Nếu hình thành được vùng nguyên liệu ổn định, Điện Biên hoàn toàn có tiềm năng phát triển một nhà máy chế biến rau quả ngay tại địa phương. Đây cũng là nền tảng để tỉnh hiện thực hóa mục tiêu hình thành những vùng cây công nghiệp quy mô lớn, tạo sinh kế bền vững cho người dân miền núi.

Điện Biên đang quan tâm phát triển vùng sản xuất nông nghiệp tập trung quy mô lớn.
Tiềm năng phát triển một nhà máy chế biến rau quả
Điện Biên được đánh giá có nhiều điều kiện để hình thành các vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Những năm gần đây, tỉnh đã cơ cấu lại ngành Nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, xanh, thông minh và bền vững. Trọng tâm là phát triển vùng nguyên liệu gắn với chế biến, xây dựng thương hiệu, ứng dụng khoa học công nghệ và liên kết chuỗi giá trị nhằm gia tăng giá trị sản phẩm.
Đến nay, nhiều vùng sản xuất tập trung hình thành. Các sản phẩm chủ lực như cà phê, mắc ca, cao su, cây ăn quả và chăn nuôi đại gia súc tiếp tục mở rộng quy mô.
Theo ông Phạm Ngọc Thành, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Thực phẩm Xuất khẩu Đồng Giao (Doveco), với địa hình miền núi cùng sự đa dạng về tiểu vùng khí hậu, Điện Biên có thể phát triển nhiều loại cây ăn quả phù hợp với chế biến và xuất khẩu.
Ông Thành dẫn chứng, dứa là một trong hai loại trái cây được tiêu thụ nhiều nhất thế giới, có thị trường xuất khẩu rộng và khả năng chế biến đa dạng. Đây là loại cây dễ trồng, chịu hạn tốt, ít sâu bệnh. Thực tế tại Sơn La cho thấy, loại trái cây này đạt năng suất cao, và nếu áp dụng quy trình kỹ thuật của Doveco, chất lượng cũng như năng suất sẽ tiếp tục được nâng lên.
Đối với cây chanh leo, ông Thành đánh giá những khu vực có độ cao từ 700m trở lên của Điện Biên rất phù hợp để phát triển. Việt Nam hiện là quốc gia xuất khẩu chanh leo hàng đầu thế giới và có ảnh hưởng đến mặt bằng giá quốc tế.
“Doveco hoàn toàn có thể tổ chức thu mua, tiêu thụ sản phẩm cho người dân nếu Điện Biên phát triển vùng nguyên liệu dứa. Đồng thời, chúng tôi cũng hỗ trợ cung cấp giống, chuyển giao kỹ thuật và ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm. Doveco thu mua theo giá thị trường nhưng sẽ có giá sàn để bảo đảm lợi ích cho nông dân khi thị trường biến động", ông nhấn mạnh.
Bên cạnh cây ăn quả lâu năm, ông Thành cũng gợi ý Điện Biên tận dụng hơn 4.000 ha cánh đồng Mường Thanh, nơi có địa hình bằng phẳng và chủ động tưới tiêu, để chuyển đổi một phần diện tích sang sản xuất rau màu như ngô ngọt. Theo tính toán của doanh nghiệp, ngô ngọt chỉ mất khoảng 70 - 80 ngày mỗi vụ, có thể sản xuất 2-3 vụ mỗi năm, doanh thu đạt khoảng 100 triệu đồng/ha/vụ, với chi phí đầu tư khoảng 30 triệu đồng.
"Nếu hình thành được vùng nguyên liệu ổn định, Điện Biên hoàn toàn có tiềm năng phát triển một nhà máy chế biến rau quả ngay tại địa phương", Phó Tổng Giám đốc Doveco khẳng định.
Xây dựng vùng nguyên liệu chất lượng cao
Ông Lê Đức Huy, Phó Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH MTV Xuất nhập khẩu 2-9 Đắk Lắk (Simexco Daklak), đề xuất Điện Biên mạnh dạn đặt mục tiêu trở thành tỉnh đầu tiên của Việt Nam số hóa toàn diện ngành cà phê, coi đây là lợi thế cạnh tranh để xây dựng thương hiệu cà phê đặc sản.
