Vì thế, ngành cần phải chú trọng phát triển vùng nguyên liệu gỗ lớn gắn với chứng chỉ quản lý rừng bền vững, chế biến sâu, giúp nâng cao chất lượng, tăng sức cạnh tranh, giảm phát thải, thích ứng biến đổi khí hậu...

Rừng đóng vai trò như “lá chắn xanh” của trái đất, giúp điều hòa khí hậu, hấp thụ và sản sinh ôxy, đồng thời bảo vệ đa dạng sinh học và nguồn nước. Rừng chống xói mòn đất, lũ lụt, chắn gió, cát và cung cấp lâm sản, dược liệu, cũng như không gian du lịch, nghỉ dưỡng quý giá cho con người.
Việt Nam sở hữu hệ sinh thái rừng phong phú với tổng diện tích gần 15 triệu hecta, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả trong phát triển rừng trồng sản xuất với hơn 4,7 triệu hecta, trong đó có gần 500.000ha rừng gỗ lớn. Sản lượng khai thác gỗ rừng trồng hàng năm đạt hơn 23 triệu mét khối, đóng góp đáng kể cho xuất khẩu lâm sản với kim ngạch đạt trên 16 tỷ USD/năm, đưa Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đứng thứ 5 thế giới.



TS. Chử Văn Lâm, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam cho biết, mục tiêu của Việt Nam là duy trì tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc ổn định từ 42-43%, mỗi năm trồng thêm khoảng 238.000ha rừng và tìm cách phục hồi rừng tự nhiên để chống biến đổi khí hậu. Giá trị kinh tế của rừng nằm ở việc cung cấp gỗ, cùng các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ, góp phần tạo ra nguồn thu nhập quan trọng cho con người cũng như nền kinh tế.
Theo thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ năm 2025 đạt 17,2 tỷ USD, tăng gần 6% so với năm 2024. Như vậy, năm 2025 là năm đầu tiên mà xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ vượt mốc 17 tỷ USD. Kết quả này cho thấy dư địa xuất khẩu gỗ còn rất lớn, trong khi thị trường tiếp nhận sản phẩm gỗ của nước ta khá đa dạng, đa số là các thị trường lớn như Hoa Kỳ, châu Âu… Nguồn cung gỗ cho thị trường thời gian qua cũng khá dồi dào, chủ yếu đến từ diện tích rừng trồng, rừng sản xuất trong nước.
Theo Kế hoạch "Phát triển rừng trồng sản xuất gỗ lớn giai đoạn 2024 - 2030" của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đến năm 2030, tổng diện tích rừng trồng sản xuất gỗ lớn đạt khoảng 1 triệu hecta, trong đó duy trì diện tích rừng trồng gỗ lớn hiện có là 500 nghìn hecta và phát triển mới giai đoạn 2024 - 2030 khoảng 450 - 550 nghìn hecta.
Cùng với đó, Bộ đặt mục tiêu nâng cao năng suất rừng trồng thâm canh cây keo, bạch đàn và các loài cây lâm nghiệp khác trung bình đạt 22m3/ha/năm vào năm 2030; giá trị thu nhập từ rừng trồng sản xuất tăng bình quân khoảng 1,5 - 2 lần/đơn vị diện tích so với năm 2020; nâng cao chuỗi giá trị sản xuất lâm nghiệp.
Kế hoạch cũng vạch rõ 6 vùng trồng tập trung 500.000ha rừng mới. Cụ thể, vùng Trung du và Miền núi phía Bắc 130.000 - 146.000ha; vùng Đồng bằng sông Hồng 6.000 - 9.000ha; vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung 280.000 - 348.000ha; vùng Tây Nguyên 25.000 - 35.000ha; vùng Đông Nam Bộ 7.500 - 10.000ha; vùng Tây Nam Bộ 1.500 - 2.000ha.

