Với lợi thế về điều kiện sinh thái, sự đồng hành của doanh nghiệp, chính sách hỗ trợ kịp thời cùng quyết tâm thay đổi tư duy phát triển kinh tế, Nghệ An xác định dứa là một trong những cây trồng chủ lực, khuyến khích phát triển và phấn đấu trở thành là trung tâm sản xuất dứa của khu vực Bắc Trung Bộ.
Muốn thế, tỉnh cần sớm có giải pháp tháo gỡ “điểm nghẽn”, những bất cập, hoàn thiện một số “mắt xích” quan trọng trong toàn bộ chuỗi giá trị...
Từ yêu cầu tái cơ cấu đến lựa chọn cây trồng chiến lược
Nghệ An là tỉnh có diện tích tự nhiên lớn, sở hữu hàng trăm nghìn hecta đất nông nghiệp và lâm nghiệp cùng điều kiện sinh thái đa dạng trải dài từ đồng bằng ven biển đến trung du và miền núi, nhưng hiệu quả khai thác ở nhiều vùng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.
Thực hiện cơ cấu lại ngành Nông nghiệp, tỉnh không chỉ chú trọng chuyển đổi cơ cấu cây trồng mà còn quan tâm thay đổi tư duy sản xuất. Thay vì chạy theo sản lượng, địa phương hướng đến khai thác hiệu quả lợi thế từng vùng sinh thái, nâng cao giá trị trên mỗi đơn vị diện tích và hình thành các vùng nguyên liệu tập trung gắn với chế biến sâu và thị trường tiêu thụ.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, việc lựa chọn cây trồng chủ lực được đặt trên cơ sở đánh giá toàn diện về điều kiện tự nhiên, khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, hiệu quả kinh tế và tiềm năng phát triển thị trường. Trong số các loại cây trồng, dứa được xem là lựa chọn có nhiều triển vọng.
Qua khảo sát tại các địa phương như Đại Đồng, Giai Xuân, Tân An và Quỳnh Thắng thấy nhiều vùng đất đồi hội tụ những điều kiện sinh thái thuận lợi để phát triển cây dứa. Đó là nhóm đất feralit đỏ vàng có tầng canh tác dày, độ dốc vừa phải, khả năng thoát nước tốt và số giờ nắng cao trong năm, rất phù hợp với các giống dứa chủ lực như Queen, Cayenne và MD2.

Vùng chuyên canh dứa tại Quỳnh Thắng được sản xuất theo quy trình VietGAP, từng bước đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu.
Theo TS. Đinh Cao Khuê, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao, khu vực Bắc Trung Bộ hiện có khoảng 70.000ha đất có khả năng phát triển vùng nguyên liệu dứa. Trong đó, Nghệ An được đánh giá là địa phương có nhiều lợi thế nhất nhờ quỹ đất rộng, điều kiện khí hậu phù hợp và khả năng mở rộng quy mô sản xuất. Nếu được quy hoạch bài bản, địa phương hoàn toàn có thể trở thành trung tâm sản xuất dứa của khu vực, cung cấp nguồn nguyên liệu ổn định cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu.
Không chỉ phù hợp về thổ nhưỡng, cây dứa còn thể hiện khả năng thích ứng khá tốt với điều kiện khí hậu miền Trung. So với nhiều loại cây ăn quả khác, dứa có khả năng chịu hạn, ít đòi hỏi nguồn nước tưới và phù hợp với các vùng đất đồi vốn gặp nhiều khó khăn về thủy lợi. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng tác động mạnh đến sản xuất nông nghiệp, đây là lợi thế quan trọng giúp giảm thiểu rủi ro và nâng cao tính bền vững của vùng nguyên liệu.
Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy, lợi thế tự nhiên chỉ là điều kiện cần. Không ít loại cây trồng từng được đánh giá giàu tiềm năng nhưng vẫn thất bại vì thiếu quy hoạch, thiếu liên kết sản xuất và thiếu thị trường tiêu thụ ổn định. Chính vì vậy, Nghệ An lựa chọn phát triển cây dứa theo hướng khác, lấy chuỗi giá trị làm nền tảng thay vì mở rộng diện tích một cách tự phát.