Lần đầu đến Tây Bắc, ông Huy cho biết điều khiến ông ấn tượng nhất là dư địa phát triển của Điện Biên còn rất lớn. Theo ông, địa phương không chỉ sở hữu điều kiện tự nhiên phù hợp với cà phê Arabica mà còn có bản sắc văn hóa Tây Bắc đặc sắc, bề dày lịch sử và lợi thế kết nối khi chỉ cách Hà Nội chưa đầy một giờ bay.
“Nếu biết kết hợp cà phê với du lịch và văn hóa, Điện Biên hoàn toàn có thể trở thành điểm đến của những người yêu cà phê, giống như nhiều vùng cà phê nổi tiếng trên thế giới”, ông nói.
Theo ông Huy, Điện Biên có lợi thế của người đi sau nên hoàn toàn có thể đi nhanh hơn nếu lựa chọn đúng hướng. Điều quan trọng nhất là phải số hóa vùng trồng ngay từ khi mở rộng diện tích. Trong khi các địa phương như Đắk Lắk hay Lâm Đồng gặp nhiều khó khăn khi số hóa hàng trăm nghìn héc-ta cà phê, thì với quy mô chưa đến 20.000 ha, Điện Biên có cơ hội xây dựng đồng bộ cơ sở dữ liệu vùng trồng, tạo nền tảng cho truy xuất nguồn gốc và đáp ứng các yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường.

Arabica Điện Biên có nhiều cơ hội ở phân khúc cà phê đặc sản, nhất là với giống THA1 đã được các nhà rang xay quốc tế đánh giá cao.
“Tôi mong Điện Biên trở thành tỉnh số hóa ngành cà phê đầu tiên của Việt Nam. Chỉ riêng điều đó cũng đủ tạo nên một thương hiệu rất khác biệt”, ông nhấn mạnh.
Bên cạnh chuyển đổi số, ông Huy cho rằng chất lượng phải là yếu tố cốt lõi trong xây dựng thương hiệu. Chất lượng cần được kiểm soát từ vùng nguyên liệu đến chế biến và bảo quản. Nếu sản phẩm không đồng đều, chỉ cần một vài lô hàng không đạt tiêu chuẩn cũng có thể ảnh hưởng đến uy tín của cả vùng sản xuất.
Ông cũng lưu ý việc mở rộng diện tích cà phê cần gắn với quản lý chặt chẽ vùng trồng để đáp ứng Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR), đồng thời giảm rủi ro trong truy xuất nguồn gốc.
Về thị trường, ông Huy đánh giá Arabica Điện Biên có nhiều cơ hội ở phân khúc cà phê đặc sản, nhất là với giống THA1 đã được các nhà rang xay quốc tế đánh giá cao. Ngoài thị trường trong nước, Trung Quốc và châu Âu đều là những thị trường giàu tiềm năng nếu địa phương xây dựng được vùng nguyên liệu minh bạch, phát triển cà phê hữu cơ và giảm phát thải.
“Khi kiên định với chuyển đổi số, chú trọng chất lượng và phát triển cà phê gắn với văn hóa, du lịch, Điện Biên hoàn toàn có thể trở thành điểm đến để thế giới không chỉ thưởng thức cà phê Việt Nam mà còn khám phá văn hóa Việt Nam”, ông Huy kỳ vọng.
ThS Đinh Thị Tiếu Oanh, Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên đánh giá Điện Biên có nhiều điều kiện thuận lợi về khí hậu, thổ nhưỡng để phát triển cà phê. Định hướng mở rộng vùng trồng không chỉ góp phần đáp ứng mục tiêu kinh tế mà còn hướng tới xây dựng vùng nguyên liệu chất lượng cao.
Để nâng cao kỹ thuật sản xuất, cần tập trung cải tiến giống, từng bước chuyển đổi cơ cấu giống nhằm đa dạng hóa chủng loại, nâng cao khả năng chống chịu sâu bệnh. “Trước mắt, Tây Nguyên có thể hỗ trợ cung cấp nguồn giống đầu dòng, giống thuần chủng để Điện Biên chủ động quản lý, nhân giống, phân phối cho các địa phương, qua đó hình thành vùng nguyên liệu ổn định”, bà Oanh chia sẻ.