Phát triển rừng đang đối mặt với nhiều khó khăn lớn, bao gồm sự lấn chiếm đất rừng trái phép, hạ tầng lâm nghiệp yếu kém, ranh giới rừng không rõ ràng. Bên cạnh đó, chính sách chưa đồng bộ cùng nạn chặt phá rừng, cháy rừng vẫn còn hoành hành khiến diện tích và chất lượng rừng ngày một suy thoái gây ra tổn thất về kinh tế, công ăn việc làm và phát triển đất nước bền vững.
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, năm 2025, cả nước có 1.127,6ha rừng bị thiệt hại. Trong số đó, 801,2ha rừng bị chặt, phá 326,4 ha rừng bị cháy.
Các chuyên gia cho rằng, do đời sống của người dân vùng cao, vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn, cuộc sống dựa chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp nên tình trạng phát phá, lấn chiếm đất rừng để sản xuất nông nghiệp vẫn còn xảy ra.

Trồng cây dược liệu thảo quả dưới tán rừng đem lại nguồn kinh tế ổn định tại các địa phương trên địa bàn tỉnh Sơn La. Ảnh: Ngọc Vân
Sơn La có diện tích đất lâm nghiệp là 671.596ha, bao gồm 591.687ha rừng tự nhiên và 79.909ha rừng trồng. Sơn La đặt mục tiêu tỷ lệ che phủ rừng đạt ổn định 50%.
Vùng biên giới Sốp Cộp có diện tích rừng lớn với 6.693ha rừng đặc dụng, hơn 31.700ha rừng phòng hộ và gần 31.200ha rừng sản xuất. Để bảo vệ rừng, lực lượng kiểm lâm đã phối hợp với chính quyền địa phương và các bản tổ chức tuần tra, tuyên truyền pháp luật về lâm nghiệp. Tuy nhiên, tình trạng phát vén rừng vẫn xảy ra, buộc lực lượng chức năng phải tăng cường các biện pháp xử lý.
Hiện nay, nhiều tỉnh tập trung phát triển cây dược liệu trong rừng theo phương thức lâm, nông kết hợp, góp phần nâng cao thu nhập, ổn định đời sống cho người dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Thế nhưng, quy định hiện hành chỉ lồng ghép nội dung dược liệu vào ngành Lâm nghiệp hoặc y học cổ truyền mà chưa có hành lang pháp lý cụ thể cho lĩnh vực đặc thù này.
Theo TS. Phạm Quang Tuyến (Viện Nghiên cứu Lâm sinh thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam), phát triển dược liệu dưới tán rừng hiện gặp nhiều rào cản do thiếu chính sách đặc thù. Các văn bản pháp lý hiện hành chỉ lồng ghép nội dung dược liệu trong lĩnh vực lâm nghiệp hoặc y học cổ truyền, chưa có hành lang pháp lý riêng cho ngành này. Hệ quả là nhiều địa phương gặp khó khi xây dựng vùng nguyên liệu quy mô lớn, thiếu tiêu chuẩn kỹ thuật về khai thác bền vững và chưa thể thu hút doanh nghiệp đầu tư do không có cơ chế tín dụng, bảo hiểm rủi ro phù hợp.
Trong khi đó, nhu cầu dược liệu ngày càng tăng. Mỗi năm, Việt Nam tiêu thụ khoảng 80.000 tấn dược liệu nhưng mới đáp ứng được 20 – 30%. Phần còn lại chủ yếu nhập khẩu, trong đó không ít sản phẩm chất lượng kém hoặc không rõ nguồn gốc. Theo TS. Tuyến, nếu tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị bài bản, phát triển vùng trồng đạt chuẩn và tăng cường chế biến sâu, Việt Nam có thể tận dụng cơ hội lớn để thay đổi cục diện ngành dược liệu.
Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam Trần Văn Miều phân tích, những cảnh báo từ thực tiễn cho thấy: Độ che phủ có thể tăng, nhưng nếu chất lượng rừng suy giảm, “áo giáp xanh” của quốc gia sẽ chỉ dày lên trên giấy. Và khi thiên tai ập đến, cái giá phải trả sẽ không chỉ là những con số thống kê, mà là sinh kế, là an toàn và là sinh mệnh của hàng triệu người dân. Nếu chỉ chạy theo con số độ che phủ đơn thuần mà không tính đến chất lượng, chúng ta sẽ bỏ lỡ cơ hội thực sự trong thị trường tín chỉ carbon quốc tế.
Đã đến lúc chúng ta cần một cuộc đại phẫu về tư duy lâm nghiệp: Chuyển mạnh từ tư duy “tăng độ che phủ” sang “nâng cao chất lượng và chức năng sinh thái”. Bởi suy cho cùng, sinh mệnh của hệ sinh thái và sự an toàn của hàng triệu người dân phụ thuộc hoàn toàn vào sức khỏe thực chất của từng cánh rừng trên khắp dải đất hình chữ S.