Theo số liệu của ngành Nông nghiệp Nghệ An, toàn tỉnh hiện có hơn 2.000ha dứa với sản lượng khoảng 38.700 tấn. Tập trung tại vùng thuộc xã Tân Thắng trước đây, nơi người dân có kinh nghiệm canh tác và từng bước xây dựng các vùng sản xuất đạt tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP.
Để tạo động lực cho quá trình chuyển đổi, tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ đồng bộ. Theo Nghị quyết số 34/2025/NQ-HĐND, Nghệ An hỗ trợ tới 80% kinh phí mua giống cho diện tích trồng mới, hỗ trợ 5 triệu đồng/ha chi phí làm đất và 3,5 triệu đồng/ha kinh phí mua màng phủ nylon. Đồng thời, nhiều chính sách về tích tụ đất đai, phát triển hợp tác xã, cơ giới hóa và xây dựng vùng nguyên liệu cũng được triển khai nhằm thu hút doanh nghiệp đầu tư chế biến, từng bước hình thành chuỗi liên kết bền vững.
Theo bà Võ Thị Nhung, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Nghệ An, việc đưa cây dứa vào nhóm cây trồng chủ lực không chỉ dựa trên lợi thế tự nhiên mà còn xuất phát từ yêu cầu tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Các chính sách hỗ trợ được thiết kế để tạo động lực cho người dân mạnh dạn chuyển đổi sản xuất, đồng thời thu hút doanh nghiệp đầu tư chế biến, xây dựng chuỗi liên kết từ vùng nguyên liệu đến thị trường tiêu thụ.
Có thể thấy, điểm khác biệt trong chiến lược phát triển cây dứa của Nghệ An không nằm ở việc mở rộng diện tích đơn thuần mà ở cách tiếp cận dựa trên lợi thế so sánh, quy hoạch vùng nguyên liệu và tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị. Những quả đồi từng chỉ gắn với keo, sắn hay mía đang từng bước trở thành vùng chuyên canh dứa quy mô lớn. Quan trọng hơn, phía sau thay đổi về cơ cấu cây trồng là sự chuyển biến trong tư duy phát triển, từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang kinh tế nông nghiệp hiện đại, tạo nền tảng để ngành hàng dứa trở thành một trong những động lực tăng trưởng mới của nông nghiệp Nghệ An.
Nền tảng hiện thực hóa mục tiêu xây dựng vùng nguyên liệu dứa quy mô lớn
Chỉ trong vài tháng đầu năm 2026, nhiều vùng đồi ở phía Tây Nghệ An đã mang một diện mạo khác. Những triền đất trước đây phủ kín keo, sắn hay mía được san gạt, lên luống, phủ nylon để chuẩn bị đón những chồi dứa đầu tiên. Đó không chỉ là sự thay đổi về cơ cấu cây trồng mà còn phản ánh quá trình chuyển đổi trong tư duy phát triển nông nghiệp ở cơ sở.
Điểm dễ nhận thấy là người dân không còn chuyển đổi theo tâm lý “thấy hiệu quả thì làm”, mà bắt đầu cân nhắc trên cơ sở quy hoạch, liên kết thị trường và khả năng sinh lời lâu dài. Đây chính là yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa phát triển vùng nguyên liệu dứa với nhiều phong trào chuyển đổi cây trồng trước đây.

Những vùng đồi tại xã Đại Đồng (Nghệ An) đang được cải tạo, lên luống để phát triển vùng nguyên liệu dứa tập trung gắn với chuỗi liên kết sản xuất và chế biến.
Những ngày khảo sát tại xã Đại Đồng, không khó để bắt gặp hình ảnh máy xúc hoạt động liên tục trên các quả đồi. Đất được cải tạo đồng loạt, hệ thống mương thoát nước được xây dựng bài bản, từng luống trồng được thiết kế theo đúng quy trình kỹ thuật.
Khung cảnh ấy khác xa với hình ảnh những diện tích keo và sắn trước đây vốn phát triển tự nhiên, ít đầu tư và hiệu quả kinh tế không cao.
