Sáu tháng đầu năm 2026, xuất khẩu rau quả đạt khoảng 3,65 tỷ USD, tăng 17,8% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng, nhất là tại thị trường chủ lực Trung Quốc, nông dân và doanh nghiệp Việt cần thay đổi tư duy sản xuất từ “lượng” sang “chất”, tập trung chế biến sâu, đáp ứng các tiêu chuẩn sản phẩm xanh, sạch...
Dư địa lớn
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tổng giá trị xuất khẩu rau quả 6 tháng đầu năm đạt khoảng 3,65 tỷ USD, tăng tới 17,8% so với cùng kỳ năm trước.
Về cơ cấu thị trường, rau quả tiếp tục là điểm sáng với mức tăng trưởng hai con số. Sầu riêng vẫn giữ vai trò dẫn dắt nhờ lợi thế sản xuất nghịch vụ và việc mở rộng mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc. Các mặt hàng truyền thống như thanh long, chuối, xoài, dừa… vẫn duy trì thị trường ổn định.

Chuối là trái cây được phép xuất khẩu chính ngạch vào Trung Quốc.
Có thể khẳng định, Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu rau quả lớn nhất của Việt Nam khi chiếm tới 2/3 tổng kim ngạch (năm 2025 đạt khoảng 5,5 tỷ USD trên tổng số 8,56 tỷ USD).
Cùng với đó, việc hai nước ký kết thêm nhiều nghị định thư xuất khẩu chính ngạch đối với các mặt hàng như ớt, chanh leo, bưởi, mít... đang mở ra dư địa rất lớn.
Ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, cho rằng, có bốn xu hướng lớn đang định hình bức tranh nhập khẩu rau quả của đất nước tỷ dân này.
Thứ nhất, quy mô nhập khẩu tiếp tục tăng mạnh, trong đó nhóm trái cây nhiệt đới giữ vai trò chủ đạo. Mặc dù Trung Quốc không ngừng mở rộng diện tích và nâng cao sản lượng cây ăn quả trong nước, tốc độ gia tăng nhu cầu tiêu dùng vẫn vượt xa khả năng tự cung ứng. Ba mặt hàng có giá trị nhập khẩu lớn nhất lần lượt là sầu riêng với gần 7,5 tỷ USD, anh đào 3,43 tỷ USD và chuối 1,06 tỷ USD. Riêng mặt hàng chuối, Trung Quốc nhập khẩu 1,94 triệu tấn trong năm 2025; trong đó, Việt Nam hiện là nhà cung cấp lớn nhất với kim ngạch 398 triệu USD, tiếp theo là Philippines 320 triệu USD và Ecuador 210 triệu USD.
Thứ hai, nhu cầu đối với các sản phẩm đông lạnh và chế biến sâu đang tăng nhanh. Nếu trước đây người tiêu dùng Trung Quốc chủ yếu sử dụng trái cây tươi, thì hiện nay xu hướng tiêu dùng đã dịch chuyển sang các sản phẩm có thời gian bảo quản dài hơn, thuận tiện hơn cho vận chuyển và phân phối. Ngoài ra, các sản phẩm như nước ép, trái cây sấy và nông sản chế biến sâu cũng ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nhập khẩu.
Thứ ba, Trung Quốc đang siết chặt các hàng rào kỹ thuật và thúc đẩy quá trình chính ngạch hóa hoạt động nhập khẩu. Đây là thay đổi có tính nền tảng, buộc các quốc gia xuất khẩu phải thay đổi phương thức sản xuất và quản lý chất lượng. Đặc biệt, các tiêu chuẩn về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng và kiểm dịch thực vật cũng được siết chặt, tiệm cận các thị trường khó tính như Hoa Kỳ và EU. Việc tăng cường hậu kiểm và chuẩn hóa hồ sơ đối với hàng nghìn mặt hàng nông sản cho thấy Trung Quốc đang từng bước loại bỏ phương thức xuất khẩu tiểu ngạch và hướng tới hoạt động thương mại chính ngạch minh bạch, bền vững hơn.
Thứ tư, bản đồ thị phần giữa các quốc gia cung ứng đang thay đổi. Thái Lan vẫn giữ vị trí dẫn đầu về giá trị xuất khẩu nhờ lợi thế tích lũy trong nhiều năm, tuy nhiên, cạnh tranh ngày càng quyết liệt với các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Nhờ lợi thế địa lý, chi phí logistics thấp cùng việc ký kết nhiều Nghị định thư xuất khẩu đối với các mặt hàng như sầu riêng tươi, sầu riêng đông lạnh, dừa tươi…, Việt Nam đã vượt Chile, trở thành nhà cung cấp rau quả lớn thứ hai cho Trung Quốc.