Thông tin về chủ trương phát triển rừng, ông Trần Quang Bảo, Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết, rừng có vai trò đa chức năng. Ngoài giá trị bảo tồn và phòng hộ môi trường, rừng còn cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến gỗ và xuất khẩu. Những năm qua, trồng rừng sản xuất ở Việt Nam đã được nâng cao cả về quy mô và chất lượng, trong đó rừng trồng gỗ lớn ngày càng được chú trọng.



Rừng gỗ lớn mang lại nhiều lợi ích tổng hợp. Với chu kỳ trồng khoảng 10 năm, loại rừng này giúp nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm gỗ, từ đó tăng thu nhập cho người trồng rừng. Đồng thời, cây gỗ lớn có hệ rễ phát triển sâu, đan xen chặt chẽ, có thể kết hợp nhiều loài cây khác nhau, nên khả năng phòng hộ, bảo vệ môi trường và ổn định sinh thái cao hơn so với rừng trồng chu kỳ ngắn.
Phát triển rừng gỗ lớn là chủ trương đã được đưa vào chiến lược và các đề án tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp. Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm đang phối hợp, thúc đẩy các địa phương mở rộng diện tích rừng trồng gỗ lớn, hướng tới mục tiêu vừa nâng cao sinh kế cho người dân, vừa tăng cường vai trò phòng hộ, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Rừng gỗ lớn được phát triển theo hai hướng: trồng mới ngay từ đầu hoặc chuyển hóa rừng gỗ nhỏ bằng cách kéo dài chu kỳ khai thác và tăng đầu tư chăm sóc.
Với cách làm này, giá trị kinh tế của rừng có thể tăng gấp đôi, thậm chí cao hơn, đồng thời tạo nguồn nguyên liệu ổn định cho chuỗi chế biến gỗ trong nước. Quan trọng hơn, rừng gỗ lớn góp phần hạn chế những rủi ro môi trường phát sinh từ mô hình trồng rừng chu kỳ ngắn trên địa hình nhạy cảm - vốn dễ gây xói mòn, sạt lở.
Rừng gỗ lớn cho phép trồng đa tầng, đa tán, sử dụng các loài cây có giá trị sinh thái và kinh tế cao hơn, qua đó tăng khả năng phòng hộ và hỗ trợ, “song hành” với rừng tự nhiên trong bảo vệ môi trường.
“Một trong những việc quan trọng cần làm hiện nay là tạo lập quỹ đất đủ lớn để phát triển rừng trồng gỗ lớn theo quy mô tập trung, thay vì manh mún. Đồng thời, phải có cơ chế luân canh hợp lý để bảo đảm dòng thu nhập cho người dân trong suốt chu kỳ 10 năm.
Bên cạnh đó, các chính sách tín dụng, bảo hiểm rủi ro và ưu đãi đầu tư cần được hoàn thiện, cùng với vai trò chỉ đạo quyết liệt của chính quyền địa phương trong xây dựng vùng nguyên liệu và thu hút doanh nghiệp, để người dân yên tâm gắn bó lâu dài với rừng gỗ lớn”, ông Bảo nhấn mạnh.