Ông Lê Xuân Hòa, một trong những người tiên phong của địa phương, quyết định chuyển toàn bộ 12,7ha đất đồi sang trồng dứa Queen. Đây là quyết định khiến nhiều người bất ngờ bởi số vốn đầu tư ban đầu lên tới hàng tỷ đồng.
“Tôi đã trồng keo, trồng sắn nhiều năm nhưng thu nhập không ổn định. Khi tỉnh có chính sách hỗ trợ, doanh nghiệp cam kết bao tiêu sản phẩm và cán bộ kỹ thuật hướng dẫn trực tiếp, gia đình quyết định chuyển đổi toàn bộ diện tích sang trồng dứa. Đầu tư lớn thật nhưng đây là hướng đi có thể tạo ra giá trị lâu dài”, ông Hòa chia sẻ.
Qua trao đổi với nhiều hộ dân, điều họ quan tâm nhất không còn là năng suất mà là khả năng tiêu thụ sau thu hoạch. Chính vì vậy, việc có doanh nghiệp đồng hành ngay từ đầu đã tạo ra niềm tin rất lớn.
Theo tính toán của người dân, nếu được chăm sóc đúng quy trình, sau khoảng 18 tháng, dứa có thể cho thu hoạch 50–60 tấn quả/ha. Với mặt bằng giá ổn định như những năm gần đây, hiệu quả kinh tế cao hơn đáng kể so với các loại cây trồng truyền thống.
Ông Trần Thanh Nga, Chủ tịch UBND xã Đại Đồng, cho biết, địa phương không đặt mục tiêu mở rộng diện tích bằng mọi giá. “Chúng tôi xác định phải đi từng bước chắc chắn. Trước mắt triển khai diện tích đã được phê duyệt để đánh giá hiệu quả về kỹ thuật, kinh tế và khả năng liên kết tiêu thụ. Khi mô hình chứng minh được tính bền vững mới tiếp tục nhân rộng. Điều quan trọng là người dân phải có thu nhập ổn định chứ không chạy theo phong trào”, ông Nga nhấn mạnh.

Nông dân xã Giai Xuân đầu tư chuyển đổi diện tích keo, sắn kém hiệu quả sang trồng dứa theo quy hoạch vùng nguyên liệu, kỳ vọng nâng cao giá trị trên một đơn vị diện tích.
Nếu Đại Đồng là mô hình chuyển đổi ở quy mô vừa thì Giai Xuân lại mang dáng dấp của một vùng nguyên liệu tương lai. Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, Giai Xuân sở hữu hơn 12.000ha đất tự nhiên, trong đó phần lớn là đất đồi feralit màu mỡ. Nhiều chuyên gia đánh giá đây là một trong những vùng đất có điều kiện thuận lợi nhất để phát triển cây dứa ở Bắc Trung Bộ.
Thế nhưng, trong nhiều năm, người dân chủ yếu gắn bó với cây mía, keo và sắn. Giá trị sản xuất không tương xứng với tiềm năng khiến đời sống của không ít hộ dân còn gặp khó khăn. Đó cũng là lý do ngay sau Đại hội Đảng bộ xã, việc phát triển vùng nguyên liệu dứa được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm.
Điểm đáng chú ý là trước khi triển khai, địa phương đã tổ chức nhiều đoàn công tác đến học tập mô hình tại Đồng Giao (Ninh Bình), khảo sát điều kiện đất đai và lấy ý kiến người dân. Việc khảo sát không chỉ nhằm xác định vùng đất phù hợp mà còn giúp chính quyền đánh giá khả năng tham gia của từng hộ, tránh tình trạng đăng ký theo tâm lý đám đông.
Ông Bùi Đức Hồng, Chủ tịch UBND xã Giai Xuân, cho biết: Địa phương có hơn 2.000ha đất phù hợp với cây dứa. Mục tiêu của chúng tôi không đơn thuần là tăng diện tích mà là xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, sản xuất theo cùng một quy trình, cùng tiêu chuẩn chất lượng và gắn chặt với doanh nghiệp chế biến. Chỉ khi làm được điều đó mới tạo ra giá trị gia tăng bền vững.
