Trung tâm thực nghiệm, thực hành và chuyển giao công nghệ (Trường Đại học Tân Trào) sản xuất cây giống bằng phương pháp nuôi cấy mô.
Sản xuất có trách nhiệm
Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng đang dịch chuyển mạnh mẽ theo hướng xanh, tuần hoàn và số hóa, nông nghiệp công nghệ cao được xác định là nền tảng cốt lõi, tạo động lực chiến lược để Tuyên Quang bứt phá phát triển kinh tế xanh bền vững.
Nông nghiệp là trụ cột vững chắc của nền kinh tế, trong đó nguồn nguyên liệu sạch, xanh là tiền đề quyết định chiến lược phát triển kinh tế xanh. Khi đầu vào nông nghiệp được kiểm soát theo hướng sinh thái, tuần hoàn và không phát thải, địa phương sẽ tạo ra nguồn nông sản chất lượng cao cung cấp cho công nghiệp chế biến, giúp doanh nghiệp tự tin chinh phục các tiêu chuẩn khắt khe nhất.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, toàn tỉnh Tuyên Quang hiện có trên 100.000 ha cây trồng sản xuất theo tiêu chuẩn, trong đó có 96,5 nghìn ha rừng được cấp chứng chỉ FSC; 4.300 ha cây công nghiệp, cây trồng hàng sản xuất theo tiêu chuẩn VietGap, hữu cơ... cùng nhiều trang trại áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn, giảm phát thải. Nguồn nguyên liệu đạt chuẩn này không chỉ gia tăng giá trị kinh tế trực tiếp cho ngành nông nghiệp, mà còn kích thích công nghiệp phụ trợ, thương mại xanh cùng phát triển.
Đồng chí Nguyễn Xuân Hùng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường khẳng định: Ngành sẽ tiếp tục đồng hành cùng các địa phương xây dựng vùng sản xuất hàng hóa tập trung, trọng tâm là cây ăn quả hữu cơ, chăn nuôi và thủy sản sạch. Tỉnh đẩy mạnh hướng dẫn nông dân ứng dụng công nghệ mới, tuân thủ nghiêm ngặt quy chuẩn an toàn thực phẩm, ưu tiên sử dụng chế phẩm sinh học và hữu cơ thay thế hóa chất.
Chuỗi cung ứng nguyên liệu xanh này tạo hiệu ứng lan tỏa, định hình lối sống bền vững, thúc đẩy tiêu dùng xanh và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong toàn xã hội. Cùng với thu hút đầu tư, công tác đào tạo kỹ năng sản xuất bền vững và sử dụng tiết kiệm tài nguyên cho nông dân cũng được chú trọng củng cố từ gốc.
Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với tái cơ cấu theo hướng xanh, tuần hoàn và số hóa là định hướng chiến lược. Trong bối cảnh mới, nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò nền tảng sinh kế, trụ cột bảo vệ môi trường và động lực cốt lõi của nền kinh tế xanh.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, ngành Nông nghiệp và Môi trường đang tích cực tham mưu UBND tỉnh ban hành các chính sách hỗ trợ vốn, kỹ thuật và xúc tiến thương mại. Trọng tâm là xác lập hệ sinh thái nông nghiệp thông minh, bền vững; tạo điều kiện cho doanh nghiệp, hợp tác xã đẩy mạnh chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh cho nông sản địa phương.
Song song với đó, tỉnh định hướng xây dựng các khu vực sản xuất thông minh tích hợp logistics; đẩy mạnh ứng dụng IoT, AI, blockchain trong canh tác, giám sát môi trường và truy xuất nguồn gốc. Các mô hình “nông nghiệp số, nông nghiệp mở” cũng được khuyến khích nhằm kết nối chặt chẽ giữa nông dân, doanh nghiệp và viện nghiên cứu trong toàn chuỗi giá trị.
Chuyển đổi số hướng tới nền nông nghiệp xanh
Trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp ngày càng đặt ra yêu cầu cao về chất lượng nông sản, an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường, việc ứng dụng công nghệ được kỳ vọng góp phần hỗ trợ người dân kiểm soát tốt hơn quá trình sản xuất, sử dụng vật tư nông nghiệp hợp lý, nâng cao hiệu quả và giảm những tác động không cần thiết đến môi trường.
Mới đây, Trung tâm Khuyến nông thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk vừa tổ chức Lễ ra mắt Điểm tư vấn kỹ thuật, trưng bày, giới thiệu sản phẩm nông nghiệp, công nghệ và chuyển đổi số nông nghiệp vì sức khỏe cộng đồng và môi trường bền vững.

Mô hình sản xuất hồ tiêu bền vững trên địa bàn Đắk Lắk.
Ông Đinh Văn Đang, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Đắk Lắk cho biết, chuyển đổi số không chỉ là việc đưa công nghệ vào sản xuất mà quan trọng hơn là giúp thay đổi phương thức tổ chức sản xuất, nâng cao khả năng tiếp cận thông tin và hỗ trợ người dân đưa ra những quyết định phù hợp.