Theo các chuyên gia, tiềm năng kinh tế từ rừng của Việt Nam được đánh giá là rất lớn. Để khuyến khích người dân tham gia phát triển sản xuất kinh tế rừng, cần phải có những giải pháp tháo gỡ vướng mắc và chính sách rõ ràng, từ đó gia tăng nguồn thu từ rừng, gắn với bảo vệ, phát triển rừng bền vững.
Tây Bắc - nơi cư trú của hơn 3.500 loài cây thuốc, chiếm tới 70% nguồn dược liệu cả nước, từ lâu được xem là thủ phủ dược liệu của Việt Nam. Các loài cây dược liệu quý hiếm như sâm Lai Châu, tam thất hoang hay bảy lá một hoa chỉ có thể sinh trưởng trong điều kiện sinh thái đặc biệt tại đây. Mô hình trồng dược liệu dưới tán rừng vì thế được đánh giá là giải pháp kinh tế - sinh thái độc đáo, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, đồng thời phát triển sinh kế bền vững cho người dân.


TS. Phạm Quang Tuyến đề xuất, cần sớm ban hành chính sách riêng cho dược liệu dưới tán rừng, đặc biệt ưu tiên các loài đặc hữu như sâm Lai Châu, tam thất hoang... gắn với quy hoạch ba loại rừng. Đồng thời, cần sửa đổi các quy định liên quan đến thương mại hóa dược liệu quý hiếm, tháo gỡ các vướng mắc về khai thác, vận chuyển và tiêu thụ hợp pháp. “Nếu có chính sách phù hợp và kịp thời, dược liệu dưới tán rừng không chỉ giúp người dân làm giàu mà còn là chìa khóa giữ rừng, đưa Việt Nam lên bản đồ dược liệu toàn cầu”, ông Tuyến nhấn mạnh.
Ở góc độ doanh nghiệp, bà Vũ Thị Vân Phượng, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần VietRAP Đầu tư Thương mại, chia sẻ: Cây dược liệu là cây đặc thù, cần quy trình canh tác nghiêm ngặt nên giai đoạn đầu xây dựng vùng nguyên liệu rất gian nan. VietRAP đã cử cán bộ “cắm bản”, tham gia sinh hoạt với bà con, lồng ghép yếu tố phụ nữ, thanh niên và bình đẳng giới vào hoạt động phát triển vùng trồng.
Lực lượng bảo vệ rừng Tây Giang, Đà Nẵng hướng dẫn, giám sát người dân phát dọn, đốt thực bì đúng quy định. Ảnh: Đăng Nguyên
Công ty ưu tiên phát triển các nhóm cây quý như thất diệp nhất chi hoa, tam thất, sâm và một số loại dược liệu ngắn ngày. Với chiến lược khởi đầu bằng cây dài ngày, sau đó chuyển sang ngắn ngày để duy trì lao động, chỉ sau ba năm, VietRAP đã phát triển được vùng trồng 60 ha tại Vân Hồ (Sơn La), trong đó 20 ha đã thu hoạch đến chu kỳ thứ tư. Về hiệu quả kinh tế, bà dẫn ví dụ với cây đinh mẫu vốn là cây mọc hoang, ít được chú ý, nay có thể thu hoạch sau 4,5 - 5 tháng trồng, mang lại thu nhập khoảng 160 triệu đồng/ha.

FSC là ba chữ cái viết tắt Forest Stewardship Council - tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận được thành lập năm 1993, thường được gọi là Hội đồng Quản lý rừng.
Chứng nhận FSC đảm bảo những yêu cầu nghiêm ngặt trong quá trình trồng, chăm sóc, đảm bảo việc khai thác gỗ có trách nhiệm, cân bằng giữa bảo vệ môi trường, quyền lợi của người lao động và cộng đồng dân cư; các sản phẩm từ rừng FSC có thể truy xuất nguồn gốc rõ ràng thông qua nhãn chứng nhận.