Nâng cao chất lượng, tập trung chế biến sâu
Trên thực tế, người tiêu dùng Trung Quốc ngày càng chú trọng đến an toàn sức khỏe và chất lượng sản phẩm hướng tới sự chuẩn hóa toàn diện. Do vậy, doanh nghiệp xuất khẩu buộc phải đầu tư vào bao bì, mẫu mã, mã số vùng trồng/cơ sở đóng gói và truy xuất nguồn gốc.
Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) Vũ Bá Phú nhấn mạnh: Hệ thống phân phối tại Trung Quốc đang dịch chuyển mạnh từ các chợ đầu mối truyền thống sang chuỗi bán lẻ hiện đại và thương mại điện tử. Xu hướng này đòi hỏi khắt khe hơn về quy cách đóng gói, chất lượng đồng đều, truy xuất nguồn gốc và năng lực logistics giao hàng nhanh.
Từ nay đến cuối năm 2026, Trung Quốc vẫn được đánh giá là thị trường xuất khẩu rau quả giàu tiềm năng đối với Việt Nam. Triển vọng tăng trưởng sẽ phụ thuộc vào khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn GAP, kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, truy xuất nguồn gốc và minh bạch hóa quy trình đóng gói của doanh nghiệp xuất khẩu.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Đinh Cao Khuê, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao (DOVECO), cho rằng, dư địa tăng trưởng lớn nhất trong những năm tới có thể không nằm ở trái cây tươi mà ở các sản phẩm chế biến sâu có giá trị gia tăng cao hơn.
Đưa ra phân tích cho vấn đề này, ông Khuê cho biết, do sự gia tăng nhanh của tầng lớp trung lưu, ngành thực phẩm - đồ uống và hệ thống bán lẻ hiện đại tại Trung Quốc đang làm thay đổi nhu cầu thị trường. Thay vì chỉ nhập khẩu trái cây tươi, các doanh nghiệp Trung Quốc ngày càng có nhu cầu lớn đối với nước quả cô đặc, nước ép, puree trái cây, rau quả đông lạnh, đồ hộp và nguyên liệu phục vụ ngành công nghiệp thực phẩm. Đây là những phân khúc có giá trị gia tăng cao, ít phụ thuộc mùa vụ và có khả năng tiêu thụ ổn định hơn.
Theo lãnh đạo DOVECO, chế biến sâu còn giúp giải quyết nhiều điểm nghẽn kéo dài của ngành rau quả như áp lực tiêu thụ khi thu hoạch tập trung, tình trạng được mùa mất giá, tổn thất sau thu hoạch và chi phí logistics.
Một tấn trái cây khi được chế biến thành nước quả cô đặc, sản phẩm đông lạnh hay đồ hộp có thể tạo ra giá trị kinh tế cao hơn đáng kể so với xuất khẩu nguyên liệu thô.
“Giai đoạn hợp tác tiếp theo giữa hai nước không nên chỉ dừng ở xuất khẩu nông sản tươi mà cần mở rộng sang liên kết vùng nguyên liệu, đầu tư chế biến, phát triển kho lạnh, logistics và hệ thống phân phối. Khi đó, nông sản Việt Nam không chỉ bán được nhiều hơn mà còn giữ lại được phần giá trị lớn hơn trong chuỗi cung ứng”, ông Khuê nói.
Ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết: Trung Quốc đang siết chặt quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và các yêu cầu về kiểm dịch thực vật. Do đó, đây là thời điểm ngành rau quả phải chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa trên sản lượng sang dựa trên chất lượng, giá trị và phát thải thấp.
Đối với thị trường Trung Quốc, định hướng không chỉ dừng ở xuất khẩu sản phẩm tươi mà cần đẩy mạnh chế biến, chế biến sâu, phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn, tăng cường truy xuất nguồn gốc và hoàn thiện hệ thống logistics.
“Ngành rau quả Việt Nam cần chuyển từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế nông nghiệp. Từ xuất khẩu những gì chúng ta có sang sản xuất những gì thị trường cần. Chỉ khi đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng, minh bạch và phát triển bền vững, rau quả Việt Nam mới có thể nâng cao giá trị và mở rộng thị phần trên thị trường quốc tế”, ông Mạnh nhấn mạnh./.
Nguồn: THANH XUÂN/kinhtenongthon.vn