Không chỉ chính quyền vào cuộc, điều đáng mừng là người dân cũng bắt đầu thay đổi cách nhìn về sản xuất nông nghiệp. Nhiều hộ mạnh dạn chặt bỏ cao su, mía hoặc sắn để chuyển sang trồng dứa. Một số hộ đăng ký trồng 5-10ha ngay trong đợt đầu tiên, cho thấy niềm tin ngày càng lớn vào hướng phát triển mới.
Trong khi đó, Tân An lại lựa chọn bắt đầu bằng liên kết với doanh nghiệp, ký kết hợp tác bao tiêu sản phẩm trước khi vận động người dân chuyển đổi sản xuất. Chính cách làm này giúp bà con yên tâm đầu tư và tạo nền tảng hình thành chuỗi giá trị bền vững.
Ngay sau khi xác định dứa là cây trồng chủ lực trong Nghị quyết phát triển kinh tế của địa phương, xã đã chủ động làm việc với doanh nghiệp để ký biên bản ghi nhớ hợp tác trước khi mở rộng vùng trồng.
Theo ông Đậu Trường Sơn, Trưởng phòng Kinh tế xã Tân An, đây là yếu tố có ý nghĩa quyết định. “Nếu không có doanh nghiệp đồng hành thì rất khó thuyết phục người dân chuyển đổi. Vì vậy, xã lựa chọn xây dựng chuỗi liên kết ngay từ đầu. Người dân được hướng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ giống; còn doanh nghiệp tham gia bao tiêu theo hợp đồng. Nhờ đó, bà con yên tâm đầu tư lâu dài”, ông Sơn chia sẻ.
Theo kế hoạch, địa phương sẽ phát triển 100-200ha dứa trong giai đoạn đầu và từng bước mở rộng lên khoảng 1.000ha vào năm 2030. Điều đáng ghi nhận là, toàn bộ diện tích đều được quy hoạch thành vùng nguyên liệu tập trung thay vì phát triển phân tán. Đây là nền tảng quan trọng để cơ giới hóa sản xuất và kiểm soát chất lượng nguyên liệu.
Trong khi nhiều địa phương đang bắt đầu hành trình xây dựng vùng nguyên liệu thì Quỳnh Thắng đã có nhiều năm phát triển cây dứa theo hướng hàng hóa. Đến nay, địa phương có khoảng 1.300ha dứa đang cho thu hoạch, gần 700ha trồng mới với trên 1.000 hộ tham gia sản xuất.
Không chỉ hình thành vùng nguyên liệu lớn, Quỳnh Thắng còn xây dựng được các vùng sản xuất đạt tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, phát triển sản phẩm OCOP và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Điều đáng học hỏi không chỉ nằm ở quy mô diện tích mà ở cách người dân tổ chức sản xuất. Nhiều hộ đã chủ động xử lý ra hoa rải vụ, áp dụng kỹ thuật che lưới chống rám quả, phân loại ngay tại vườn và liên kết chặt chẽ với thương lái, doanh nghiệp. Nhờ đó, thu nhập của người dân ổn định hơn, hạn chế đáng kể tình trạng “được mùa, mất giá”.
Thực tiễn từ Quỳnh Thắng cho thấy, giá trị của cây dứa không chỉ nằm ở sản lượng mà nằm ở khả năng tham gia chuỗi giá trị. Khi người dân sản xuất theo tiêu chuẩn, doanh nghiệp đầu tư chế biến và chính quyền đồng hành trong quy hoạch, vùng nguyên liệu không còn là tập hợp của những thửa đất riêng lẻ mà trở thành mắt xích trong chuỗi kinh tế nông nghiệp hiện đại.
Qua thực tế tại Đại Đồng, Giai Xuân, Tân An đến Quỳnh Thắng có thể thấy, điều đáng ghi nhận nhất không chỉ là những vùng đồi đang “thay áo”, mà chính là sự đổi mới trong tư duy phát triển nông nghiệp. Từ sản xuất manh mún sang xây dựng vùng nguyên liệu tập trung; từ chạy theo sản lượng sang hướng đến giá trị gia tăng; từ sản xuất riêng lẻ sang liên kết chuỗi – đó là nền tảng để Nghệ An từng bước hiện thực hóa mục tiêu xây dựng vùng nguyên liệu dứa quy mô lớn, bền vững và có sức cạnh tranh trên thị trường.