Tuyên Quang hiện có trên 84.000 ha rừng được cấp chứng chỉ FSC. Trong ảnh: Thăm, kiểm tra mô hình trồng rừng kinh tế ở xã Tân Trịnh. Ảnh: BTQ
Theo thống kê của tổ chức này, các sản phẩm lâm sản có chứng nhận FSC thường có giá trị kinh tế cao hơn từ 20 - 30% so với các sản phẩm cùng loại.
Theo chuyên gia Nguyễn Văn Chung (Công ty TNHH Tư vấn và Đào tạo Chất lượng Việt - đơn vị tư vấn kỹ thuật nhằm đảm bảo thuận lợi cho việc xuất nhập khẩu và kinh doanh hàng hóa có nguồn gốc lâm sản đáp ứng các quy định của FSC), cá nhân, doanh nghiệp, hợp tác xã hay tổ chức trồng rừng sẽ được nâng tầm nếu nhận được chứng nhận của FSC. Ngoài ra, đơn vị sản xuất- kinh doanh cũng có thể sử dụng chứng nhận FSC để truyền thông lan tỏa cho các sản phẩm của mình.
Bên cạnh đó, Chứng nhận FSC minh bạch trách nhiệm của các tổ chức trồng rừng lấy gỗ đối với xã hội và cuộc sống, giúp cải thiện sinh kế cho người dân trồng rừng và người lao động trong ngành.
Gia đình chị Nguyễn Thị Nhi ở xã Sơn Kim 1 (Hà Tĩnh) trồng cây keo tràm chỉ khoảng 5 năm là có thể thu hoạch để trồng lứa mới. Tuy nhiên, kể từ khi gia nhập Liên hiệp HTX Chứng chỉ rừng Tây Kim, chị đã thay đổi tập quán sản xuất từ trồng keo gỗ nhỏ sang gỗ lớn. Chu kỳ cây sinh trưởng dài ngày vừa mang lại lợi ích thiết thực về môi sinh, môi trường, vừa có giá trị kinh tế cao.
“Toàn bộ diện tích cây keo tràm được trồng theo tiêu chuẩn FSC sắp đến kỳ thu hoạch, dự kiến mang lại thu nhập khoảng 500 triệu đồng. So với trồng rừng gỗ nhỏ thì việc trồng rừng theo tiêu chuẩn FSC thời gian kéo dài hơn, nhưng hiệu quả kinh tế tăng 15- 20%. Bởi cây gỗ phát triển đồng đều, chất lượng, rõ nguồn gốc sẽ tạo ra những sản phẩm có giá trị xuất khẩu ở nhiều nước trên thế giới”, chị Nhi cho biết.
Tuy nhiên, có một bài toán đặt ra rằng trồng rừng gỗ lớn đòi hỏi chu kỳ đầu tư dài, chi phí lớn, trong khi nhiều cơ chế hiện nay chưa thực sự “thông suốt”.
Trao đổi về vấn đề này, Cục trưởng Trần Quang Bảo cho biết, muốn trồng rừng gỗ lớn bền vững, trước hết phải hình thành được quỹ đất đủ lớn thông qua các hình thức liên kết, hợp tác, cùng đầu tư và chia sẻ lợi ích. Khi tổ chức được sản xuất theo hướng luân canh hợp lý, năm nào cũng có trồng, năm nào cũng có khai thác, thì dòng thu nhập và đầu tư mới được duy trì liên tục.
Bên cạnh đó, chu kỳ dài cũng kéo theo rủi ro như cháy rừng, bão lũ, sâu bệnh. Nếu xảy ra sự cố, thiệt hại có thể rất lớn, thậm chí mất trắng. Vì vậy, cần có chính sách hỗ trợ tài chính và đặc biệt là bảo hiểm rủi ro đối với rừng trồng gỗ lớn.
Ngành Lâm nghiệp đã và đang đề xuất các chính sách hỗ trợ theo hình thức hậu đầu tư, đồng thời kiến nghị xây dựng cơ chế bảo hiểm rừng trồng. Các địa phương cũng cần có chính sách ưu đãi để doanh nghiệp liên kết với hộ dân, xây dựng vùng nguyên liệu ổn định và đồng hành lâu dài với người trồng rừng.