Theo ông Đinh Văn Đang, điểm tư vấn được ra mắt nhằm tạo không gian kết nối giữa cơ quan quản lý, cán bộ kỹ thuật, doanh nghiệp và người dân; qua đó hỗ trợ chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, tư vấn sản xuất và giới thiệu các giải pháp công nghệ phù hợp với thực tiễn.“Chuyển đổi số trong nông nghiệp phải hướng đến những giá trị thiết thực đối với người dân. Khi công nghệ được ứng dụng đúng cách, người sản xuất có thêm thông tin, kiến thức và giải pháp để nâng cao hiệu quả, kiểm soát tốt hơn quy trình sản xuất, hướng đến nông nghiệp an toàn, thân thiện với môi trường”, ông Đinh Văn Đang chia sẻ.
Từ góc độ sức khỏe và môi trường, việc thúc đẩy quy trình sản xuất an toàn, sử dụng hợp lý phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nước tưới và các nguồn tài nguyên được xem là một trong những yếu tố quan trọng góp phần giảm nguy cơ ô nhiễm đất, nước, không khí và hạn chế tác động đến sức khỏe con người.
Bên cạnh đó, việc số hóa thông tin sản xuất cũng có thể tạo điều kiện để truy xuất nguồn gốc, nâng cao tính minh bạch của sản phẩm, từ đó củng cố niềm tin của người tiêu dùng đối với nông sản.
Bà Đặng Thị Thủy, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk, khẳng định Trung tâm Khuyến nông là “cánh tay nối dài” không thể thiếu của ngành trong công tác chuyển giao khoa học kỹ thuật, đồng hành cùng người dân và thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp.
Theo bà Đặng Thị Thủy, để Điểm tư vấn hoạt động hiệu quả, mang lại những giá trị cụ thể cho người dân và doanh nghiệp, Trung tâm Khuyến nông cần tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm, trước hết là tư vấn đúng nhu cầu thực tế của người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp.
Thông điệp “Kết nối tri thức – Lan tỏa giá trị – Vì nền nông nghiệp bền vững” được kỳ vọng sẽ tiếp tục được cụ thể hóa bằng những hoạt động tư vấn, chuyển giao công nghệ và hỗ trợ thiết thực, góp phần đưa nông nghiệp Đắk Lắk phát triển theo hướng hài hòa giữa kinh tế, môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Doanh nghiệp phải dẫn dắt chuỗi giá trị nông nghiệp xanh
Tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026 (VPSF) – Vòng địa phương Quảng Trị, TS. Trần Tự Lực, Phó Giám đốc Phân hiệu Trường Đại học Tài chính - Marketing Huế, cho rằng dư địa lớn nhất của nông nghiệp Quảng Trị không chỉ nằm ở diện tích hay sản lượng, mà ở khả năng biến những lợi thế sẵn có thành các chuỗi giá trị xanh, có thương hiệu và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
Theo TS. Trần Tự Lực, nông nghiệp Quảng Trị đang đứng trước chuyển dịch quan trọng: từ mô hình chú trọng sản lượng sang mô hình hướng tới giá trị kinh tế, hiệu quả sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường và thích ứng khí hậu.
TS. Trần Tự Lực khẳng định, sản xuất nhỏ lẻ là một trong những điểm nghẽn lớn nhất. Quá trình chuyển đổi cần đi từ hộ sản xuất tới tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp và những quy mô lớn hơn, thay vì duy trì các mô hình manh mún. Cùng với đó là thiếu liên kết trong giao dịch và tiêu thụ.

Nông dân xã Bố Trạch chăm sóc cây dược liệu. Ảnh: X.Phú
Ông rằng cần chuyển sang các hợp đồng chuỗi, trong đó doanh nghiệp đóng vai trò dẫn dắt thị trường. Các tiêu chuẩn sản xuất cũng phải được chuẩn hóa, chứng nhận và truy xuất để bảo đảm tính đồng nhất của sản phẩm.
Một điểm nghẽn khác là chế biến còn hạn chế, nhiều sản phẩm vẫn chủ yếu bán dưới dạng nguyên liệu. Theo ông, cần tăng đầu tư chế biến sâu, logistics và đa dạng hóa sản phẩm. Đặc biệt, dữ liệu đang bị phân tán giữa các ngành, lĩnh vực và địa phương. “Ta hầu như có dữ liệu hết”, nhưng dữ liệu chưa được tích hợp thành một hệ thống đủ lớn để hỗ trợ hoạch định chính sách, quy hoạch hay quyết định đầu tư.
Từ đó, TS. Trần Tự Lực đề xuất xây dựng “Bản đồ nông nghiệp xanh tỉnh Quảng Trị”, tích hợp dữ liệu về đất đai, nước, cây trồng, rừng và vùng nguyên liệu. Khi kết hợp với dữ liệu khí hậu, sản lượng và rủi ro, hệ thống có thể hỗ trợ xác định vùng nào phù hợp với cây trồng nào, khu vực nào có nguy cơ và nơi nào có lợi thế để phân bổ nguồn lực.