Liên kết chuỗi giá trị, chìa khóa để cây dứa thoát cảnh “được mùa, mất giá”
“Được mùa, mất giá” luôn là trăn trở của không ít vùng sản xuất nông nghiệp. Cây dứa cũng không nằm ngoài vòng luẩn quẩn ấy. Có thời điểm, dứa vào vụ thu hoạch đồng loạt nhưng giá thu mua giảm sâu do phụ thuộc gần như hoàn toàn vào thị trường quả tươi và thương lái. Những năm gần đây, giá dứa duy trì ở mức khá hơn nhờ sản phẩm được tiêu thụ qua hệ thống siêu thị, chuỗi cửa hàng thực phẩm sạch và từng bước tham gia xuất khẩu.
Từ thực tiễn đó, Nghệ An đã lựa chọn hướng đi khác: Không phát triển vùng nguyên liệu bằng mọi giá, mà đặt mục tiêu xây dựng chuỗi giá trị hoàn chỉnh, trong đó vùng trồng, doanh nghiệp chế biến, hợp tác xã và thị trường tiêu thụ được hình thành đồng bộ ngay từ đầu. Đây cũng là bước chuyển quan trọng từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp, khi câu hỏi không còn là “trồng được bao nhiêu”, mà là “sản xuất cho ai, theo tiêu chuẩn nào và mang lại giá trị gì”.
Dấu mốc quan trọng của quá trình này là việc Nghệ An hợp tác với Công ty cổ phần Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao (DOVECO) phát triển vùng nguyên liệu gắn với chế biến sâu. Khác với mô hình thu mua truyền thống, doanh nghiệp tham gia ngay từ những khâu đầu tiên của quá trình sản xuất, từ quy hoạch vùng nguyên liệu, cung ứng giống, chuyển giao quy trình kỹ thuật đến ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm. Sự đồng hành ấy không chỉ giúp nông dân yên tâm đầu tư lâu dài mà còn tạo ra sự ổn định về chất lượng nguyên liệu cho nhà máy chế biến.
Theo TS. Đinh Cao Khuê, một nhà máy chế biến chỉ có thể hoạt động hiệu quả khi có nguồn nguyên liệu ổn định cả về sản lượng lẫn chất lượng. Ngược lại, người nông dân cũng chỉ mạnh dạn đầu tư khi có đầu ra bền vững và minh bạch. Vì vậy, doanh nghiệp không thể đứng ngoài quá trình sản xuất mà phải đồng hành với nông dân từ khi xuống giống đến lúc thu hoạch và chế biến. Đây cũng là mô hình liên kết chuỗi giá trị đã được nhiều quốc gia có nền nông nghiệp phát triển áp dụng thành công.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An Nguyễn Văn Đệ và lãnh đạo Công ty CP Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao (DOVECO) ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác tại tỉnh Ninh Bình. Ảnh: Nguyễn Toàn
Một trong những động lực lớn nhất của chuỗi liên kết là dự án nhà máy chế biến hoa quả công nghệ cao của DOVECO tại Nghệ An, dự kiến khởi công tháng 9/2026 với công suất thiết kế khoảng 50.000 tấn sản phẩm mỗi năm. Nhà máy không chỉ giải quyết bài toán tiêu thụ nông sản mà còn mở ra không gian phát triển mới cho vùng nguyên liệu. Khi sản phẩm được chế biến thành nước ép, đồ hộp, cấp đông hay các sản phẩm giá trị gia tăng khác, cây dứa sẽ không còn phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường quả tươi, qua đó giảm đáng kể rủi ro về giá cả trong mùa thu hoạch rộ.
Theo ông Nguyễn Văn Đệ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An: Thu hút doanh nghiệp đầu tư vào chế biến nông sản là giải pháp then chốt để nâng cao giá trị gia tăng của ngành nông nghiệp. Nhà máy chế biến không chỉ tạo đầu ra ổn định cho người trồng dứa mà còn góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản địa phương và thúc đẩy quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại.