Thị trường carbon rừng tại Việt Nam đang nổi lên như một lĩnh vực đầy tiềm năng, hứa hẹn mang lại nguồn tài chính xanh đáng kể cho quốc gia.
Theo tính toán, tham gia bán tín chỉ carbon trên thị trường quốc tế có thể mang lại cho Việt Nam nguồn thu 1,9 tỷ USD, đóng góp 0,3% vào tăng trưởng GDP hàng năm.
Với nước ta, việc hình thành thị trường tín chỉ carbon không chỉ là yêu cầu từ các cam kết quốc tế, mà còn là cơ hội tạo nguồn lực cho phát triển kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực lâm nghiệp – ngành đang phát thải âm và sở hữu nguồn rừng lớn. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành lợi ích thực sự, các chuyên gia nhấn mạnh cần đồng bộ hành lang pháp lý, cơ chế tài chính và năng lực doanh nghiệp.

Thị trường carbon rộng mở trong ngành Lâm nghiệp.
Theo PGS.TS. Hoàng Văn Phụ, Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Kinh tế và Phát triển, “thị trường tín chỉ carbon chính là công cụ kinh tế quyết định khả năng thúc đẩy giảm phát thải khí nhà kính và ứng phó biến đổi khí hậu trong mô hình tăng trưởng xanh”.
Bản chất của thị trường này là việc mua bán quyền phát thải khí carbon theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”. Cơ chế này giúp phân bổ hiệu quả nguồn lực, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư công nghệ sạch, đồng thời tạo dòng tài chính mới cho các hoạt động giảm phát thải.
Theo ông Trần Quang Bảo: “Lâm nghiệp là lĩnh vực đang phát thải âm, có tiềm năng rất lớn để tham gia thị trường tín chỉ carbon”.
Năm 2024, Việt Nam nhận được khoản chi trả 51,5 triệu USD cho các kết quả giảm phát thải đã được xác minh ("tín chỉ carbon") do hạn chế được mất rừng và suy thoái rừng (thường được gọi là REDD+) và tăng cường lưu trữ carbon thông qua trồng và tái tạo rừng. Khoản thu về này do nước ta giảm được 10,3 triệu tấn phát thải carbon cho giai đoạn từ ngày 1/2/2018-31/12/2019; mang lại lợi ích cho 70.555 chủ rừng và 1.356 cộng đồng sống gần rừng. Đồng thời mở ra cơ hội cho các hoạt động chuyển đổi sản xuất xanh, khuyến khích bảo vệ, phát triển rừng, từ đó tăng độ che phủ.
Để thị trường tín chỉ carbon hoạt động minh bạch và hiệu quả, ông Trần Quang Bảo kiến nghị, cần hoàn thiện hành lang pháp lý cùng với đó nâng cao năng lực cho địa phương và chủ rừng. Tăng cường đào tạo, tập huấn về: đo đạc - báo cáo - thẩm định (MRV), phương pháp tính toán tín chỉ carbon, quản trị dự án giảm phát thải.
Phát triển hệ thống dữ liệu đồng bộ cũng được coi là giải pháp sớm đo đạc và tính toán được tín chỉ, Việt Nam cần sớm xây dựng cơ sở dữ liệu carbon rừng, hệ thống đo đạc - báo cáo - thẩm định đạt chuẩn quốc tế, kết nối dữ liệu giữa các bộ ngành.
Nguồn lực kỹ thuật và tài chính từ các tổ chức quốc tế sẽ giúp Việt Nam tăng tốc trong giai đoạn đầu vận hành thị trường carbon.
Nhiều chuyên gia đề xuất sandbox tín chỉ carbon - cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - để các mô hình mới được vận hành an toàn trước khi áp dụng rộng rãi. Đồng thời, Nhà nước nên khuyến khích tài chính xanh, kết nối doanh nghiệp với thị trường quốc tế, thúc đẩy ngân hàng phát triển các gói tín dụng carbon.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển bền vững ngày càng cao, rừng không chỉ là nguồn tài nguyên kinh tế mà còn là “lá chắn sinh thái” quan trọng đối với môi trường. Phát triển rừng bền vững không chỉ là việc bảo tồn cây xanh, mà còn là giải pháp cốt lõi để cân bằng hệ sinh thái, ứng phó với biến đổi khí hậu và đảm bảo sinh kế lâu dài cho con người cùng nhau “kiến tạo tương lai xanh”.