Đối với khâu canh tác, để phát triển bền vững, cần có sự tham gia của doanh nghiệp trong việc đầu tư các khu chế biến, tổ chức thu mua và sản xuất tập trung, đồng thời giải quyết bài toán nhân công trong giai đoạn thu hoạch.
Bên cạnh đó, kiến nghị thêm cho tỉnh Điện Biện, bà nhấn mạnh cần chú trọng đầu tư thâm canh, đặc biệt là quản lý dinh dưỡng hợp lý. Việc tập huấn kỹ thuật thâm canh cà phê cho người dân là yếu tố quan trọng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng.
Đồng thời, phát triển mô hình trồng xen, trong đó có cây mắc ca, là hướng đi phù hợp với điều kiện sản xuất hiện nay. Đây không chỉ giúp đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao giá trị trên cùng diện tích đất mà còn góp phần xây dựng hệ thống canh tác bền vững cho vùng cà phê Điện Biên.
Bà Oanh thông tin thêm mong muốn từ nhiều địa phương, số lần tưới nước cho cà phê giảm xuống khoảng 3-4 lượt/năm thông qua nghiên cứu cải tiến phương pháp tưới tập trung, tiết kiệm nước một cách đồng bộ.
Hình thành chuỗi sản xuất bền vững
Với mục tiêu mở rộng vùng cà phê Arabica lên 20.000 ha trong những năm tới, Điện Biên coi đây là một trong những trụ cột của quá trình chuyển đổi từ sản xuất nhỏ lẻ sang nền nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn, gắn chặt với khoa học, chế biến và thị trường xuất khẩu.
Theo ông Lê Xuân Cảnh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Điện Biên, nông nghiệp vẫn là ngành gắn trực tiếp với sinh kế của phần lớn người dân địa phương. Vì vậy, thay đổi cơ cấu cây trồng không chỉ nhằm tăng sản lượng mà quan trọng hơn là nâng giá trị trên cùng diện tích đất và tạo đầu ra ổn định cho người dân.
Điện Biên đang triển khai quyết liệt quá trình chuyển đổi này theo hướng không phát triển dàn trải mà tập trung vào một số cây trồng chủ lực có lợi thế cạnh tranh như cà phê Arabica, mắc ca và dứa. Các vùng sản xuất đều được định hướng phát triển theo quy mô lớn, gắn với doanh nghiệp thu mua và chế biến thay vì sản xuất manh mún như trước.

Năm 2026, Điện Biên đặt mục tiêu phát triển thêm 6.000ha mắc ca và 6.000ha cà phê.
Hiện, tỉnh có khoảng 12.000 ha mắc ca, đứng thứ hai cả nước sau Lâm Đồng; 8.500 ha cà phê Arabica, đứng thứ ba sau Sơn La và Lâm Đồng; cùng khoảng 1.200 ha dứa.
Riêng năm 2026, Điện Biên đặt mục tiêu phát triển thêm 6.000 ha mắc ca và 6.000 ha cà phê. Tuy nhiên, theo tính toán của địa phương, diện tích cà phê trồng mới có thể đạt tới khoảng 8.000 ha, tương đương tổng diện tích mở rộng của nhiều năm trước cộng lại. Xa hơn, tỉnh hướng tới mục tiêu 20.000 ha cà phê Arabica theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh.
Theo ông Cảnh, dư địa để thực hiện mục tiêu này còn rất lớn. Điện Biên hiện có khoảng 300.000 ha đất trống cùng nhiều diện tích trồng lúa, ngô và sắn có thể chuyển đổi sang các cây trồng có giá trị kinh tế cao hơn. Nếu xét riêng về quỹ đất có khả năng chuyển đổi, địa phương thuộc nhóm lớn nhất cả nước.