Tháo gỡ “điểm nghẽn”, hoàn thiện những “mắt xích” để vươn ra thị trường quốc tế
Theo bà Võ Thị Nhung, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, việc hình thành các vùng nguyên liệu tập trung và thu hút doanh nghiệp đầu tư chế biến mới chỉ là bước khởi đầu trên hành trình xây dựng ngành hàng dứa bền vững. Để đưa quả dứa Nghệ An tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, điều quan trọng hơn là phải tiếp tục hoàn thiện những “mắt xích” còn thiếu trong toàn bộ chuỗi giá trị. Đây cũng là thách thức lớn nhất khi thị trường xuất khẩu ngày càng đặt ra những yêu cầu khắt khe về chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, phát triển xanh...

Lãnh đạo địa phương và doanh nghiệp khảo sát vùng quy hoạch phát triển dứa, hướng tới hình thành vùng nguyên liệu quy mô lớn phục vụ công nghiệp chế biến và xuất khẩu.
Một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay là chủ động nguồn giống chất lượng cao. Với mục tiêu phát triển hàng nghìn hecta vùng nguyên liệu trong những năm tới, nhu cầu giống sẽ rất lớn. Nếu vẫn phụ thuộc vào nguồn chồi giống phân tán trong dân, nguy cơ không đồng đều về chất lượng, nhiễm sâu bệnh và suy giảm năng suất là điều khó tránh khỏi. Vì vậy, đầu tư xây dựng hệ thống sản xuất giống tập trung, sạch bệnh, đáp ứng yêu cầu từng vùng sinh thái cần được xem là nhiệm vụ ưu tiên nhằm tạo nền tảng cho cả chuỗi sản xuất.
Theo TS. Nguyễn Quý Dương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), mỗi giống dứa như Queen, Cayenne hay MD2 đều có những lợi thế riêng, phù hợp với từng phân khúc thị trường từ tiêu thụ tươi, chế biến đến xuất khẩu. Điều đó cho thấy, việc quy hoạch cơ cấu giống phải dựa trên nhu cầu thị trường thay vì phát triển đại trà, qua đó tối ưu hóa giá trị của từng vùng nguyên liệu.
Cùng với nguồn giống, khoa học công nghệ là yếu tố quyết định sức cạnh tranh của ngành hàng dứa trong giai đoạn mới. Tiến bộ kỹ thuật cần được ứng dụng xuyên suốt từ cải tạo đất, quản lý dinh dưỡng, tưới nước tiết kiệm, phòng trừ sâu bệnh theo hướng sinh học đến thu hoạch, bảo quản sau thu hoạch. Đặc biệt, chuyển đổi số cần được đẩy mạnh trong quản lý vùng trồng, cấp mã số vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc và giám sát chất lượng theo thời gian thực. Đây không chỉ là yêu cầu của doanh nghiệp chế biến mà còn là “tấm vé thông hành” để nông sản chinh phục các thị trường xuất khẩu có tiêu chuẩn cao như châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản hay Hàn Quốc.
Bên cạnh đó, hợp tác xã cần được xác định là mắt xích trung tâm trong tổ chức sản xuất. Thực tế cho thấy, nhiều hợp tác xã hiện vẫn chủ yếu dừng lại ở việc cung ứng vật tư đầu vào hoặc hỗ trợ một số dịch vụ sản xuất, trong khi vai trò liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp chưa thực sự rõ nét. Muốn chuỗi giá trị vận hành hiệu quả, hợp tác xã phải đủ năng lực tổ chức sản xuất theo quy trình thống nhất, kiểm soát chất lượng, ký kết hợp đồng, điều phối sản lượng và đại diện bảo vệ quyền lợi của thành viên. Khi đó, doanh nghiệp sẽ giảm chi phí giao dịch, còn người dân có điều kiện tiếp cận thị trường ổn định và nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị.
