn đánh giá đầy đủ khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn của nước nhập khẩu, qua đó hạn chế rủi ro và bảo vệ uy tín của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Sau hội thảo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp thu các ý kiến đóng góp, hoàn thiện dự thảo Nghị quyết và lấy ý kiến các bộ, ngành trước khi trình Chính phủ xem xét ban hành. Dự thảo cũng sẽ quy định rõ trách nhiệm của cơ quan chuyên môn trong việc tổng hợp, chuyển danh sách mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói đến cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu, bảo đảm thống nhất đầu mối và đáp ứng yêu cầu của từng thị trường.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết, Bộ sẽ tiếp tục làm việc với phía Trung Quốc nhằm thúc đẩy việc công nhận các mã số vùng trồng.

Song song với đó, Bộ đề nghị các địa phương khẩn trương rà soát, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu vùng trồng và cơ sở đóng gói; đẩy mạnh phát triển hợp tác xã, tổ hợp tác và xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung. Đây được xem là nền tảng quan trọng để giảm chi phí tuân thủ, nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu nông sản và tăng sức cạnh tranh cho hàng hóa Việt Nam.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng cho biết sẽ tiếp tục làm việc với phía Trung Quốc nhằm thúc đẩy việc công nhận các mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đã gửi trước đó, đồng thời phối hợp điều chỉnh quy trình tiếp nhận theo hướng phù hợp với mùa vụ, tăng cường truy xuất nguồn gốc, bảo đảm yêu cầu về an toàn thực phẩm và kiểm dịch thực vật.

Việc sớm tháo gỡ các vướng mắc trong cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được kỳ vọng sẽ tạo động lực mới cho xuất khẩu nông sản, góp phần thực hiện mục tiêu đưa kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đạt 74 tỷ USD trong năm 2026./.

 

Nguồn: THANH TÂM/Kinhtenongthon.vn