Tuy nhiên, ông cho rằng mở rộng diện tích chỉ là điều kiện cần. Điều quyết định là toàn bộ chuỗi giá trị phải được xây dựng đồng bộ, từ giống, quy trình kỹ thuật, chế biến đến thị trường tiêu thụ và các điều kiện phục vụ xuất khẩu như mã số vùng trồng hay chỉ dẫn địa lý. Đây cũng là lý do Điện Biên kỳ vọng nhiều hơn vào sự tham gia của các nhà khoa học trong giai đoạn phát triển mới.
Theo ông Cảnh, với các cây công nghiệp dài ngày như cà phê hay mắc ca, yếu tố giống đặc biệt quan trọng vì nếu lựa chọn sai, địa phương có thể phải mất hàng chục năm để khắc phục hậu quả. Việc Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Thông tư 12/2026/TT-BNNMT sửa đổi Thông tư 17/2019/TT-BNNPTNT, chỉ giữ lúa và ngô trong danh mục cây trồng chính, cũng tạo điều kiện để các địa phương chủ động hơn trong việc phát triển các giống cây trồng khác.
Điện Biên đang đặt nhiều kỳ vọng vào giống cà phê mới THA1 sau quá trình thử nghiệm tại huyện Tuần Giáo (cũ) từ năm 2024. Cùng với đó, tỉnh mong muốn có thêm các nghiên cứu về giống mắc ca phù hợp với điều kiện sinh thái địa phương.
Theo ông Cảnh, nhiều khuyến cáo hiện nay cho rằng mắc ca thích hợp ở độ cao trên 500m. Tuy nhiên, khoảng 20% diện tích đất của Điện Biên nằm dưới ngưỡng này. Vì vậy, địa phương mong muốn có thêm các nghiên cứu để xác định cụ thể khả năng sinh trưởng của cây mắc ca ở từng vùng, thay vì áp dụng chung một ngưỡng kỹ thuật.
Không chỉ giống, các giải pháp canh tác cũng cần được nghiên cứu riêng cho điều kiện thổ nhưỡng của Điện Biên. Địa phương đề xuất nghiên cứu mô hình trồng xen mắc ca với cà phê, cũng như đánh giá khả năng điều chỉnh mật độ trồng phù hợp thay vì áp dụng theo mức bình quân hiện nay (3.500 cây/ha).
Đối với cây dứa, tỉnh cũng kỳ vọng các giống mới như MD2 sẽ góp phần nâng cao năng suất và chất lượng, tạo thêm lựa chọn trong quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng.
Để phục vụ mục tiêu này, Điện Biên đề nghị Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) nghiên cứu khả năng đặt thêm một cơ sở của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc tại Điện Biên bên cạnh cơ sở hiện có ở Sơn La, nhằm tăng cường nghiên cứu và chuyển giao công nghệ ngay tại địa phương.
Đặt nhiều mục tiêu, lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường Điện Biên thừa nhận, mọi quy hoạch phát triển đều phải dựa trên tín hiệu thị trường. Theo ông Cảnh, so với khoảng 700.000 ha cà phê ở Tây Nguyên, quy mô sản xuất của Điện Biên hiện vẫn còn rất nhỏ. Tuy nhiên, khi diện tích Arabica tăng lên khoảng 20.000 ha, câu hỏi đặt ra là liệu thị trường có đủ sức hấp thụ hay không, nhất là đối với phân khúc cà phê Arabica chất lượng cao.
Đây là lý do địa phương cho rằng việc mở rộng diện tích phải đi cùng phát triển chế biến, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường xuất khẩu, thay vì chỉ tập trung vào sản xuất.
Một nút thắt khác là hạ tầng phục vụ xuất khẩu. Hiện, toàn tỉnh mới có 1-2 mã số vùng trồng, trong khi mục tiêu lâu dài là xây dựng vùng nguyên liệu có quy mô lên tới hàng chục nghìn ha đủ điều kiện xuất khẩu.
Theo ông Cảnh, khoảng cách giữa hiện trạng và mục tiêu vẫn còn rất lớn, đòi hỏi sự phối hợp giữa địa phương, doanh nghiệp và các cơ quan nghiên cứu để hoàn thiện toàn bộ chuỗi sản xuất, từ giống đến thị trường.