Theo ông, chuỗi dữ liệu cần hướng tới một vòng khép kín: có dữ liệu, dự báo, quyết định đầu tư, kết nối thị trường và đo lường kết quả.
TS. Trần Tự Lực cũng cho rằng nông sản cần được gắn với trải nghiệm và câu chuyện thương hiệu. Du khách có thể đến vùng sản xuất, trải nghiệm quy trình làm ra sản phẩm, sử dụng sản phẩm và từ đó hình thành câu chuyện cho thương hiệu. Kiến trúc thương hiệu có thể đi từ thương hiệu địa phương, tới thương hiệu ngành hàng như cà phê Khe Sanh, hồ tiêu và cuối cùng là thương hiệu riêng của doanh nghiệp.
Về chính sách, ông đề xuất Quảng Trị chuyển từ hỗ trợ từng mô hình sang xây dựng các chuỗi giá trị mở, lựa chọn những ngành hàng có lợi thế để đầu tư trọng điểm theo từng giai đoạn. Mỗi chuỗi cần có vùng nguyên liệu, hợp tác xã, doanh nghiệp, tiêu chuẩn, chế biến, thị trường và tài chính cùng nằm trong một hệ thống.
Trong cấu trúc đó, doanh nghiệp được đặt ở vị trí hạt nhân thị trường, vừa tham gia chế biến, xây dựng tiêu chuẩn vừa bảo đảm đầu ra; hợp tác xã quản lý vùng nguyên liệu; nông dân tổ chức sản xuất xanh, hữu cơ; Nhà nước tạo thể chế và hạ tầng; các khâu logistics, chế biến và tài chính hoàn thiện chuỗi.
Mở thêm không gian cho kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp
Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 46/2026/QĐ-TTg về tiêu chí xác định dự án xanh, dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG). Đây được xem là cơ sở quan trọng để nhận diện, đánh giá và thúc đẩy các dự án theo hướng xanh, tuần hoàn và phát triển bền vững.
Theo đó, dự án xanh được xác định trên cơ sở các loại hình, mục tiêu và yêu cầu cụ thể được quy định trong hệ thống tiêu chí kèm theo Quyết định.
Đối với dự án tuần hoàn, các tiêu chí được phân thành những nhóm hoạt động chủ yếu như thiết kế, sản xuất tuần hoàn; sử dụng tuần hoàn; phục hồi tài nguyên; cộng sinh công nghiệp và liên kết tuần hoàn.
Cách tiếp cận này hướng tới việc giảm khai thác tài nguyên, nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên liệu, vật liệu và năng lượng; đồng thời thúc đẩy tái sử dụng, sửa chữa, tái chế và kéo dài vòng đời sản phẩm.
Một trong những nội dung đáng chú ý đối với lĩnh vực nông nghiệp là nhóm tiêu chí liên quan đến phục hồi tài nguyên và sử dụng sinh khối.
Các hoạt động thu gom, tái chế phụ phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và chất thải có thể được xem xét trong khuôn khổ dự án đáp ứng tiêu chí tuần hoàn khi đáp ứng các yêu cầu tương ứng.
Đây là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu phát triển nông nghiệp theo mô hình giảm chất thải – tái sử dụng tài nguyên – gia tăng giá trị, trong đó phụ phẩm từ quá trình sản xuất không chỉ được coi là chất thải cần xử lý mà còn có thể trở thành đầu vào cho các chuỗi sản xuất mới.
Việc phát triển các mô hình tận dụng phụ phẩm, sản xuất phân bón hữu cơ, năng lượng sinh khối, tái sử dụng nước và các nguồn tài nguyên trong nông nghiệp vì vậy có thêm cơ sở để tiếp cận theo hướng kinh tế tuần hoàn, khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chí theo quy định.
Quyết định 46/2026/QĐ-TTg đồng thời đưa khung tiêu chuẩn ESG vào quá trình thực hiện dự án.
Việc ban hành Quyết định 46/2026/QĐ-TTg đánh dấu bước hoàn thiện thêm khung tiêu chí phục vụ quá trình chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn.
Đối với nông nghiệp, vấn đề quan trọng không chỉ là gia tăng sản lượng mà ngày càng phải chú trọng hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm chất thải, bảo vệ môi trường và nâng cao giá trị của toàn bộ chuỗi sản xuất.
Trong bối cảnh đó, phát triển nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái và kinh tế tuần hoàn có sự giao thoa ngày càng rõ nét. Việc lượng hóa các tiêu chí xanh, tuần hoàn và ESG sẽ góp phần thúc đẩy doanh nghiệp chuyển từ cam kết sang hành động, từ sản xuất đơn tuyến sang các chuỗi giá trị có khả năng tái sử dụng tài nguyên và tạo giá trị bền vững.
Quyết định số 46/2026/QĐ-TTg được ban hành ngày 17/9/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/11/2026./.