Một yêu cầu khác đặt ra là phát triển công nghiệp chế biến theo hướng đa dạng hóa sản phẩm. Nếu chỉ tiêu thụ quả tươi, giá trị gia tăng của cây dứa sẽ luôn bị giới hạn và phụ thuộc vào biến động thị trường theo mùa vụ. Ngược lại, khi được chế biến thành nước ép cô đặc, dứa đóng hộp, dứa đông lạnh, mứt, thực phẩm chức năng hay các sản phẩm phụ từ lá và phụ phẩm phục vụ ngành dệt, thức ăn chăn nuôi hoặc sản xuất phân hữu cơ, giá trị của ngành hàng sẽ được nâng lên đáng kể. Đây cũng là hướng đi mà nhiều quốc gia có ngành công nghiệp chế biến trái cây phát triển đang theo đuổi nhằm khai thác tối đa giá trị của mỗi đơn vị nguyên liệu.
Đối với Nghệ An, việc thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào chế biến không chỉ giải quyết bài toán đầu ra mà còn tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của cả khu vực nông thôn. Khi vùng nguyên liệu được mở rộng, nhiều ngành nghề dịch vụ như cơ giới hóa, vận tải, kho lạnh, logistics, thương mại nông sản và dịch vụ kỹ thuật cũng phát triển theo, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và nâng cao thu nhập cho người dân. Giá trị của cây dứa vì thế không chỉ được tính bằng sản lượng thu hoạch mà còn bằng những cơ hội việc làm và sự phát triển của cả hệ sinh thái kinh tế nông thôn.
Tuy nhiên, trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng phức tạp, phát triển vùng nguyên liệu cũng đòi hỏi sự đầu tư đồng bộ về hạ tầng. Hệ thống giao thông nội đồng, thủy lợi, tưới tiết kiệm nước, tiêu úng, điện phục vụ sản xuất và các cơ sở bảo quản sau thu hoạch cần được quan tâm đầu tư tương xứng với quy mô phát triển. Đây là những yếu tố quyết định khả năng duy trì nguồn nguyên liệu ổn định, giảm thiểu rủi ro trước các hiện tượng thời tiết cực đoan và bảo đảm chất lượng sản phẩm.
Quan trọng hơn cả là tiếp tục hoàn thiện cơ chế liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã và người nông dân theo hướng hài hòa lợi ích và chia sẻ rủi ro. Khi mỗi chủ thể thực hiện tốt vai trò của mình, chuỗi giá trị sẽ vận hành thông suốt, tạo niềm tin để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, người dân yên tâm sản xuất và địa phương xây dựng được vùng nguyên liệu quy mô lớn, ổn định lâu dài.
Có thể thấy, Nghệ An đang đi đúng hướng khi không chỉ tập trung mở rộng diện tích mà hướng tới kiến tạo một ngành hàng dứa hoàn chỉnh, từ chính sách hỗ trợ, quy hoạch vùng nguyên liệu, ứng dụng khoa học công nghệ đến chế biến và phát triển thị trường. Đó là cách tiếp cận phù hợp với xu thế phát triển của nền nông nghiệp hiện đại, nơi giá trị của nông sản không còn được đo bằng sản lượng mà bằng chất lượng, thương hiệu và khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Con đường đưa quả dứa Nghệ An vươn xa chắc chắn còn nhiều thách thức. Nhưng, với lợi thế về điều kiện sinh thái, sự đồng hành của doanh nghiệp, những chính sách khuyến khích kịp thời cùng quyết tâm đổi mới tư duy phát triển của người dân, cây dứa đang có cơ hội trở thành ngành hàng chủ lực của khu vực Bắc Trung Bộ. Khi từng “mắt xích” trong chuỗi giá trị tiếp tục được hoàn thiện, Nghệ An không chỉ giải được bài toán “được mùa, mất giá” mà còn từng bước khẳng định vị thế trên bản đồ sản xuất, chế biến và xuất khẩu dứa của Việt Nam, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và hiện thực hóa mục tiêu phát triển nền nông nghiệp sinh thái, hiện đại và hội nhập.
|
Theo kế hoạch, Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An sẽ phối hợp với DOVECO xây dựng lộ trình phát triển vùng nguyên liệu từ nay đến năm 2030. Cụ thể, năm 2026, toàn tỉnh phấn đấu phát triển thêm khoảng 1.000ha dứa; năm 2027 nâng lên 2.000ha; đến năm 2030 đạt khoảng 5.000ha và hướng đến 10.000ha trong thời gian sớm nhất.
|
Nguồn: NGỌC LAN/kinhtenongthon.vn