Nếu trước đây lợi thế lớn nhất của Điện Biên là quỹ đất, thì trong giai đoạn phát triển mới, lợi thế đó chỉ có thể được chuyển thành giá trị kinh tế khi đi cùng khoa học công nghệ, quy hoạch theo tín hiệu thị trường và hệ thống tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. Đây cũng là nền tảng để tỉnh hiện thực hóa mục tiêu hình thành những vùng cây công nghiệp quy mô lớn, tạo sinh kế bền vững cho người dân miền núi.
Sẵn sàng đồng hành đưa nông nghiệp Điện Biên "cất cánh"
PGS.TS Trần Minh Tiến, Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) khẳng định, Viện sẵn sàng đồng hành lâu dài cùng Điện Biên trong phát triển nông nghiệp, từ quy hoạch vùng sản xuất, chuyển giao giống cây trồng đến ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ.
Theo PGS.TS Trần Minh Tiến, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam hiện có 20 đơn vị thành viên với hơn 2.100 cán bộ, trong đó hơn 1.000 người có trình độ sau đại học. Đây là lực lượng nghiên cứu bao phủ hầu hết các lĩnh vực của ngành nông nghiệp như đánh giá đất đai, quy hoạch và phân vùng sản xuất, chọn tạo giống cây trồng, kỹ thuật canh tác, bảo vệ thực vật, thổ nhưỡng, phân bón, công nghệ sau thu hoạch và chế biến nông sản.

Chủ tịch Hội Làm vườn Việt Nam PGS.TS Lê Quốc Doanh (người bên trái) và các đại biểu thăm quan các gian giới thiệu sản phẩm tại Diễn đàn "Phát triển nông nghiệp bền vững gắn với chuyển đổi xanh và nâng cao chuỗi giá trị các sản phẩm chủ lực tại Điện Biên".
Hiện, Viện đang quản lý, chuyển giao và thương mại hóa 378 giống cây trồng cùng 478 quy trình kỹ thuật. Bên cạnh đó còn có 261 giống cây trồng mới đã hoàn thành nghiên cứu, đánh giá và sẵn sàng đưa vào sản xuất khi đủ điều kiện thương mại hóa.
“Đây là nguồn lực khoa học - công nghệ rất lớn mà Viện mong muốn được chuyển giao, phục vụ phát triển sản xuất tại các địa phương, trong đó có Điện Biên”, PGS.TS Trần Minh Tiến chia sẻ.
Ông đề xuất tỉnh Điện Biên sớm xây dựng thỏa thuận hợp tác với Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam để hai bên có cơ sở phối hợp lâu dài. Trên cơ sở đó, Viện sẽ rà soát toàn bộ các quy trình kỹ thuật, giống cây trồng phù hợp với điều kiện sản xuất của địa phương để ưu tiên chuyển giao thông qua các chương trình tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật và xây dựng mô hình thực tế.
Theo nhà khoa học, một trong những vấn đề Điện Biên đang quan tâm là phát triển vùng sản xuất nông nghiệp tập trung quy mô lớn. Đây cũng là lĩnh vực Viện có nhiều kinh nghiệm với các nghiên cứu về đánh giá chất lượng đất, phân vùng sinh thái, quy hoạch sản xuất và khai thác lợi thế tự nhiên của từng vùng.
“Dựa trên điều kiện đất đai, khí hậu, hạ tầng và khả năng tiếp cận thị trường, chúng tôi có thể cùng địa phương xây dựng những phương án sản xuất hiệu quả nhất. Sau khi xác định được vùng sản xuất, toàn bộ hệ thống của Viện sẽ tiếp tục hỗ trợ về giống cây trồng, quy trình kỹ thuật và các giải pháp khoa học phù hợp”, ông Tiến thông tin. “Chúng tôi cảm nhận được quyết tâm và khát vọng phát triển của tỉnh. Với trách nhiệm của những người làm khoa học nông nghiệp, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam không thể đứng ngoài quá trình đó và sẵn sàng cùng Điện Biên đưa các tiến bộ khoa học, công nghệ vào thực tiễn để tạo động lực cho nông nghiệp phát triển bền vững”./.
Nguồn: THANH TÂM/kinhtenongthon.vn